Bước tới nội dung

Brighton & Hove Albion F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Brighton & Hove Albion FC)
Brighton & Hove Albion
Tập tin:Brighton & Hove Albion logo.svg
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Brighton & Hove Albion
Biệt danh
  • The Albion
  • The Seagulls
Tên ngắn gọnBrighton
Thành lập24 tháng 6 năm 1901; 125 năm trước (1901-06-24)
SânSân vận động Falmer
Sức chứa31.876[1]
Chủ sở hữuTony Bloom
Chủ tịch điều hànhTony Bloom
Huấn luyện viên trưởngFabian Hürzeler
Giải đấuPremier League
2025–26Premier League, thứ 8 trên 20
Websitebrightonandhovealbion.com
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Brighton & Hove Albion, thường được gọi đơn giản là Brighton, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Brighton and Hove, Đông Sussex, Anh. Câu lạc bộ thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Sân nhà của đội là Sân vận động từ năm 2011, sau khi từng chơi ở Goldstone Ground trong phần lớn thế kỉ 20.

Được thành lập vào năm 1901, Brighton thi đấu bóng đá chuyên nghiệp trong giai đoạn đầu tại Southern League. Sau đó, đội được bầu vào Football League vào năm 1920. Trong giai đoạn từ năm 1979 tới năm 1983, đội chơi tại First Division, đồng thời vào tới chung kết Cúp FA 1983, nơi họ thua Manchester United sau trận đá lại.[2] Brighton cũng bị xuống hạng khỏi First Division ngay trong chính mùa giải đó.

Tới cuối thập niên 1990, Brighton đã rơi xuống hạng Tư của bóng đá Anh và gặp khó khăn tài chính. Sau khi chỉ vừa đủ tránh được việc xuống hạng khỏi Football League xuống Conference vào năm 1997, một cuộc tiếp quản ở thượng tầng đã cứu câu lạc bộ khỏi nguy cơ bị thanh lí. Hai lần thăng hạng liên tiếp vào các năm 2001 và 2002 đưa Brighton trở lại hạng Hai, và tới năm 2011, câu lạc bộ chuyển vào Falmer Stadium sau 14 năm không có sân nhà cố định. Ở mùa giải 2016-17, Brighton kết thúc ở vị trí thứ hai tại EFL Championship và nhờ đó giành quyền thăng hạng lên Premier League, chấm dứt 34 năm vắng bóng ở hạng đấu cao nhất. Trong mùa giải 2022-23, Brighton đứng thứ sáu tại Premier League, thành tích cao nhất của đội ở hạng đấu cao nhất trong lịch sử, đồng thời giành quyền tham dự UEFA Europa League; lần đầu tiên câu lạc bộ góp mặt ở đấu trường châu Âu cấp câu lạc bộ.

Brighton có biệt danh là the Seagulls và trong phần lớn lịch sử của mình, đội sử dụng áo sọc xanh-trắng. Mối kình địch dữ dội và lâu đời nhất của câu lạc bộ là với Crystal Palace, được hình thành từ thập niên 1970 vì những lí do cạnh tranh.

Lịch sử

Thành lập và những năm đầu (1901-1972)

Brighton & Hove Albion F.C. được thành lập vào năm 1901, và 19 năm sau, vào năm 1920, đội được bầu vào Football LeagueThird Division mới — trước đó họ từng là thành viên của Southern League. Tại Southern League, đội giành được danh hiệu cấp quốc gia duy nhất tính tới nay là FA Charity Shield, giải đấu khi đó diễn ra giữa đội vô địch Southern League và đội vô địch Football League, bằng chiến thắng trước nhà vô địch Football League là Aston Villa vào năm 1910.[3] Sau khi chuyển sang giải Third Division South mang tính khu vực vào năm 1921, Brighton trụ lại ở hạng đấu này cho tới mùa giải 1957-58, khi đội vô địch và đồng thời giành quyền thăng hạng lên Second Division, đúng vào thời điểm các giải North và South mang tính khu vực được hợp nhất thành Third Division và Fourth Division trên quy mô toàn quốc cho mùa giải 1958-59. Albion duy trì vị thế ở hạng Hai cho tới khi xuống hạng vào năm 1962, rồi tiếp tục xuống hạng thêm một lần nữa vào năm 1963, qua đó lần đầu tiên rơi xuống Fourth Division. Đội vô địch Fourth Division ở mùa giải 1964-65 và ở lại Third Division cho tới năm 1972, khi về nhì và giành quyền thăng hạng trở lại Second Division.

Những năm của Mike Bamber (1972-1987)

Mike Bamber là chủ tịch của Brighton từ tháng 10 năm 1972 tới năm 1983. Ông nổi tiếng khi đưa Brian Clough tới câu lạc bộ vào năm 1973, rồi sau đó bổ nhiệm cựu tuyển thủ Anh Alan Mullery làm huấn luyện viên. Cuộc sống của Brighton với tư cách một câu lạc bộ thuộc Football League trước đó hầu như không mang lại nhiều thành công hay sự chú ý, cho tới năm 1979, khi dưới sự dẫn dắt của Mullery, đội giành quyền thăng hạng lên First Division với tư cách á quân Second Division. Mùa giải 1982-83 chứng kiến một khởi đầu thiếu ổn định của câu lạc bộ, với những chiến thắng trước ArsenalManchester United xen lẫn các thất bại nặng nề. Huấn luyện viên Mike Bailey cuối cùng mất việc vào đầu tháng 12 năm 1982. Jimmy Melia lên thay nhưng không thể xoay chuyển tình thế, và Brighton, sau bốn mùa giải ở hạng đấu cao nhất, đã xuống hạng năm 1983, đứng cuối bảng.

Bất chấp việc xuống hạng, Brighton trong mùa giải đó đã vào tới trận Cúp FA chung kết đầu tiên trong lịch sử và hòa 2-2 với Manchester United ở trận đầu tiên. Các bàn thắng của Brighton được ghi bởi Gordon SmithGary Stevens. Trận chung kết có pha bỏ lỡ khét tiếng của Gordon Smith ở cú đá cuối cùng của hiệp phụ, khiến bình luận viên Peter Jones của BBC thốt lên câu nói nổi tiếng: "...and Smith must score". Cú dứt điểm của Smith đã bị thủ môn Gary Bailey bên phía Manchester United cản phá. Ở trận đá lại, Manchester United thắng 4-0.

Xuống hạng, những năm cuối cùng, và được Knight cứu sống (1987-1997)

Tập tin:Dick Knight - Falmer opening.jpg
Cựu chủ tịch Brighton Dick Knight, người cuối cùng đã cứu câu lạc bộ

Sau bốn mùa giải, Brighton xuống hạng xuống Division Three vào năm 1987, nhưng đã thăng hạng trở lại ngay ở mùa giải kế tiếp. Năm 1991, đội thua Notts County 1-3 trong trận chung kết play-off tại Wembley, rồi bị xuống hạng ở mùa giải sau đó xuống Division Two, tên gọi mới của hạng đấu. Năm 1996, đội tiếp tục xuống hạng xuống Division Three. Tình hình tài chính của câu lạc bộ lúc này trở nên ngày càng bấp bênh, và các giám đốc quyết định rằng Goldstone Ground phải bị bán đi để trả bớt một phần các khoản nợ lớn của câu lạc bộ. Huấn luyện viên Jimmy Case bị sa thải sau khi khởi đầu rất tệ ở mùa giải 1996-97 khiến Brighton bị bỏ lại ở đáy bảng với khoảng cách lớn. Ban lãnh đạo câu lạc bộ bổ nhiệm Steve Gritt, cựu đồng huấn luyện viên của Charlton Athletic, làm huấn luyện viên — Gritt là một nhân vật tương đối ít tên tuổi. Thành tích tại giải của Brighton cải thiện đều đặn dưới thời Gritt, dù cơ hội trụ hạng được cải thiện ấy lại tiếp tục bị đe dọa bởi án phạt trừ hai điểm từ Football Association, áp dụng như hình phạt cho một vụ khán giả tràn xuống sân để phản đối việc bán Goldstone Ground. Một cổ động viên suốt đời của câu lạc bộ là Dick Knight nắm quyền kiểm soát Brighton vào năm 1997 sau khi dẫn đầu áp lực từ người hâm mộ nhằm lật đổ ban lãnh đạo trước đó בעקבות việc họ bán Goldstone Ground cho các nhà phát triển bất động sản.[4]

Ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải, sau khi từng kém nhóm an toàn tới 13 điểm ở một thời điểm, Brighton đã thoát khỏi đáy bảng và phải đối đầu trực tiếp với đội đứng ngay dưới họ là Hereford United để tránh xuống hạng khỏi Football League. Nếu Brighton thắng hoặc hòa, họ sẽ trụ hạng. Hậu vệ Kerry Mayo của Brighton phản lưới nhà trong hiệp một, và dường như hành trình 77 năm của Brighton ở giải đấu đã chấm dứt. Tuy nhiên, bàn gỡ muộn của Robbie Reinelt đã giúp Brighton giữ lại vị thế của mình tại giải đấu nhờ số bàn thắng ghi được nhiều hơn (dù Hereford có hiệu số bàn thắng bại tốt hơn, nhưng trong Football League thời điểm đó, số bàn thắng ghi được được ưu tiên hơn), và chuỗi 25 năm của Hereford ở giải đấu thay vào đó đã kết thúc.

Thời kì Withdean và thương vụ tiếp quản của Bloom (1997-2011)

Việc bán Goldstone Ground được hoàn tất vào năm 1997, khiến Brighton phải chơi các trận sân nhà cách đó khoảng 70 dặm tại sân Priestfield của Gillingham trong hai mùa giải. Micky Adams được bổ nhiệm làm huấn luyện viên Brighton vào năm 1999. Trước khi bắt đầu mùa giải 1999-2000, the Seagulls có được hợp đồng thuê để chơi các trận sân nhà tại Withdean Stadium, một sân điền kinh cải tạo tại Brighton thuộc sở hữu của chính quyền địa phương.

Mùa giải 2000-01 là mùa giải thành công đầu tiên của Brighton sau 13 năm. Đội vô địch Division Three và thăng hạng lên Division Two. Adams rời câu lạc bộ vào tháng 10 năm 2001 để làm trợ lí cho Dave Bassett tại Leicester City, và được thay thế bởi cựu huấn luyện viên Leicester là Peter Taylor. Sự chuyển giao này mang lại tác động tích cực cho Brighton, khi đội duy trì được phong độ tốt và kết thúc mùa giải với chức vô địch Division Two, qua đó giành lần thăng hạng thứ hai liên tiếp. Chỉ năm năm sau khi gần như chịu chung mối đe dọa kép là mất vị thế trong Football League và phá sản, Brighton đã chỉ còn cách Premier League đúng một hạng đấu.

Vào tháng 5 năm 2009, Knight được thay thế trên cương vị chủ tịch Brighton bởi Tony Bloom, người đã thành công trong việc đảm bảo gói tài trợ 93 triệu bảng cho sân vận động mới Falmer Stadium và nắm 75% cổ phần của câu lạc bộ.[5]

Mùa giải cuối cùng của Brighton tại Withdean là 2010-11, mùa giải mà đội vô địch League One dưới sự dẫn dắt của Gus Poyet. Ở mùa giải tiếp theo, Brighton thay đổi huy hiệu của mình sang một thiết kế tương tự huy hiệu được dùng từ thập niên 1970 tới thập niên 1990. Điều này nhằm phản ánh việc câu lạc bộ trở về nhà sau quãng thời gian không có sân vận động riêng kể từ năm 1997.

Chuyển tới sân vận động mới và thăng hạng dưới thời Hughton (2011-2017)

Falmer Stadium tổ chức trận đấu tại giải đầu tiên vào ngày khai màn mùa giải 2011-12, gặp Doncaster Rovers, cũng chính là đối thủ cuối cùng từng chơi tại Goldstone Ground năm 1997. Trận đấu kết thúc với chiến thắng 2-1 cho Brighton. Mùa giải 2012-13 chứng kiến Brighton đứng thứ tư và thua Crystal Palace ở bán kết play-off. Poyet bị đình chỉ công tác huấn luyện sau những bình luận gây tranh cãi trong cuộc phỏng vấn sau trận,[6] sau đó bị sa thải và được thay bằng Óscar García.

Ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải 2013-14, Brighton đánh bại Nottingham Forest 2-1 với bàn thắng ở phút cuối của Leonardo Ulloa để giành vị trí thứ sáu. Sau khi thua Derby County ở bán kết play-off, García từ chức. Sami Hyypiä được bổ nhiệm làm huấn luyện viên cho mùa giải 2014-15 nhưng từ chức chỉ sau bốn tháng vì chuỗi kết quả nghèo nàn, và được thay thế bởi Chris Hughton. Ở chiến dịch sau đó, Brighton lại đua tranh suất thăng hạng, được tiếp sức bởi chuỗi 21 trận bất bại từ ngày khai màn tới ngày 19 tháng 12. Ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải, Brighton hành quân tới sân Middlesbrough với yêu cầu buộc phải thắng để giành quyền thăng hạng lên Premier League, nhưng trận hòa 1-1 khiến đội chỉ xếp thứ ba và phải dự play-off, nơi thất bại trước Sheffield Wednesday là lần thứ ba Brighton thua ở bán kết play-off trong bốn mùa giải. Tiền vệ Beram Kayal, người gia nhập đội từ Celtic vào tháng 1 năm 2015, được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải 2015-16 của câu lạc bộ, đồng thời góp phần vào cuộc đua thăng hạng của Brighton và sau đó là các chiến dịch trụ hạng tại Premier League.[7]

Brighton khởi đầu mùa giải 2016-17 với chuỗi 18 trận bất bại, đưa đội lên đầu bảng trong phần lớn tháng 12 và tháng 1. Đội ở trong nhóm thăng hạng trực tiếp trong phần lớn thời gian còn lại của mùa giải, và chính thức giành quyền thăng hạng lên Premier League sau chiến thắng 2-1 trên sân nhà trước Wigan Athletic vào ngày 17 tháng 4 năm 2017.[8]

Trở lại hạng đấu cao nhất (2017-nay)

Mùa giải đầu tiên của Brighton tại Premier League nhìn chung là một mùa giải thành công, khi câu lạc bộ nhiều lần vươn lên nửa trên bảng xếp hạng trong mùa bóng. Sau khi chỉ hơn nhóm xuống hạng một điểm vào tháng 1, những chiến thắng trước Arsenal và Manchester United trong những tháng cuối của chiến dịch đã giúp đội bảo đảm vị trí thứ 15.

Câu lạc bộ trải qua mùa giải thứ hai đầy khó khăn ở hạng đấu cao nhất, chỉ vừa đủ tránh xuống hạng với vị trí thứ 17. Tại Cúp FA, Brighton vào tới vòng bán kết lần đầu tiên מאז năm 1983, nhưng thua 0-1 trước Manchester City. Hughton bị sa thải sau khi mùa giải khép lại vì chuỗi kết quả nghèo nàn.[9]

Sau khi Hughton bị sa thải, huấn luyện viên Swansea CityGraham Potter được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới theo bản hợp đồng có thời hạn bốn năm.[10] Potter gia hạn hợp đồng thêm hai năm vào tháng 11 năm 2019.[11] Từ tháng 3 tới tháng 6 năm 2020, mùa giải bị tạm dừng vì đại dịch COVID-19.[12] Brighton lần lượt kết thúc ở các vị trí thứ 15 và thứ 16 trong hai mùa giải đầu tiên của Potter, đồng thời bảo đảm mùa giải thứ năm liên tiếp tại Premier League vào tháng 5 năm 2021, qua đó giúp giai đoạn hiện tại của họ ở hạng đấu cao nhất vượt qua quãng thời gian trước đó từ năm 1979 tới năm 1983.[13]

Mùa giải 2021-22 của câu lạc bộ khép lại với vị trí thứ chín tại Premier League, thứ hạng cao nhất mà Brighton từng đạt được ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh, cùng số điểm kỉ lục là 51 điểm.[14] Vào tháng 9 năm 2022, Potter rời câu lạc bộ để trở thành huấn luyện viên trưởng của Chelsea, sau khi Thomas Tuchel bị sa thải.[15]

Ngày 18 tháng 9 năm 2022, Brighton công bố Roberto De Zerbi là huấn luyện viên trưởng mới của câu lạc bộ.[16] Mùa giải bị tạm dừng vì 2022 FIFA World Cup, giải đấu mà tiền vệ Alexis Mac Allister của Brighton đóng vai trò quan trọng trong chức vô địch của Argentina, bao gồm cả việc đá chính và kiến tạo trong trận chung kết. Brighton vào tới trận bán kết Cúp FA thứ hai trong vòng bốn mùa giải, nhưng thua Manchester United trên chấm luân lưu sau trận hòa 0-0.[17] Ngày 21 tháng 5 năm 2023, Brighton giành quyền dự cúp châu Âu lần đầu tiên trong lịch sử sau chiến thắng 3-1 trước Southampton.[18] Ba ngày sau, sau trận hòa 1-1 với Manchester City, Brighton chính thức giành quyền vào vòng bảng 2023-24 UEFA Europa League.[19] Brighton kết thúc mùa giải ở vị trí thứ sáu với số điểm kỉ lục là 62 điểm.

Ngày 14 tháng 12 năm 2023, Brighton đứng đầu bảng đấu tại UEFA Europa League và giành quyền vào vòng 16 đội sau chiến thắng 1-0 trước Marseille.[20] Brighton sau đó bị loại ở vòng 16 đội bởi Roma với tổng tỉ số 1-4 vào ngày 14 tháng 3 năm 2024.[21] Ngày 18 tháng 5 năm 2024, Brighton và De Zerbi đi đến thỏa thuận chấm dứt hợp đồng vào cuối mùa giải 2023-24, khi Brighton rơi xuống vị trí thứ 11 ở vòng đấu cuối với 48 điểm, bị đối thủ truyền kiếp Crystal Palace vượt qua về hiệu số bàn thắng bại sau khi đã xếp trên trong suốt cả mùa giải.[22]

Vào tháng 6 năm 2024, De Zerbi được thay thế bởi Fabian Hürzeler, người trở thành huấn luyện viên chính thức trẻ nhất trong lịch sử Premier League ở tuổi 31.[23] Hürzeler từng là huấn luyện viên của FC St. Pauli, nơi ông đưa đội bóng này trở lại hạng đấu cao nhất của bóng đá Đức sau 13 năm vắng mặt.[24] Trận chính thức đầu tiên của ông trên cương vị huấn luyện viên Brighton diễn ra vào ngày 17 tháng 8 năm 2024, gặp Everton. Brighton thắng trận này với tỉ số 3-0. Hürzeler giành giải Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng của Premier League cho tháng 8 năm 2024 sau khởi đầu bất bại ở mùa giải.[25][26] Brighton kết thúc mùa giải 2024-25 ở vị trí thứ tám.[27]

Sân vận động

Goldstone Ground

Tập tin:Goldstone Ground - geograph-1220106.jpg
Goldstone Ground (1902-1997)

Trong 95 năm, Brighton and Hove Albion đặt đại bản doanh tại Goldstone GroundHove, cho tới khi ban giám đốc quyết định bán sân vận động này. Việc bán sân, do cổ đông lớn nhất Bill Archer và giám đốc điều hành David Bellotti thực hiện, đã gây tranh cãi lớn, và động thái này châm ngòi cho các cuộc phản đối rộng khắp nhắm vào ban lãnh đạo. Câu lạc bộ hầu như không nhận được, hoặc nhận được rất ít, tiền từ thương vụ này.[28]

Ở mùa giải cuối cùng tại Goldstone, 1996-97, the Seagulls đứng trước nguy cơ xuống hạng khỏi Football League. Họ thắng trận cuối cùng trên sân Goldstone trước Doncaster Rovers,[29] qua đó dẫn tới trận “đội thắng giành tất cả” trong cuộc chiến trụ hạng với Hereford United, đội bằng điểm với the Seagulls. Brighton hòa 1-1, và Hereford bị xuống hạng xuống Football Conference do kém số bàn thắng ghi được.[30]

Sân vận động Withdean

Tập tin:Withdean.jpg
Sân vận động Withdean, sân nhà của Brighton từ năm 1999 tới năm 2011

Trong hai năm, từ 1997 tới 1999, câu lạc bộ thuê chung Sân vận động Priestfield, sân nhà của Gillingham, trước khi trở lại Brighton để thi đấu tại Sân vận động Withdean. Đây vốn không phải sân bóng đá chuyên dụng, bởi nơi này trong phần lớn lịch sử được dùng cho điền kinh, và trước đó còn từng là một vườn thú.[31]

Vì chi phí của cuộc điều tra công khai liên quan tới giấy phép quy hoạch cho sân vận động mới, tiền thuê Withdean Stadium, các khoản phải trả để sử dụng Priestfield Stadium của Gillingham, cùng tình trạng thâm hụt vận hành nói chung do lượng vé bán ra thấp vốn là điều tất yếu ở một sân nhỏ, câu lạc bộ tích lũy khoản thâm hụt 9,5 triệu bảng vào năm 2004. Ban giám đốc đã chi trả 7 triệu bảng; 2,5 triệu bảng còn lại phải được huy động từ hoạt động của câu lạc bộ. Để làm điều đó, một chiến dịch gây quỹ mang tên Alive and Kicking Fund được phát động, với đủ mọi hình thức từ thiệp Giáng sinh ảnh nude có sự xuất hiện của cầu thủ cho tới việc phát hành một đĩa đơn CD nhằm gây quỹ. Ngày 9 tháng 1 năm 2005, đĩa đơn gây quỹ này, Tom Hark, tiến thẳng lên vị trí thứ 17 trên bảng xếp hạng tại Anh và được phát sóng trên toàn quốc qua BBC Radio 1.[32]

Sân vận động Falmer

Tập tin:Falmer Stadium - League debut 2.jpg
Cổ động viên Brighton tại Sân vận động Falmer trong trận đấu đầu tiên thuộc giải vô địch trên sân này gặp Doncaster Rovers

Sân nhà của câu lạc bộ là Sân vận động Falmer, nằm trên Village Way, Brighton.

Ngày 28 tháng 10 năm 2005, Office of the Deputy Prime Minister thông báo rằng đơn xin xây dựng sân Falmer đã được chấp thuận. Hội đồng quận Lewes phản đối quyết định của John Prescott về việc phê duyệt giấy phép quy hoạch cho Falmer, buộc phải tiến hành một cuộc xem xét tư pháp. Cơ sở của việc này là một lỗi nhỏ trong văn bản phê duyệt ban đầu của Prescott, khi ông không nêu rõ rằng một phần bãi đỗ xe dành cho sân vận động nằm trong địa phận quận Lewes chứ không phải thuộc chính quyền đơn nhất Brighton & Hove. Điều này gây ra thêm trì hoãn. Khi cuộc xem xét tư pháp đưa ra phán quyết có lợi cho dự án sân vận động, Hội đồng quận Lewes tuyên bố rằng họ sẽ không tiếp tục kháng nghị thêm.

Việc xây dựng Falmer Stadium bắt đầu vào tháng 12 năm 2008. Ngày 31 tháng 5 năm 2011, câu lạc bộ chính thức hoàn tất việc bàn giao và nhận chìa khóa sân với sức chứa ban đầu là 22.374 chỗ ngồi, đánh dấu chấm hết cho 14 năm không có sân nhà được chỉ định. Trong tháng 1 năm 2012, câu lạc bộ nộp đơn lên hội đồng thành phố Brighton and Hove để tăng thêm 8.000 chỗ ngồi cho sân, đồng thời bổ sung thêm các phòng khách doanh nghiệp, cơ sở truyền hình mới và một khu phòng suite cao cấp.[33] Đề xuất này được ủy ban quy hoạch của Hội đồng thành phố Brighton & Hove thông qua nhất trí vào ngày 25 tháng 4 năm 2012. Sân sau đó được mở rộng lên 27.250 chỗ khi bắt đầu mùa giải 2012-13, rồi tiếp tục lên 27.750 chỗ trong tháng 12 năm 2012 trước khi đạt 30.750 chỗ vào tháng 5 năm 2013.

Năm 2020, câu lạc bộ nộp kế hoạch mở rộng sân từ 30.750 chỗ lên 32.500 chỗ, bao gồm cả việc tăng thêm không gian hospitality. Năm 2021, sân được mở rộng lên 31.800 chỗ, dù vẫn còn một số hạng mục chưa hoàn tất.[34]

Màu sắc và trang phục

Trong phần lớn lịch sử của Brighton, đội chơi trong trang phục áo xanh-trắng, thường là sọc dọc, với nhiều cách phối khác nhau giữa quần đùi và tất màu trắng hoặc xanh,[35] dù điều này từng thay đổi trong một thời gian ngắn sang toàn trắng vào thập niên 1970 và sau đó là xanh hoàng gia trơn vào đầu thập niên 1980.[36]

Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ

Kể từ năm 2014, trang phục của câu lạc bộ do Nike sản xuất. Các nhà sản xuất trước đó gồm Bukta (1971-74, 1977-80), Admiral (1974-75, 1994-97), Umbro (1975-77), Adidas (1980-87), Spall (1987-89), Sports Express (1989-91), Ribero (1991-94), Superleague (1997-99), và Erreà (1999-2014). Nhà tài trợ hiện tại trên mặt trước áo là American Express. Các nhà tài trợ trước đây gồm British Caledonian Airways (1980-83), Phoenix Brewery (1983-86), NOBO (1986-91), TSB Bank (1991-93), Sandtex (1993-98), Donatello (1998-99), Skint Records (1999-2008), IT First (2008-11), và BrightonandHoveJobs.com (2011-13). Nhà tài trợ hiện tại trên tay áo là Experience Kissimmee.[37] Các nhà tài trợ tay áo trước đây gồm JD Sports,[38] và Snickers UK.[39]

Year Nhà sản xuất trang phục Nhà tài trợ áo đấu (mặt trước) Nhà tài trợ áo đấu (tay áo) Nhà tài trợ áo đấu (sau lưng) Nhà tài trợ quần đùi
1971-1974 Bukta Không có Không có Không có Không có
1974-1975 Admiral
1975-1977 Umbro
1977-1980 Bukta
1980-1983 Adidas British Caledonian
1983-1986 Phoenix Brewery
1986-1987 NOBO
1987-1989 Spall
1989-1991 Sports Express
1991-1993 Ribero TSB Bank
1993-1994 Sandtex
1994-1997 Admiral
1997-1998 Superleague
1998-1999 Donatello Restaurant
1999-2004 Erreà Skint Records
2004-2005 Alive and Kicking Fund
2005-2008 Donatello Restaurant Donatello Restaurant
2008-2011 IT First
2011-2013 BrightonandHoveJobs.com
2013-2014 American Express American Express American Express
2014-2017 Nike
2017-2020 JD Sports Không có Không có
2020-2024 Snickers UK
2024-nay Experience Kissimmee

Kình địch

Dù hai câu lạc bộ cách nhau gần 40 mi (64 km), Crystal Palace vẫn là đối thủ lớn nhất của Brighton, với nguồn gốc bắt đầu từ thập niên 1970 và sự thù địch giữa hai huấn luyện viên Alan MulleryTerry Venables, những người tiếp quản Brighton và Palace lần lượt vào năm 1976 trước một mùa giải sít sao ở Third Division, nơi hai đội cùng với Mansfield Town cạnh tranh quyết liệt. Mùa giải ấy kết thúc khi cả Palace lẫn Brighton đều bị Mansfield vượt mặt trong cuộc đua vô địch; tuy nhiên cả hai đội đều thăng hạng, và sự thù địch giữa hai huấn luyện viên đã tạo nên mối kình địch dữ dội giữa hai đội bóng. Điều này tiếp tục kéo dài sang mùa giải sau tại Second Division, khi Brighton — đội đã kết thúc mùa giải của mình ở ngôi đầu — rơi xuống vị trí thứ hai sau khi Palace thắng trận đấu bù với Burnley vào cuối tuần tiếp theo, qua đó vượt qua Brighton để vô địch với cách biệt một điểm.[40] Ngoài ra, tuyến đường A23 road nối thẳng Brighton với Croydon, nơi đặt sân Selhurst Park của Palace. Điều này khiến truyền thông gọi mối kình địch này là derby A23 hoặc M23,[41][42] mặc dù người hâm mộ của cả hai câu lạc bộ đều không dùng cách gọi này.

Nằm ở Đông Sussex, Brighton bị tách biệt với phần lớn các đội bóng khác, khiến họ không có một trận derby địa phương thực sự cố định. Các trận đấu với những đội bóng cùng vùng bờ biển phía nam như SouthamptonPortsmouth đôi khi được truyền thông gắn nhãn là derby địa phương, nhưng phần lớn cổ động viên của bất kì đội nào cũng không xem đối phương là kình địch, do khoảng cách giữa các câu lạc bộ lên tới hơn 60 mi (97 km), và do đã tồn tại mối kình địch rất rõ ràng giữa Southampton và Portsmouth.[43][44]

Cầu thủ

Đội hình đội một

Tính đến 2 tháng 2 năm 2026[45][46]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Hà Lan Bart Verbruggen
3 HV Brasil Igor Julio
4 HV Anh Adam Webster
5 HV Anh Lewis Dunk (đội trưởng)
6 HV Hà Lan Jan Paul van Hecke
7 TV Anh Solly March
9 Hy Lạp Stefanos Tzimas
10 Pháp Georginio Rutter
11 TV Gambia Yankuba Minteh
13 TV Anh Jack Hinshelwood
17 TV Cameroon Carlos Baleba
18 Anh Danny Welbeck
19 Hy Lạp Charalampos Kostoulas
Số VT Quốc gia Cầu thủ
20 TV Anh James Milner
21 HV Pháp Olivier Boscagli
22 TV Nhật Bản Kaoru Mitoma
23 TM Anh Jason Steele
24 HV Thổ Nhĩ Kỳ Ferdi Kadıoğlu
25 TV Paraguay Diego Gómez
26 TV Thụy Điển Yasin Ayari
27 TV Hà Lan Mats Wieffer
29 HV Bỉ Maxim De Cuyper
30 TV Đức Pascal Groß
33 TV Đan Mạch Matt O'Riley
34 HV Hà Lan Joël Veltman
38 TM Canada Tom McGill
HV Croatia Luka Vušković

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
8 TV Đức Brajan Gruda (cho RB Leipzig mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
14 TV Anh Tom Watson (cho Millwall mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[47]
16 HV Cộng hòa Ireland Eiran Cashin (cho Blackburn Rovers mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[48]
28 Cộng hòa Ireland Evan Ferguson (cho Roma mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[49]
32 TV Ecuador Jeremy Sarmiento (cho Middlesbrough mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[50]
36 TV Bờ Biển Ngà Malick Yalcouyé (cho Swansea City mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[51]
Số VT Quốc gia Cầu thủ
39 TM Anh Carl Rushworth (cho Coventry City mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[52]
40 TV Argentina Facundo Buonanotte (cho Leeds United mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[53]
42 HV Ý Diego Coppola (cho Paris FC mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[54]
TV Ghana Ibrahim Osman (cho Birmingham City mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TV Hàn Quốc Yoon Do-young (cho Dordrecht mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[55]

Đội U-21 và Học viện

Đội dưới 21 tuổi và học viện là các đội trẻ của Brighton & Hove Albion. Các cầu thủ dưới 21 tuổi thi đấu tại Premier League 2, hạng đấu cao nhất dành cho các đội dưới 21 tuổi ở Anh. Họ cũng tham dự EFL Trophy, Premier League Cup, National League Cup, Premier League International CupSussex Senior Challenge Cup.

Các đội học viện phát triển đến cấp độ đội dưới 18 tuổi, đội đang thi đấu tại U18 Premier League Division South.

Các cầu thủ học viện đã được điền tên vào danh sách thi đấu của đội một trong mùa giải 2025-26. Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
51 HV Anh Charlie Tasker
53 TV Anh Harry Howell
54 HV Anh Freddie Simmonds
Số VT Quốc gia Cầu thủ
58 TV Nigeria Nehemiah Oriola
62 TM Thụy Điển Nils Ramming

Các huấn luyện viên

Danh sách

Dòng thời gian

<timeline>

ImageSize = width:1500 height:auto barincrement:18 PlotArea = top:10 bottom:20 right:130 left:10 AlignBars = late DateFormat = x.y Period = from:1899.90 till:2041 TimeAxis = orientation:horizontal ScaleMajor = unit:year increment:10 start:1901 ScaleMinor = unit:year increment:1 start:1901

Define $now = 2026.6666666667

Colors =

 id:6year   value:rgb(0.8, 0.8, 0.8)
 id:1year    value:rgb(0.6, 0.6, 0.6)
 id:dem     value:rgb(0, 0, 1)
 id:rep      value:rgb(1, 0, 0)

BarData =

 barset:ManagerLine
 barset:Managers
 #barset:blankline

PlotData=

width:1 align:right fontsize:S shift:(-3,-4) anchor:from fontsize:8 color:black
barset:ManagerLine
from:1906 till:end text:Các huấn luyện viên
width:6 align:left fontsize:S shift:(5,-4) anchor:till fontsize:10
barset:Managers
from:1901.00 till:1905.00 color:dem text:"John Jackson† (1901-05)"
from:1905.00 till:1908.00 color:dem text:"Frank Scott-Walford† (1905-08)"
from:1908.00 till:1914.00 color:dem text:"Jack Robson† (1908-14)"
from:1914.00 till:1919.00 color:rep text:"Gián đoạn (1914-19)"
from:1919 till:1947 color:dem text:"Charlie Webb† (1919-47)"
from:1947.00 till:1947.00 color:dem text:"Tommy Cook† (1947)"
from:1947.00 till:1951.00 color:dem text:"Don Welsh† (1947-51)"
from:1951.00 till:1961.00 color:dem text:"Billy Lane† (1951-61)"
from:1961.00 till:1963.00 color:dem text:"George Curtis† (1961-63)"
from:1963 till:1968 color:dem text:"Archie Macaulay† (1963-68)"
from:1968.00 till:1970.00 color:dem text:"Freddie Goodwin† (1968-70)"
from:1970.00 till:1973.00 color:dem text:"Pat Saward† (1970-73)"
from:1973.00 till:1974.00 color:dem text:"Brian Clough† (1973-74)"
from:1974.00 till:1976.00 color:dem text:"Peter T. Taylor† (1974-76)"
from:1976.00 till:1981.00 color:dem text:"Alan Mullery (1976-81)"
from:1981.00 till:1982.00 color:dem text:"Mike Bailey (1981-82)"
from:1982.00 till:1983.00 color:dem text:"Jimmy Melia (1982-83)"
from:1983.00 till:1986.00 color:dem text:"Chris Cattlin (1983-86)"
from:1986.00 till:1987.00 color:dem text:"Alan Mullery (1986-87)"
from:1987.00 till:1993.00 color:dem text:"Barry Lloyd† (1987-93)"
from:1993.00 till:1995.00 color:dem text:"Liam Brady (1993-95)"
from:1995.00 till:1996.00 color:dem text:"Jimmy Case (1995-96)"
from:1996.00 till:1998.00 color:dem text:"Steve Gritt (1996-98)"
from:1998.00 till:1999.00 color:dem text:"Brian Horton (1998-99)"
from:1999.00 till:1999.00 color:dem text:"Jeff Wood (1999)"
from:1999.00 till:2001.00 color:dem text:"Micky Adams (1999-2001)"
from:2001.00 till:2002.00 color:dem text:"Peter J. Taylor (2001-02)"
from:2002.00 till:2002.00 color:dem text:"Martin Hinshelwood (2002)"
from:2002.00 till:2003.00 color:dem text:"Steve Coppell (2002-03)"
from:2003.00 till:2006.00 color:dem text:"Mark McGhee (2003-06)"
from:2006.00 till:2008.00 color:dem text:"Dean Wilkins (2006-08)"
from:2008.00 till:2009.00 color:dem text:"Micky Adams (2008-09)"
from:2009.00 till:2009.00 color:dem text:"Russell Slade (2009)"
from:2009.00 till:2013.00 color:dem text:"Gus Poyet (2009-13)"
from:2013.00 till:2014.00 color:dem text:"Óscar García (2013-14)"
from:2014.00 till:2014.00 color:dem text:"Sami Hyypiä (2014)"
from:2014.00 till:2019.00 color:dem text:"Chris Hughton (2014-19)"
from:2019.00 till:2022.00 color:dem text:"Graham Potter (2019-22)"
from:2022.00 till:2024.00 color:dem text:"Roberto De Zerbi (2022-24)"
from:2024.00 till:2025.33 color:dem text:"Fabian Hürzeler (2024-)"

LineData=


layer:back
# This section creates the vertical lines.
at:1901.00 width:0.1 color:1year
at:1906.00 width:0.1 color:6year
at:1911.00 width:0.1 color:1year
at:1916.00 width:0.1 color:6year
at:1921.00 width:0.1 color:1year
at:1926.00 width:0.1 color:6year
at:1931.00 width:0.1 color:1year
at:1936.00 width:0.1 color:6year
at:1941.00 width:0.1 color:1year
at:1946.00 width:0.1 color:6year
at:1951.00 width:0.1 color:1year
at:1956.00 width:0.1 color:6year
at:1961.00 width:0.1 color:1year
at:1966.00 width:0.1 color:6year
at:1971.00 width:0.1 color:1year
at:1976.00 width:0.1 color:6year
at:1981.00 width:0.1 color:1year
at:1986.00 width:0.1 color:6year
at:1991.00 width:0.1 color:1year
at:1996.00 width:0.1 color:6year
at:2001.00 width:0.1 color:1year
at:2006.00 width:0.1 color:6year
at:2011.00 width:0.1 color:1year
at:2016.00 width:0.1 color:6year
at:2021.00 width:0.1 color:1year
at:2026.00 width:0.1 color:6year
at:2031.00 width:0.1 color:1year
at:2036.00 width:0.1 color:6year
at:2041.00 width:0.1 color:1year
</timeline>

Ban quản lí

Ban huấn luyện đội một
Huấn luyện viên trưởng Đức Fabian Hürzeler
Trợ lí huấn luyện viên trưởng Đức Jonas Scheuermann
Wales Andrew Crofts
Đức Daniel Niedzkowski
Huấn luyện viên thủ môn Hà Lan Jelle ten Rouwelaar
Huấn luyện viên các tình huống cố định Bỉ Yannick Euvrard
Trưởng bộ phận phân tích Anh Eoin Bradford
Chuyên viên phân tích chiến thuật Đức Max Lesser
Anh Jack Sheard
Tuyển trạch
Trưởng bộ phận tuyển trạch Trống
Quản lí cầu thủ cho mượn Scotland Gordon Greer
Học viện
Giám đốc học viện Anh Ian Buckman
Huấn luyện viên trưởng đội dưới 21 tuổi Anh Shannon Ruth
Huấn luyện viên trưởng đội dưới 18 tuổi (tạm quyền) Israel Tomer Hemed
Anh Steve Menzies
Y tế và thể lực
Trưởng bộ phận thể lực Anh Gary Walker
Bác sĩ câu lạc bộ Anh Jim Moxon
Quan chức câu lạc bộ
Ban lãnh đạo
Chủ tịch Tony Bloom
Giám đốc điều hành kiêm phó chủ tịch Paul Barber
Giám đốc tài chính Lee Cooper
Giám đốc vận hành Paul Mullen
Trưởng bộ phận nhân sự và văn hóa Rose Read
Phó chủ tịch không điều hành Peter Godfrey
Giám đốc không điều hành Ray Bloom
Paul Brown
Robert Comer
Adam Franks
Anna Jones
Michelle Walder
Ban quản lí cấp cao
Giám đốc điều hành kiêm phó chủ tịch Paul Barber
Giám đốc thể thao Jason Ayto
Giám đốc kĩ thuật Mike Cave
Giám đốc vận hành Paul Mullen
Trưởng bộ phận truyền thông và quan hệ báo chí Paul Camillin
Giám đốc tài chính Lee Cooper
Trưởng bộ phận tiếp thị Anna Easthope
Trưởng bộ phận bán vé và dịch vụ cổ động viên Jenny Gower
Giám đốc công nghệ Mark Loch
Trưởng bộ phận an toàn và an ninh Adrian Morris
Trưởng bộ phận nhân sự và văn hóa Rose Read
Cố vấn pháp lí Lloyd Thomas
Trưởng bộ phận thương mại Russell Wood

Nguồn:[56][57][58][59]

Danh hiệu

Tập tin:Brighton Hove Albion FC League Performance.svg
Thứ hạng qua các mùa giải trong lịch sử của Brighton & Hove Albion

Nguồn:[60]

Giải vô địch

Cúp


  1. ^ đồng chia sẻ với Chichester City ở mùa giải 1960-61

Tham khảo

  1. ^ "Brighton & Hove Albion".
  2. ^ "Chung kết Cúp FA 1983". Fa-CupFinals.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  3. ^ Brighton & Hove Albion Lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine Talk Football. Retrieved 9 tháng 8 năm 2011
  4. ^ "Former Albion chairman Dick Knight made freeman of the city". The Argus (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2022.
  5. ^ Stadium Funding Secured Lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2009 tại Wayback Machine, Brighton & Hove Albion F.C., 18 May 2009. Retrieved 18 May 2009
  6. ^ Percy, John (ngày 16 tháng 5 năm 2013). "Brighton & Hove Albion suspend manager Gus Poyet for an alleged breach of contract". The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019.
  7. ^ "Goodbye Beram Kayal, the player who kick started the Brighton revolution". WeAreBrighton.com. ngày 22 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2025.
  8. ^ "Brighton 2-1 Wigan". BBC Sport. ngày 17 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017.
  9. ^ "Chris Hughton sacked by Brighton after four-and-a-half years as manager". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019.
  10. ^ "Graham Potter appointed new Brighton manager after leaving Swansea". BBC Sport. ngày 20 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.
  11. ^ "Graham Potter Brighton manager given contract extension to 2025". BBC Sport. ngày 26 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2020.
  12. ^ "English football suspended until at least 30 April, governing bodies announce". ngày 19 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  13. ^ "Safe as houses – Brighton and Hove Albion can prepare for record-breaking fifth consecutive Premier League season". ngày 10 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2021 – qua brightonandhovenews.org.
  14. ^ "Albion secure ninth spot with final day win over West Ham". ngày 22 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2022 – qua brightonandhovealbion.com.
  15. ^ "Chelsea confirm Graham Potter as new manager after deal struck with Brighton". the Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2022.
  16. ^ "Roberto De Zerbi confirmed as new Albion head coach". ngày 18 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2022.
  17. ^ Burt, Jason; Bagchi, Rob (ngày 23 tháng 4 năm 2023). "Solly March misses as Brighton lose FA Cup semi-final on penalties to Manchester United". The Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2023.
  18. ^ "Ferguson hits double as Brighton seal European spot". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
  19. ^ "Brighton seal Europa League place with Man City draw". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2023.
  20. ^ "Brighton 1-0 Marseille: Late Joao Pedro winner puts Brighton in Europa League last 16". BBC Sport. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2023.
  21. ^ McNulty, Phil (ngày 21 tháng 5 năm 2024). "Brighton 1-0 Roma (Agg: 1-4): Danny Welbeck scores but the Seagulls exit Europa League". BBC. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2024.
  22. ^ "De Zerbi to leave Albion after Manchester United match". Brighton & Hove Albion. ngày 18 tháng 5 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2024.
  23. ^ (Brighton and Hove Albion Football Club), BHAFC (ngày 15 tháng 6 năm 2024). "Albion appoint Hürzeler as new head coach". www.brightonandhovealbion.com. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2024.
  24. ^ "Brighton appoint Hurzeler as head coach". www.premierleague.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2024.
  25. ^ "Hurzeler makes history with Barclays Manager of the Month award". www.premierleague.com (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2026.
  26. ^ (Brighton and Hove Albion Football Club), BHAFC (ngày 17 tháng 8 năm 2024). "match-centre. gameId=2444472". www.brightonandhovealbion.com. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2024.
  27. ^ "Premier League Table, Standings & Form Guide". www.premierleague.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2026.
  28. ^ "Club in Crisis Brighton". Club in Crisis. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  29. ^ "WELCOME – BRIGHTON & HOVE ALBION". Doncaster Rovers F.C. ngày 16 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  30. ^ Archived at Ghostarchive and the Wayback Machine: "WE ARE STAYING UP". ngày 5 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011 – qua YouTube.
  31. ^ "Withdean Stadium". Royal Pavilion & Brighton Museums. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  32. ^ "Brighton fans single makes top 20". BBC. ngày 10 tháng 1 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  33. ^ "Albion's £36 million plans to push for Premiership". The Argus. ngày 2 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012.
  34. ^ Mills, Richard (ngày 10 tháng 7 năm 2021). "Paul Barber says Brighton have paused plans to max out the Amex's capacity". sussexlive (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2022.
  35. ^ "Brighton & Hove Albion". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017.
  36. ^ "Brighton & Hove Albion". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  37. ^ "Experience Kissimmee announces partnership with Albion". www.brightonandhovealbion.com. ngày 11 tháng 6 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2024.
  38. ^ "Brighton renew JD sleeve deal". ngày 5 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2024.
  39. ^ "Snickers UK extend sleeve sponsorship". Brighton & Hove Albion Football Club. ngày 18 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2023.
  40. ^ Burnton, Simon (ngày 27 tháng 9 năm 2011). "How Brighton v Crystal Palace grew into an unlikely rivalry". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2021.
  41. ^ "Club Rivalries Uncovered Results" (PDF). FootballFanCensus. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  42. ^ Burnton, Simon (2011) How Brighton v Crystal Palace grew into an unlikely rivalry, The Guardian, 27 September Lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2013 tại Wayback Machine (Accessed December 2012)
  43. ^ Leach, Tom (ngày 3 tháng 12 năm 2020). "Southampton, Brighton and the Portsmouth and Palace rivalries that really matter". hampshirelive. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  44. ^ "Southampton v Brighton: A 'derby' fans don't care about - Scott McCarthy". www.brightonandhoveindependent.co.uk. ngày 15 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  45. ^ "Men's Team". Brighton & Hove Albion F.C. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2024.
  46. ^ "2025/26 squad numbers confirmed". Brighton & Hove Albion F.C. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  47. ^ "Watson completes loan move". Brighton & Hove Albion FC. ngày 1 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  48. ^ "Cashin complete Rovers switch". Blackburn Rovers F.C. ngày 6 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  49. ^ "Evan Ferguson joins Roma on loan". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 23 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2025.
  50. ^ "Jeremy Sarmiento joins Middlesbrough on loan". Brighton & Hove Albion FC. ngày 27 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
  51. ^ "Malick Yalcouyé joins Swansea City on loan". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 14 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
  52. ^ "Carl Rushworth joins Coventry City on loan". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
  53. ^ "Buonanotte makes loan switch". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 15 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2026.
  54. ^ "Coppola heads to Paris FC on loan". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 29 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
  55. ^ "Yoon Doyoung joins FC Dordrecht on loan". Brighton & Hove Albion FC. ngày 9 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2026.
  56. ^ "Who's Who". www.brightonandhovealbion.com (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2025.
  57. ^ "Men's First Team Coaches". www.brightonandhovealbion.com. ngày 25 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2024.
  58. ^ "Men's Academy Coaches". www.brightonandhovealbion.com. ngày 25 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2024.
  59. ^ "Yannick Euvrard appointed set-piece coach". www.brightonandhovealbion.com (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2025.
  60. ^ "Club records". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 3 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
  61. ^ "R.U.R. Cup Final Results – Sussex County Football Association". Sussexcountyleague.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Brighton and Hove Albion F.C.

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).