Bristol Rovers F.C.
Câu lạc bộ bóng đá Bristol Rovers (tiếng Anh: Bristol Rovers Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Bristol, Anh. Đội hiện thi đấu tại League Two, hạng đấu thứ 4 trong hệ thống các giải bóng đá Anh. Đội bóng có liên kết với Bristol Rovers W.F.C., đội đang chơi tại FA Women's National League.
| Tập tin:Bristol Rovers F.C. logo.svg | |||
| Tên đầy đủ | Bristol Rovers Football Club | ||
|---|---|---|---|
| Biệt danh | The Pirates, The Gas | ||
| Thành lập | 1883 | ||
| Sân | Sân vận động Memorial | ||
| Sức chứa | 12.534[1] | ||
| Chủ sở hữu | Hussain AlSaeed | ||
| Head Coach | Steve Evans | ||
| Giải đấu | League Two | ||
| 2025–26 | League Two, hạng 14 trên 24 | ||
| Website | bristolrovers | ||
|
| |||
Rovers được thành lập vào năm 1883 với tên gọi Black Arabs F.C. và tham gia Bristol & District League dưới tên Eastville Rovers vào năm 1892. Đội chuyển đến Sân vận động Eastville vào năm 1897, cùng năm họ gia nhập Birmingham & District League. Hai năm sau, với tên gọi mới là Bristol Rovers, đội gia nhập Southern League. Rovers vô địch Southern League mùa giải 1904-05 và được kết nạp vào Football League năm 1920. Họ được xếp vào Third Division South và ở lại hạng đấu này cho đến khi giành quyền thăng hạng với tư cách nhà vô địch ở mùa 1952-53. Đội đạt vị trí cao nhất trong lịch sử tại Football League là hạng sáu ở Second Division trong cả hai mùa 1955-56 và 1958-59. Rovers xuống hạng vào năm 1962. Sau khi giành quyền thăng hạng với vị trí á quân của Third Division mùa giải 1973-74, đội trải qua thêm bảy mùa giải ở hạng Hai trước khi xuống hạng năm 1981. Sau khi khu đất tại Eastville được bán vào năm 1986, đội bóng thi đấu 10 năm tại Twerton Park ở Bath. Rovers vô địch Third Division mùa 1989-90 và chơi ba mùa ở hạng Hai trước khi xuống hạng năm 1993. Năm 1996, đội chuyển tới sân nhà hiện tại là Sân vận động Memorial ở Horfield.
Một lần xuống hạng khác đã khiến đội rơi xuống hạng Tư trước mùa giải 2001-02. Rovers giành chiến thắng ở trận chung kết play-off Football League Two năm 2007, nhưng các lần xuống hạng vào năm 2011 và 2014 khiến đội rơi xuống Conference Premier. Dưới sự dẫn dắt của Darrell Clarke, đội kết thúc ở vị trí thứ hai tại Conference và lập tức giành lại tư cách thành viên Football League nhờ chiến thắng ở trận chung kết play-off Conference Premier năm 2015. Họ tiếp nối thành công đó bằng việc thăng hạng khỏi League Two vào cuối mùa giải 2015-16. Đội xuống hạng khỏi hạng Ba ở mùa 2020-21 nhưng trở lại ngay ở lần đầu tiên, giành suất thăng hạng trực tiếp cuối cùng lên League One theo cách đầy kịch tính. Tuy nhiên, đội lại xuống hạng trở lại League Two vào cuối mùa giải 2024-25.
Biệt danh chính thức của đội bóng là "The Pirates" (Những tên cướp biển), phản ánh lịch sử hàng hải của Bristol, nhưng tại địa phương đội còn được gọi là "The Gas", xuất phát từ nhà máy khí đốt bên cạnh sân nhà cũ Sân vận động Eastville. "The Gas" ban đầu là một cách gọi mang tính miệt thị do người hâm mộ của đối thủ láng giềng Bristol City đặt ra, nhưng về sau lại được đội bóng và người ủng hộ đón nhận một cách trìu mến. Các trận đấu giữa hai đội bóng của Bristol được gọi là Derby Bristol, lần gần nhất diễn ra vào năm 2013, khi Bristol City giành chiến thắng tại Ashton Gate. Bên cạnh các danh hiệu vô địch và những lần thăng hạng ở nhiều hạng đấu khác nhau, Rovers còn 32 lần vô địch Gloucestershire Cup. Đội vô địch Third Division South Cup năm 1932, Watney Cup năm 1972, và đã hai lần vào chung kết Football League Trophy.
Lịch sử
Giai đoạn đầu
Đội bóng được thành lập sau một cuộc họp tại Nhà hàng Eastville ở Bristol vào tháng 9 năm 1883. Ban đầu, đội mang tên Black Arabs F.C., theo tên đội bóng bầu dục Arabs và bộ trang phục thi đấu chủ yếu màu đen mà họ sử dụng. Tên gọi này chỉ tồn tại trong mùa giải 1883-84, và nhằm thu hút thêm người hâm mộ từ khu vực địa phương, đội bóng được đổi tên thành Eastville Rovers vào năm 1884.[2]
Dursley Gazette, 3 December 1883, reproduced in Byrne & Jay (2003).[3] Một bản tường thuật về trận đấu đầu tiên của Black Arabs.
Gia nhập Football League
Ở mùa giải 1920-21, các đội của Southern League được chuyển vào giải Division Three mới của Football League, và giải này trở thành Division Three (South) ở mùa giải tiếp theo. Bristol Rovers ở lại hạng đấu này hơn 30 năm, trước khi vô địch giải và giành quyền thăng hạng trong mùa giải 1952-53.[4]
Đội bóng còn giành quyền thăng hạng thêm 6 lần khác: vào mùa giải 1973-74 từ Third Division lên Second Division, tiếp đó ở mùa giải 1989-90 với tư cách vô địch Division Three, vào mùa giải 2006-07 lên Football League One, vào mùa giải 2014-15 lên League Two từ Conference Premier, vào mùa giải 2015-16 lên League One và sau đó là ở mùa giải 2021-22 lên League One từ League Two. Đội bóng đã xuống hạng 8 lần - vào các mùa giải 1961-62, 1980-81, 1992-93, 2000-01, 2010-11, 2013-14, 2020-21 và gần đây nhất là vào cuối mùa giải 2024-25.[5]
Vị trí cao nhất mà Rovers từng đạt được trên hệ thống giải bóng đá Anh vào cuối một mùa giải là vị trí thứ sáu ở hạng Hai, thành tích mà đội đạt được 2 lần: lần đầu ở mùa giải 1955-56 và lần nữa ở mùa giải 1958-59.[6] Lần tiến gần nhất tới hạng đấu cao nhất là ở mùa giải 1955-56, khi đội kết thúc mùa giải chỉ kém các vị trí thăng hạng 4 điểm.[7] Vị trí thấp nhất mà đội bóng từng đạt trong hệ thống giải là thứ 23 trên 24 đội ở hạng Tư, điều đã xảy ra 2 lần. Ở mùa giải 2001-02,[6] việc rớt khỏi Football League được tránh một cách sít sao nhờ 2 yếu tố; thứ nhất, đội kết thúc cao hơn khu vực xuống hạng đúng 1 bậc, và thứ hai, luật được thay đổi ở mùa giải tiếp theo để tăng số suất xuống hạng lên 2, nghĩa là nếu Rovers kết thúc ở vị trí đó muộn hơn 1 năm thì đã bị xuống hạng.[8] Vị trí này lặp lại vào cuối mùa giải 2013-14, và lần này Rovers đã phải xuống chơi ở Conference lần đầu tiên.[6][9] Đội trở lại giải đấu này ngay sau mùa giải Conference đầu tiên, nhờ chiến thắng trong loạt sút luân lưu trước Grimsby Town ở trận chung kết play-off.[10] Vào tháng 2 năm 2016, có thông báo rằng 92% cổ phần của đội bóng đã được gia đình al-Qadi người Jordan mua lại, và Wael al-Qadi, một thành viên của Hiệp hội bóng đá Jordan, sẽ trở thành chủ tịch.[11] Từ năm 2016, đội bóng thuộc sở hữu của Dwane Sports Ltd, đơn vị nắm 92,6% cổ phần,[12] trong khi Bristol Rovers Supporters Club sở hữu 7,4% còn lại.[13]
Vào tháng 5 năm 2016, đội bóng giành quyền thăng hạng lần thứ hai liên tiếp khi kết thúc ở vị trí thăng hạng trực tiếp cuối cùng của League Two, sau khi một bàn thắng ở phút 90+2 giúp họ đánh bại Dagenham and Redbridge, đồng thời Accrington Stanley không thể giành chiến thắng ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải.[14] Đây là lần đầu tiên Rovers trở lại hạng Ba của bóng đá Anh kể từ lần xuống hạng năm 2011.[6] Vào tháng 6 năm 2020, có thông báo rằng chủ tịch Wael al-Qadi đã mua lại cổ phần chi phối trong Dwane Sports Ltd,[15] sau khi ông mua cổ phần của các thành viên khác trong gia đình mình. Đồng thời, cũng có thông báo rằng khoản nợ của đội bóng sẽ được vốn hóa và một cơ sở tập luyện mới sẽ bắt đầu được xây dựng tại Hortham Lane, Almondsbury, gần Đường cao tốc M5.[không khớp với nguồn][16] Rovers đã sở hữu khu đất trước đây được biết đến với tên gọi 'The Colony' và được đội bóng đổi tên thành 'The Quarters' từ năm 2017,[không khớp với nguồn][17] và vào tháng 6 năm 2020, đội bóng thông báo rằng cơ sở này sẽ sẵn sàng cho thời điểm bắt đầu mùa giải 2020-21.[mơ hồ][18]
Vào ngày 3 tháng 8 năm 2023, doanh nhân người Kuwait Hussain AlSaeed đã mua cổ phần chi phối 55% trong Dwane Sports, công ty mẹ của đội bóng, qua đó trở thành chủ tịch. Là một phần của thương vụ tiếp quản, toàn bộ khoản nợ mà công ty này phải gánh đã được vốn hóa.[19] Vào ngày 22 tháng 11 năm 2024, AlSaeed đạt được thỏa thuận mua nốt 45% cổ phần còn lại do Wael và Samer al-Qadi sở hữu, với việc hoàn tất thương vụ sẽ diễn ra trong khoảng thời gian 18 tháng.[20]
Giải đấu cúp
Danh hiệu cúp lớn duy nhất mà Bristol Rovers từng giành được là Watney Cup năm 1972, khi đội đánh bại Sheffield United trong trận chung kết.[21] Đội bóng cũng giành Division Three (South) Cup ở mùa giải 1934-35, đồng thời vô địch hoặc đồng vô địch Gloucestershire Cup 32 lần. Đội chưa từng thi đấu ở cúp châu Âu; lần tiến gần nhất của Rovers là ở mùa giải 1992-93, khi đội lỡ cơ hội góp mặt ở giai đoạn quốc tế của Anglo-Italian Cup sau một lần tung đồng xu qua điện thoại với West Ham United.[không khớp với nguồn][22]
Tại Cúp FA, Rovers đã 3 lần vào tới vòng tứ kết. Lần đầu tiên là ở mùa giải 1950-51, khi đội gặp Newcastle United tại St James' Park[23] trước 62.787 khán giả, đây là kỷ lục về số lượng người xem đông nhất trong bất kỳ trận đấu nào của Bristol Rovers.[24] Lần thứ hai đội vào tới tứ kết là ở mùa giải 1957-58, khi họ thua Fulham,[23] còn lần gần nhất góp mặt ở giai đoạn này là tại mùa giải 2007-08, khi đội gặp West Bromwich Albion.[25] Đội cũng là đội bóng đầu tiên của Division Three giành chiến thắng trên sân khách trước một đội thuộc Premier League, khi đánh bại Derby County 3-1 tại Sân vận động Pride Park năm 2002.[23]
Đội đã 2 lần vào tới trận chung kết của Football League Trophy, vào các mùa giải 1989-90 và 2006-07, nhưng đều kết thúc với vị trí á quân ở cả 2 lần.[6] Ở lần thứ hai, đội không để thủng lưới một bàn nào trên đường vào chung kết, nhưng lại đánh mất lợi thế chưa đầy 1 phút sau khi trận chung kết bắt đầu.[26]
Kình địch
Đối thủ lớn nhất của Bristol Rovers là đội láng giềng cùng thành phố Bristol City, với các cuộc đối đầu giữa hai bên được gọi là derby Bristol.[27] Một báo cáo chuyên sâu của Football Pools năm 2008 xếp mối kình địch này là mối kình địch dữ dội thứ 8 trong bóng đá Anh.[28] Tính đến tháng 3 năm 2025, cuộc chạm trán gần nhất giữa hai đội diễn ra vào ngày 4 tháng 9 năm 2013, khi Rovers thua City với tỷ số 1-2 trong một trận Football League Trophy tại Sân vận động Ashton Gate.[29][30] Những đối thủ khác gồm có Newport County và chủ yếu là các đội bóng đến từ vùng West Country, như Swindon Town, Cheltenham Town, Yeovil Town và Forest Green Rovers.
Trong quá khứ, các mối kình địch cũng từng hình thành với đối thủ vùng Severnside là Cardiff City, được biết đến dưới tên gọi derby Severnside.[31] Trận gần nhất giữa Rovers và Cardiff là một thất bại tại EFL Cup vào tháng 8 năm 2024.[32] Lần gần nhất Cardiff và Bristol Rovers cùng thi đấu trong một giải đấu là ở mùa giải 1999-2000 tại Second Division.[32]
Lần đầu tiên Rovers gặp Yeovil là trong một trận Football League Trophy vào tháng 10 năm 2001, trận đấu mà Rovers thắng sau loạt sút luân lưu.[33][34] Cuộc đối đầu gần nhất giữa hai đội là ở EFL Trophy vào tháng 10 năm 2018, khi Rovers thắng 2-0.[34]
Tính đến tháng 9 năm 2024, lần gần nhất Rovers gặp Swindon Town là vào tháng 10 năm 2022 tại EFL Trophy (thắng 3-0),[35] gặp Cheltenham Town ở mùa giải League One 2023-24,[36] trong một chiến thắng 3-1, và gặp Forest Green Rovers ở mùa giải League One 2022-23 (chiến thắng 3-1 trên sân khách).[37]
Màu sắc và huy hiệu
Bristol Rovers nổi tiếng với kiểu áo đấu chia bốn ô màu xanh lam và trắng đặc trưng, mẫu áo mà đội đã sử dụng trong phần lớn lịch sử của mình. Bộ trang phục sân nhà hiện tại gồm áo xanh lam - trắng chia bốn ô và quần xanh lam; bộ trang phục sân khách toàn màu đen; còn bộ trang phục thứ ba gồm áo xanh lá cây - đen chia bốn ô và quần đen. Trong mùa giải 2008-09, một bộ trang phục thứ ba đặc biệt - màu đen với dải chéo màu vàng kim và là bản tái hiện chiếc áo Black Arab nguyên bản - đã được sử dụng trong một trận đấu duy nhất để kỷ niệm 125 năm thành lập đội bóng.[38] Đội bóng cũng ra mắt một bộ trang phục tương tự để đánh dấu kỷ niệm 140 năm thành lập, và các cầu thủ đã mặc bộ trang phục này trong trận gặp Cheltenham Town vào tháng 12 năm 2023.[39]
Đội bóng bắt đầu thi đấu với áo màu đen có dải chéo màu vàng kể từ khi được thành lập năm 1883 dưới tên Black Arabs F.C. cho đến năm 1885, thời điểm đội đã mang tên Eastville Rovers. Trong 14 năm tiếp theo, cho đến năm 1899, đội sử dụng áo sọc ngang màu xanh lam và trắng. Sau đó, mẫu áo này được thay bằng áo sọc dọc màu đen và trắng cho đến năm 1919.[40]
Khi Rovers được kết nạp vào The Football League năm 1920, đội mặc áo trắng và quần xanh lam. Đây tiếp tục là màu áo của đội cho đến năm 1930, khi màu sắc được đảo ngược thành áo xanh lam và quần trắng trong 1 mùa giải.[40] Bộ áo chia bốn ô màu xanh lam và trắng lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1931, khi mẫu áo này được giới thiệu nhằm khiến các cầu thủ trông to lớn và đáng sợ hơn.[41] Rovers tiếp tục mặc áo chia bốn ô trong 31 năm, cho đến khi mẫu áo này được thay bằng áo trắng có sọc dọc mảnh màu xanh lam.[40]
Trong 10 năm tiếp theo, Rovers lần lượt sử dụng áo sọc xanh lam - trắng, toàn bộ màu xanh lam, rồi áo xanh lam với quần trắng trước khi quay trở lại mẫu áo chia bốn ô màu xanh lam - trắng vào năm 1973, và đó vẫn là màu áo của đội kể từ đó.[40] Trong mùa giải 1996-97, Rovers mặc một mẫu áo chia ô có sọc không được ưa chuộng, khiến người hâm mộ gọi đó là những chiếc áo kiểu túi Tesco.[42] Sự thay đổi trong thiết kế này còn khiến tạp chí cổ động viên Trumpton Times đổi tên thành Wot, No Quarters? [43]
Bộ áo màu đen và vàng kim cũng được sử dụng làm trang phục sân khách trong mùa giải 2002-03, mùa giải kỷ niệm 120 năm thành lập đội bóng.[cần dẫn nguồn]
Năm 2005, Rovers thực hiện một trò đùa ngày Cá tháng Tư trên trang web chính thức của mình, nói rằng bộ trang phục sân khách mới của đội sẽ có toàn màu hồng. Dù ban đầu chỉ là một trò đùa, một số người hâm mộ đã kiến nghị đội bóng thực sự sản xuất bộ áo này, đồng thời cũng đề xuất số tiền thu được từ việc bán áo hồng nên được quyên góp cho một tổ chức từ thiện về ung thư vú.[44] Dù những chiếc áo màu hồng chưa bao giờ được sử dụng trong một trận đấu chính thức, chúng đã được mặc trong một trận giao hữu trước mùa giải gặp Plymouth Argyle vào năm 2006.[45]
Hình ảnh một tên cướp biển xuất hiện trên cả huy hiệu đội bóng lẫn huy hiệu của hội cổ động viên,[46] phản ánh biệt danh The Pirates của đội bóng. Những huy hiệu trước đây của đội từng có thiết kế chia bốn ô màu xanh lam - trắng, dựa trên mẫu áo chia bốn ô của đội.
Nhà cung cấp trang phục và nhà tài trợ
Rovers lần đầu sử dụng Bukta làm nhà cung cấp trang phục chính thức vào năm 1977, còn Great Mills trở thành nhà tài trợ áo đấu đầu tiên từ năm 1981. Nhà cung cấp trang phục gắn bó lâu nhất với Rovers là Errea, đơn vị đã cung cấp trang phục cho đội bóng trong 11 năm (2005-16).[47][48] Hợp đồng tài trợ trang phục kéo dài lâu nhất của đội bóng là với công ty địa phương Cowlin Construction, đơn vị đã tài trợ cho đội bóng trong 11 năm trước khi kết thúc thỏa thuận vào năm 2009.[49] Sau khi thỏa thuận với Cowlin kết thúc, các nhà tài trợ được lựa chọn bằng hình thức rút thăm thông qua 1883 Club.[50] Quy trình này kéo dài 9 mùa giải trước khi đội bóng công bố Football INDEX là nhà tài trợ mới cho cả áo sân nhà lẫn áo sân khách.[51] Năm 2019, Utilita trở thành nhà tài trợ chính trên áo đấu sân nhà và sân khách cho mùa giải 2019-20,[52] và thỏa thuận này sau đó được gia hạn vào tháng 7 năm 2020 để bao gồm cả mùa giải 2020-21,[53] đánh dấu lần đầu tiên kể từ khi hợp đồng tài trợ của Cowlin kết thúc vào năm 2009 mà một nhà tài trợ áo đấu gắn bó với đội bóng lâu hơn 1 mùa giải.
| Giai đoạn | Nhà cung cấp trang phục | Nhà cung cấp trang phục sân nhà | Nhà cung cấp trang phục sân khách |
|---|---|---|---|
| 1977-1981 | Bukta | Không có nhà tài trợ | |
| 1981-1983 | Great Mills | ||
| 1983-1984 | Toshiba | ||
| 1984-1986 | Hobott | ||
| 1986-1987 | Henson | Peter Carol | |
| 1987-1988 | Design Windows | ||
| 1988-1990 | Spall | Design Windows | Universal Components |
| 1990-1992 | Design Windows | ||
| 1992-1993 | Roman Glass | ||
| 1993-1995 | Matchwinner | ||
| 1995-1996 | Le Coq Sportif | Elite Hampers | |
| 1996-1997 | Cica | Bradshaw's Snack Box | |
| 1997-1998 | The Jelf Group | ||
| 1998-1999 | Cowlin Construction | ||
| 1999-2001 | Avec | ||
| 2001-2005 | Strikeforce | ||
| 2005-2009 | Errea | ||
| 2009-2010 | N-Gaged | Stevens, Hewlett & Perkins | |
| 2010-2011 | Smart Computers | Stalbridge Linen | |
| 2011-2012 | McCarthy Waste | ITS | |
| 2012-2013 | Opus Recruitment Solutions | CR Windows | |
| 2013-2014 | Eurocams | Highspec Travel Services | |
| 2014-2015 | Arco | Office Beverages | |
| 2015-2016 | The Sportsman Pub | Pensord Press | |
| 2016-2017 | Macron | Dribuild | Powersystems UK Ltd |
| 2017-2018 | Thorntons Travel | Barrs Court Construction | |
| 2018-2019 | Football INDEX | ||
| 2019-2024 | Utilita Energy | ||
| 2024-nay | FanHub | ||
Sân vận động
Danh sách các sân vận động
- Purdown - 1883-1884
- Three Acres - 1884-1891
- Schoolmasters Cricket Ground - 1891-1892
- Durdham Down - 1892-1894
- Ridgeway - 1894-1897
- Sân vận động Eastville - 1897-1986
- Twerton Park - 1986-1996
- Sân vận động Memorial - 1996-nay
Lịch sử
Rovers chơi các trận sân nhà tại Sân vận động Memorial ở Horfield, một sân vận động mà trước đây đội từng dùng chung với Bristol Rugby. Đội bóng chuyển tới The Mem, tên gọi không chính thức của sân, vào đầu mùa giải 1996-97, ban đầu với tư cách bên thuê sân, nhưng đã mua lại sân này 2 năm sau đó.[54]
Khi Bristol Rovers còn mang tên Black Arabs F.C. vào năm 1883, đội chơi các trận sân nhà tại Purdown, Stapleton.[cần dẫn nguồn] Năm sau đó, đội chuyển tới Three Acres, nơi có vị trí chính xác không còn được biết rõ, nhưng được cho là nằm trong khu vực Ashley Down của Bristol, và đội ở đó suốt 7 năm.[cần dẫn nguồn] Sau đó là những giai đoạn ngắn thi đấu tại Schoolmasters Cricket Ground, Durdham Down và Ridgeway.
Trong phần lớn lịch sử của mình, Bristol Rovers chơi các trận sân nhà tại Sân vận động Eastville, nơi đội gắn bó trong 89 năm từ 1897 đến 1986.[cần dẫn nguồn] Những khó khăn tài chính khiến đội buộc phải rời Eastville, nơi hiện nay là một cửa hàng IKEA.[cần dẫn nguồn] Bristol Rovers sau đó tìm được một sân nhà tạm thời tại Twerton Park, sân của Bath City.[cần dẫn nguồn] Đội ở lại Bath trong 10 năm trước khi trở về Bristol vào năm 1996.
Rovers cũng đã chơi 5 trận sân nhà tại Sân vận động Ashton Gate, sân nhà của đối thủ Bristol City, sau vụ cháy thiêu rụi khán đài phía nam của Sân vận động Eastville trong đêm 16-17 tháng 8 năm 1980.[55] Rovers trở lại Eastville vào tháng 10 năm 1980. Trong Chiến tranh thế giới thứ Hai, một số trận giao hữu được tổ chức tại Kingswood, và trong giai đoạn đầu lịch sử, một số trận đấu cũng được chơi tạiParson Street, Bedminster[2]
Vào tháng 1 năm 2007, giấy phép quy hoạch đã được cấp cho việc xây dựng một sân vận động mới có sức chứa 18.500 chỗ trên khu đất của Sân vận động Memorial.[56] Dự án này sau đó bị hủy bỏ sau một loạt lần trì hoãn.[57][58][59] Vào tháng 6 năm 2011, đội bóng công bố ý định chuyển đến một sân vận động mới với 21.700 chỗ ngồi tại khuôn viên Frenchay của University of the West of England.[60] Dự án UWE Stadium sau đó bị gác lại vào tháng 8 năm 2017 do những bất đồng giữa đội bóng và trường đại học.[61]
Năm 2017, đã có một buổi thu âm tiếng đám đông tại Sân vận động Memorial cho Early Man, một bộ phim của Aardman ra mắt năm 2018.[62]
Vào tháng 6 năm 2020, đội bóng bắt đầu xây dựng một cơ sở tập luyện mới tại khu đất trên Hortham Lane, Almondsbury, gần Đường cao tốc M5.[16] Khu đất này dự kiến bao gồm 2 sân kích thước đầy đủ, một khu tập cho thủ môn, một phòng gym và một tòa nhà câu lạc bộ.[16] Sau khi đã sở hữu khu đất này từ năm 2017,[17] trước đó không có công việc nào được thực hiện, cho đến khi đội bóng chuyển vào sân tập này vào đầu tháng 10 năm 2020..[63]
Vào ngày 6 tháng 4 năm 2023, Wholesale Bristol Fruit Market và Conygar Investment Company đã có những động thái ban đầu nhằm tiến tới việc xây dựng một sân vận động mới tại khu chợ ở St. Philips Marsh. Đội bóng xem đây là "một bước đi đúng hướng" đối với kế hoạch xây sân mới, sau khi đã tham gia thảo luận trong vòng 2+1⁄2 năm trước đó.[64] Vào tháng 10 năm 2023, ông chủ mới Hussain AlSaeed xác nhận rằng kế hoạch chuyển đến khu đất này của đội bóng đã không còn được tiếp tục, và thay vào đó họ sẽ tái phát triển Sân vận động Memorial.[65]
Văn hóa cổ động viên
Đội bóng theo truyền thống nhận được phần lớn sự ủng hộ từ khu vực phía bắc và phía đông của Bristol[66] cũng như South Gloucestershire. Nhiều thị trấn và làng mạc trong khu vực xung quanh cũng là nơi sinh sống của những nhóm người ủng hộ Rovers đáng kể.[40]
Biệt danh dành cho những người ủng hộ Bristol Rovers là "Gasheads".[67] "The Gas" ban đầu là một cách gọi mang tính miệt thị do người ủng hộ đối thủ Bristol City của Bristol Rovers đặt ra, nhằm ám chỉ nhà máy khí đốt lớn nằm cạnh sân cũ của Bristol Rovers tại Eastville, Bristol, nơi mùi khí đốt thành phố đôi khi nồng nặc bay qua đám đông trên khán đài.[40] "Gasheads" được một nhóm nhỏ người ủng hộ Rovers sử dụng làm tên gọi từ khoảng giữa thập niên 1980 đến đầu thập niên 1990.[cần dẫn nguồn] Khẩu hiệu "Proud to be a Gashead" sau đó lan rộng tới những người ủng hộ nói chung, và một tạp chí cổ động viên mang tên The Gashead cũng đã được xuất bản.
Thuật ngữ "Gasheads" hiện nay được truyền thông Anh và giới bóng đá Anh sử dụng rộng rãi để chỉ những người ủng hộ Bristol Rovers.[68] Sau khi đội bóng xuống Third Division vào năm 2001, đội đã dành số áo 12 cho Gasheads, xem họ là cầu thủ thứ 12 của đội để ghi nhận sự ủng hộ trung thành đó.[67]
Cựu nghị sĩ Đảng Bảo thủ đại diện cho khu vực Hayes and Harlington là Terry Dicks là một người hâm mộ Bristol Rovers. Ông đã nhắc tới đội bóng trong quốc hội ("hiện đang chật vật ở giải hạng Hai của Endsleigh League") vào ngày 5 tháng 5 năm 1994 khi tranh luận với nghị sĩ Đảng Lao động và người hâm mộ Chelsea là Tony Banks. Những người hâm mộ nổi tiếng khác gồm có các nhạc sĩ địa phương Roni Size [69] và Geoff Barrow của Portishead, cùng tác giả David Goldblatt. Cựu cầu thủ và cựu huấn luyện viên của Bristol Rovers là Ian Holloway, người cũng từng dẫn dắt Queens Park Rangers và Blackpool, đồng thời xuất hiện với vai trò bình luận viên, vẫn là một người hâm mộ lớn của đội bóng.
Dựa trên số liệu thống kê công bố vào tháng 9 năm 2014 bởi Home Office,[70] lực lượng cổ động viên của Rovers bị gọi là nhóm cổ động viên bóng đá Anh nguy hiểm nhất trong mùa giải 2013-14, với 57 vụ bắt giữ trong mùa giải đó, trong đó 35% là vì "gây rối bạo lực". Đặc biệt nguy hiểm là cảnh tượng vào ngày 3 tháng 5 năm 2014 khi Rovers chính thức xuống hạng khỏi Football League lần đầu tiên.[71]
Người hâm mộ Rovers có mối quan hệ tốt với đội bóng Tây Ban Nha CE Sabadell FC, mối quan hệ ban đầu hình thành khi một số người hâm mộ Rovers nhận ra rằng đội bóng này có cùng màu áo.[72] Vào tháng 7 năm 2016, hai đội đã thi đấu với nhau trong một trận giao hữu trước mùa giải tại Tây Ban Nha.[73]
Hiện có một tạp chí cổ động viên bản in của Bristol Rovers đang hoạt động với tên gọi Last Saturday Night.[74] Ngoài ra còn có một podcast và blog do người hâm mộ điều hành mang tên GasCast.[75][76]
Bài hát câu lạc bộ
Ca khúc gắn liền với Rovers là "Goodnight, Irene", do Lead Belly sáng tác.[77]
Có nhiều ý kiến khác nhau về việc điều này bắt đầu như thế nào, nhưng người ta cho rằng bài hát trở nên phổ biến vào thập niên 1950, khi một phiên bản của ca khúc này xuất hiện trên bảng xếp hạng tại Anh - câu hát "sometimes I have a great notion to jump in the river and drown" dường như đặc biệt phù hợp mỗi khi Rovers thua trận, vì sông Bristol Frome chảy dọc bên cạnh sân Eastville cũ.[40] Người ta tin rằng John Clapham là người đã góp phần tạo ra truyền thống này, vì ông từng làm việc tại sân Eastville cho các cuộc đua chó săn và đĩa nhạc cuối cùng ông thường phát vào cuối đêm là "Goodnight Irene"; ông cũng có một cô con gái tên là Irene. Sau đó, đĩa nhạc được để lại trong máy và được phát trong bóng đá.[40] Một giả thuyết khác cho rằng bài hát được hát trong một buổi bắn pháo hoa tại sân vào đêm trước trận sân nhà gặp Plymouth Argyle trong thập niên 1950. Trong trận đấu ngày hôm sau, Rovers dẫn trước khá thoải mái và số ít cổ động viên Argyle có mặt bắt đầu ra về sớm, khiến cổ động viên Rovers hát vang câu "Goodnight Argyle" - giai điệu đó được giữ lại và "Irene" trở thành bài hát của đội bóng.[78]
Một bài hát khác cũng rất được yêu thích của Bristol Rovers là "Tote End Boys", do Ben Gunstone sáng tác và thể hiện. Tên gọi này bắt nguồn từ nhóm Gasheads từng đứng ở khu khán đài đứng Tote End tại sân nhà cũ của Rovers là Sân vận động Eastville.
Cầu thủ
- Tính đến 2 tháng 3 năm 2026[79]
Đội hình hiện tại
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Đội Phát triển và Đội U-18
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
Những cựu cầu thủ nổi bật
Đại sảnh Danh vọng
Đội bóng đã ra mắt Đại sảnh Danh vọng chính thức vào năm 2021, phối hợp với podcast Retro Rovers, với mục đích ghi nhận những cầu thủ và huấn luyện viên đã tạo ra ảnh hưởng lớn nhất. Có thông báo rằng 10 người sẽ được đưa vào Đại sảnh Danh vọng với nhịp độ 1 người mỗi tuần trong nửa đầu năm 2021, và sau đó mỗi năm sẽ bổ sung thêm 3 người.[80] Người đầu tiên được đưa vào là huyền thoại ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại của câu lạc bộ, Geoff Bradford.
| Số thứ tự vinh danh | Tên | Số lần ra sân | Số bàn thắng | Giai đoạn | Ngày được vinh danh | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Geoff Bradford | 461 | 242 | 1949-1964 | 26 tháng 2 năm 2021[81] | Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất lịch sử câu lạc bộ |
| 2 | Stuart Taylor | 546 | 28 | 1965-1980 | 5 tháng 3 năm 2021[82] | Cầu thủ ra sân nhiều nhất lịch sử câu lạc bộ |
| 3 | Harry Bamford | 486 | 5 | 1945-1958 | 12 tháng 3 năm 2021[83] | Cầu thủ có số lần ra sân nhiều thứ hai cho câu lạc bộ. |
| 4 | Alfie Biggs | 463 | 197 | 1953-1961 & 1962-1968 | 19 tháng 3 năm 2021[84] | Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng thứ hai trong lịch sử câu lạc bộ. |
| 5 | Ray Warren | 450 | 28 | 1936-1956 | 26 tháng 3 năm 2021[85] | Đội trưởng giành danh hiệu ở mùa giải 1952-53. |
| 6 | Jack Pitt | 499 | 16 | 1946-1960 | 3 tháng 4 năm 2021[86] | Gắn bó với câu lạc bộ suốt 50 năm với vai trò cầu thủ, huấn luyện viên và người chăm sóc sân |
| 7 | George Petherbridge | 457 | 85 | 1945-1962 | 9 tháng 4 năm 2021[87] | Cầu thủ có số lần ra sân tại Cúp FA nhiều hơn bất kỳ ai khác trong lịch sử câu lạc bộ. |
| 8 | Mickey Barrett | 129 | 18 | 1979-1984 | 16 tháng 4 năm 2021[88] | Cầu thủ tài năng, được người hâm mộ yêu mến, qua đời vì ung thư phổi vào năm 1984 khi mới 24 tuổi |
| 9 | Harold Jarman | 452 | 127 | 1959-1973 (player) 1979-1980 (manager) |
23 tháng 4 năm 2021[89] | Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng thứ ba trong lịch sử câu lạc bộ |
| 10 | Josser Watling | 323 | 19 | 1945-1963 | 30 tháng 4 năm 2021[90] | Cựu cầu thủ Rovers lớn tuổi nhất còn sống. Ông qua đời vào ngày 3 tháng 6 năm 2023, hưởng thọ 98 tuổi.[91] |
Các cầu thủ nổi bật khác
Đây là danh sách những cựu cầu thủ đáng chú ý khác của Bristol Rovers Football Club (không bao gồm những người đã được nêu trong Ngôi đền huyền thoại ở trên), trong đó ghi rõ giai đoạn mỗi cầu thủ gắn bó với đội bóng, quốc tịch và lý do họ được đưa vào danh sách. Để có mặt trong danh sách này, một cầu thủ phải có hơn 400 lần ra sân ở giải vô địch cho đội bóng, ghi hơn 100 bàn tại giải vô địch, hoặc đang nắm giữ một kỷ lục của đội bóng.
- Lưu ý: mọi chi tiết đều lấy từ Byrne & Jay (2003), trừ khi có ghi chú khác
| Năm | Quốc gia | Cầu thủ | Thành tích | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| 1928-1932 | Anh | Ronnie Dix | Cầu thủ trẻ nhất từng ra sân cho đội bóng, ở tuổi 15 năm 173 ngày. Cầu thủ ghi bàn trẻ nhất trong lịch sử The Football League, ở tuổi 15 năm 180 ngày. |
[92] |
| 1945-1955 | Anh | Vic Lambden | Ghi 117 bàn sau 268 lần ra sân tại giải vô địch. | |
| 1945-1962 | Anh | George Petherbridge | Ra sân 457 trận tại giải vô địch. | |
| 1953-1962 | Tập tin:Flag of Kenya (1921–1963).svg Kenya | Peter Hooper | Ghi 101 bàn sau 297 trận tại giải vô địch. | |
| 1956-1973 | Anh | Bobby Jones | Ra sân 421 trận tại giải vô địch và ghi 101 bàn. | |
| 1959-1973 | Anh | Harold Jarman | Ra sân 452 trận tại giải vô địch và ghi 127 bàn. | |
| 1981-1999 | Anh | Ian Holloway | Được người hâm mộ bầu chọn là biểu tượng được yêu mến nhất trong một cuộc thăm dò của BBC. | [93] |
| 1987-1989 | Anh | Nigel Martyn | Trở thành thủ môn đầu tiên có mức phí chuyển nhượng đạt 1 triệu bảng khi được bán cho Crystal Palace. | [94] |
| 1992-2000 | Anh | Andy Tillson | Bản hợp đồng kỷ lục và cựu đội trưởng của đội bóng. | [95] |
| 1997-1999 | Tập tin:Flag of Jamaica.svg Jamaica | Barry Hayles | Thương vụ bán cầu thủ kỷ lục của đội bóng khi anh chuyển tới Fulham với giá 2.100.000 bảng. | |
| 2000-2003 | Latvia | Vitālijs Astafjevs | Cầu thủ của Bristol Rovers có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất, với 31 lần ra sân cho Latvia trong thời gian chơi 158 trận cho Rovers. | [95] |
| 2016-2018 | Anh | Byron Moore | Người ghi bàn thắng nhanh nhất của Rovers tại giải vô địch (11 giây) trong trận gặp AFC Wimbledon | [96] |
Ban nhân sự đội bóng
Nhân sự đội bóng
Tính đến ngày 27 tháng 1 năm 2026[97]
| Chức danh | Tên |
|---|---|
| Huấn luyện viên trưởng | Steve Evans |
| Trợ lý huấn luyện viên trưởng | Paul Raynor |
| Huấn luyện viên thủ môn | James Bittner |
| Trưởng bộ phận y tế và thể lực | Gavin Crowe |
| Bác sĩ đội bóng | John Moore |
| Chuyên viên vật lý trị liệu thể thao | Leighanne Kelly |
| Giám đốc bóng đá | Ricky Martin |
| Trưởng bộ phận tuyển trạch | Chris Spendlove |
| Trưởng bộ phận phân tích | Liam McCartan |
| Chuyên gia khoa học thể thao phụ trách chính | Kyler Burns |
| Huấn luyện viên sức mạnh và điều kiện thể chất | Sam Pashen |
| Giám đốc học viện | Byron Anthony |
| Huấn luyện viên phụ trách giai đoạn phát triển trẻ (U13-U16) | Phil Hicks |
| Huấn luyện viên phụ trách giai đoạn nền tảng | Jake Sainsbury |
| Nhân viên chăm sóc mặt sân | Ben Ford |
| Quản lý trang phục | Josh Evans |
| Trợ lý quản lý trang phục | Tom Foley |
Ban lãnh đạo
| Chức vụ | Tên[12] |
|---|---|
| Chủ tịch | Hussain AlSaeed |
| Chủ tịch danh dự | Wael al-Qadi |
| Phó chủ tịch điều hành | Abdullatif AlSaeed |
| Thành viên hội đồng quản trị | Khaled Alkandari |
| Thành viên hội đồng quản trị | Abdulaziz Alroomi |
| Giám đốc bóng đá | Ricky Martin |
| Giám đốc thương mại và doanh thu | Ritchie Bates |
Lịch sử huấn luyện viên
Đã có 36 người được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Bristol Rovers Football Club, không tính các huấn luyện viên tạm quyền.[98][99] Bobby Gould, Gerry Francis và John Ward là những người duy nhất được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chính thức của đội bóng 2 lần, dù rằng Garry Thompson từng có một giai đoạn làm huấn luyện viên tạm quyền trước khi sau đó được bổ nhiệm chính thức, còn Phil Bater cũng từng làm huấn luyện viên tạm quyền 2 lần.
- Alfred Homer 1899-1920
- Ben Hall 1920-21
- Andrew Wilson 1921-26
- Joe Palmer 1926-29
- David McLean 1929-30
- Albert Prince-Cox 1930-36
- Percy Smith 1936-37
- Brough Fletcher 1938-50
- Bert Tann 1950-68
- Fred Ford 1968-69
- Bill Dodgin Sr. 1969-72
- Don Megson 1972-77
- Bobby Campbell 1977-79
- Harold Jarman 1979-80
- Terry Cooper 1980-81
- Ron Gingell 1981 (tạm quyền)
- Bobby Gould 1981-83
- David Williams 1983-85
- Bobby Gould 1985-87
- Gerry Francis 1987-91
- Martin Dobson
- Dennis Rofe
- Malcolm Allison 1992-93
- Steve Cross 1993 (tạm quyền)
- John Ward 1993-96
- Ian Holloway 1996-2001 (player-manager 1996-99)
- Garry Thompson 2001 (tạm quyền)
- Gerry Francis 2001
- Garry Thompson 2001-02
- Phil Bater 2002 (tạm quyền)
- Ray Graydon 2002-04
- Phil Bater 2004 (tạm quyền)
- Russell Osman & Kevan Broadhurst 2004 (joint caretakers)
- Ian Atkins 2004-05
- Paul Trollope 2005-10
- Darren Patterson 2010-11 (tạm quyền)
- Dave Penney 2011
- Stuart Campbell 2011 (tạm quyền)
- Paul Buckle 2011-12
- Shaun North 2012 (tạm quyền)
- Mark McGhee 2012
- John Ward 2012-14
- Darrell Clarke 2014-18
- Graham Coughlan 2018-19 (tạm quyền)
- Graham Coughlan 2019
- Joe Dunne 2019 (tạm quyền)
- Kevin Maher 2019 (tạm quyền)
- Ben Garner 2019-20
- Tommy Widdrington 2020 (tạm quyền)
- Paul Tisdale 2020-21
- Tommy Widdrington 2021 (tạm quyền)
- Joey Barton 2021-2023
- Andy Mangan 2023 (tạm quyền)
- Matt Taylor 2023-2024
- Iñigo Calderón 2024-2025
- Darrell Clarke 2025
Học viện trẻ
Học viện Bristol Rovers hiện đang hoạt động tại The City Academy Bristol và Sir Bernard Lovell School. Những thành viên hiện tại của đội một như Ellis Harrison, Alfie Kilgour, Tom Lockyer và Jed Ward đều trưởng thành từ học viện trước khi ký hợp đồng chuyên nghiệp.[100] Vào tháng 5 năm 2021, cầu thủ đội U16 Kyrie Pierre đã ký hợp đồng với Aston Villa với mức phí 6 chữ số không được tiết lộ, đây là khoản phí kỷ lục mà học viện từng nhận được cho một cầu thủ.[101]
Một cựu thành viên khác của học viện là Scott Sinclair, người đã được Chelsea chiêu mộ vào năm 2005 với giá 200.000 bảng, ngoài ra đội bóng cũ còn có thể nhận thêm các khoản thanh toán bổ sung tùy theo thành tích thi đấu.[102]
Những cầu thủ khác trưởng thành từ học viện hiện đang ký hợp đồng với các đội bóng thuộc Premier League hoặc English Football League gồm có Ryan Broom (Cheltenham Town), Ollie Clarke (Swindon Town), Matt Macey (Colchester United) và Kofi Shaw (Brighton & Hove Albion.[cần dẫn nguồn]
Đội nữ
Đội bóng trước đây từng có một đội nữ, được thành lập vào năm 1998 với tên Bristol Rovers W.F.C., sau khi sáp nhập với Cable-Tel L.F.C.. Việc sáp nhập này diễn ra vì Bristol Rovers khi đó chỉ có các đội bóng nữ trẻ đến cấp độ dưới 16 tuổi, nên khi các cầu thủ nữ bước sang tuổi 16, họ buộc phải rời đội bóng. Sự hợp nhất với Cable-Tel đồng nghĩa Bristol Rovers có được đội một. Tên của đội được đổi thành Bristol Academy W.F.C. vào năm 2005, nhằm phản ánh khoản đầu tư gia tăng từ Bristol Academy of Sport. Năm 2016, Bristol Academy được đổi thương hiệu thành Bristol City sau một thỏa thuận tài trợ với đối thủ cùng địa phương của Rovers.[103]
Năm 2019, Bristol Rovers Community Trust đã tái khởi động đội nữ.[104] They began fielding two teams in the Gloucestershire County Women's Football League in the 2019-20 season.
Năm 2024, đội bóng thông báo rằng họ sẽ tiếp quản việc quản lý đội nữ. Sau 3 lần thăng hạng, đội hiện thi đấu tại FA Women's National League Division One.[105]
Kỉ lục
Tỉ số
- Chiến thắng đậm nhất tại giải vô địch:[106]
- 7-0 (v Brighton & Hove Albion, Division Three (South), 29 tháng 11 năm 1952)
- 7-0 (v Swansea City, Division Two, 2 tháng 10 năm 1954)
- 7-0 (v Shrewsbury Town, Division Three, 21 tháng 3 năm 1964)
- 7-0 (v Alfreton Town, Conference Premier, 25 tháng 4 năm 2015)[107]
- 7-0 (v Scunthorpe United, League Two, 7 tháng 5 năm 2022)[108]
- Chiến thắng đậm nhất tại giải cúp:
- Vòng đấu chính:
- 6-0 (v Merthyr Tydfil, Vòng Một Cúp FA, 14 tháng 11 năm 1987)[106]
- 6-0 (v Darlington, Vòng Hai Cúp FA, 29 tháng 11 năm 2020)[109]
- Vòng loại: 15-1 (v Weymouth, FA Cup Third Qualifying Round, 17 tháng 11 năm 1900)[106]
- Thất bại nặng nề nhất tại giải vô địch: 0-12 (v Luton Town, Division Three South, 13 tháng 4 năm 1936)[110]
Cầu thủ
- Số lần ra sân nhiều nhất tại giải vô địch: 546 - Stuart Taylor, 1966-1980[111]
- Số bàn thắng nhiều nhất cho câu lạc bộ: 242 - Geoff Bradford, 1949-1964[111]
- Số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải:: 33 - Geoff Bradford, 1952-53[111]
- Mức phí chuyển nhượng cao nhất từng chi ra: 500.000 bảng Anh - Promise Omochere từ Fleetwood Town 2024 [111]
- Mức phí chuyển nhượng cao nhất từng thu về: 2.600.000 bảng Anh - Barry Hayles đến Fulham, tháng 11 năm 1998[cần dẫn nguồn]
Khác
- Kỷ lục khán giả sân nhà: 38.472 (v Preston North End, Cúp FA, 30 tháng 1 năm 1960)[112]
- Thành tích tốt nhất tại Cúp FA: Tứ kết, 1950-51, 1957-58, 2007-08[6]
- Thành tích tốt nhất tại League Cup: Tứ kết: 1970-71, 1971-72[6]
- Thành tích tốt nhất tại League Trophy: Á quân, 1989-90, 2006-07[6]
- Thành tích tốt nhất tại FA Trophy: Vòng Một, 2014-15[6]
Danh hiệu
Bristol Rovers đã giành được những danh hiệu sau đây:[6][113]
Giải vô địch
- Third Division South / Third Division (cấp độ 3)
- Fourth Division / League Two (cấp độ 4)
- Conference Premier (cấp độ 5)
- Thắng play-off: 2015
- Southern League
- Vô địch: 1904-05
- Western League
Cúp
- Associate Members' Cup / Football League Trophy
- Third Division South Cup
- Vô địch: 1934-35
- Watney Cup
- Vô địch: 1972
- Gloucestershire Cup
- Vô địch (32): 1888-89, 1902-03, 1904-05, 1913-14, 1924-25, 1927-28, 1934-35, 1935-36, 1937-38, 1947-48, 1948-49, 1950-51, 1953-54, 1954-55, 1955-56, 1958-59, 1962-63, 1963-64, 1964-65, 1965-66, 1967-68, 1973-74, 1974-75, 1981-82, 1982-83, 1983-84, 1984-85, 1988-89, 1989-90, 1992-93, 1993-94, 1994-95
Ghi chú
Tham khảo
- ^ "Bristol Rovers consult residents". BBC News. ngày 19 tháng 7 năm 2024.
- ^ a b Byrne, Stephen; Jay, Mike (2003). Bristol Rovers Football Club - The Definitive History 1883-2003. Stroud: Tempus. ISBN 0-7524-2717-2.
- ^ Byrne & Jay (2003), p29
- ^ Byrne & Jay (2003), p229
- ^ "Wanderers send the Gas down". Chairboys on the Net. ngày 2 tháng 5 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2008.
- ^ a b c d e f g h i j "Bristol Rovers". Football Club History Database. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
- ^ Byrne & Jay (2003), p242
- ^ "Promotion to/Relegation from the Football League". The Pyramid.info. ngày 9 tháng 1 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
- ^ "League Two: Bristol Rovers relegated after Wycombe and Northampton win". The Guardian. ngày 3 tháng 5 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014.
- ^ Mitchell, Brendon (ngày 17 tháng 5 năm 2015). "Bristol Rovers 1-1 Grimsby". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2015.
- ^ "Bristol Rovers: Al-Qadi family complete takeover of League Two club". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2016.
- ^ a b "Bristol Rovers FC Club Contacts". Bristol Rovers Football Club. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016.
- ^ Geoff Twentyman (presenter) & Steve Hamer (guest) (ngày 19 tháng 2 năm 2016). Friday Night Sport (Radio broadcast). Bristol: BBC Radio Bristol. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2016.
- ^ "Bristol Rovers won promotion to League One in dramatic fashion". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Wael Al-Qadi: Bristol Rovers president takes full control of club". BBC Sport. ngày 19 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2024.
- ^ a b c "Work To Begin at Training Ground Site Next Week". Bristolrovers.co.uk (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2020.
- ^ a b "THE COLONY TRAINING GROUND". Bristolrovers.co.uk (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2020.
- ^ Frost, Sam (ngày 4 tháng 6 năm 2020). "Bristol Rovers announce The Colony training ground will be ready for next season". Bristol Post. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Club Statement: New Ownership". www.bristolrovers.co.uk. ngày 3 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2023.
- ^ "Club Statement | Shareholder Agreement Reached". www.bristolrovers.co.uk. ngày 22 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2024.
- ^ Greg Struthers (ngày 24 tháng 2 năm 2008). "Caught in time: Bristol Rovers win the Watney Cup, 1972". The Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
- ^ "Anglo-Italian Cup 1992-93". Football Club History Database. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
- ^ a b c "Up for the Cup". bristolrovers.co.uk. ngày 1 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2008.
- ^ Byrne & Jay (2003), p221
- ^ "FA Cup quarter-final draw". BBC Sport. ngày 27 tháng 2 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2008.
- ^ "Bristol Rovers 2-3 Doncaster AET". BBC Sport. ngày 1 tháng 4 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2008.
- ^ "Club rivalries uncovered" (PDF). Football Fans Census. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2008.
- ^ "Football Rivalries Report 2008". The Football Pools. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2013.
- ^ Caroline Chapman (ngày 5 tháng 9 năm 2013). "Bristol City v Bristol Rovers: Managers condemn pitch invasion". BBC Sport. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2022.
- ^ "Bristol Rovers football club: record v Bristol City". 11v11. AFS Enterprises. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2024.
- ^ O'Brien, Chris (ngày 9 tháng 12 năm 2004). "Bluebird to the Bone - Football Rivalries: The Complete Results". sportnetwork. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2013.
- ^ a b "Bristol Rovers Football Club: record v Cardiff City". 11v11. AFS Enterprises. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Yeovil Town vs Bristol Rovers results in Johnstone's Paint Trophy". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2013.
- ^ a b "Bristol Rovers Football Club: record v Yeovil Town". 11v11. AFS Enterprises. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Bristol Rovers Football Club: record v Swindon Town". 11v11. AFS Enterprises. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Bristol Rovers Football Club: record v Cheltenham Town". 11v11. AFS Enterprises. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Bristol Rovers Football Club: record v Forest Green Rovers". 11v11. AFS Enterprises. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Rovers full of eastern promise". The Football League. ngày 23 tháng 10 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
- ^ "Auction Live For Signed Match-Worn 140th Anniversary Shirts". Bristol Rovers.
- ^ a b c d e f g h "Bristol Rovers Frequently Asked Questions". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2007.
- ^ Byrne & Jay (2003), p161
- ^ "Bristol Rovers - Historical Kits". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2007.
- ^ "About us". Black Arab fanzine. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2007.
- ^ "Bristol Rovers fans are pretty in pink". BBC Bristol. ngày 19 tháng 4 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2007.
- ^ "Walker strike sinks Pilgrims". bristolrovers.co.uk. Bristol Rovers Football Club. ngày 29 tháng 7 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2007.
- ^ "Bristol Rovers Supporters Club logo". bristolroverssc.co.uk. Bristol Rovers Supporters Club. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2007.
- ^ "Bristol Rovers". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2017.
- ^ "Bristol Rovers join forces with Macron". Bristol Rovers F.C. ngày 28 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2017.
- ^ "No More Cowlin For Rovers". Vital Football. ngày 5 tháng 3 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2017.
- ^ "Bristol Rovers fan scoops sponsorship double". South West Business. ngày 22 tháng 4 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2017.
- ^ "New Front of Shirt Sponsor Announced". Bristol Rovers F.C. ngày 20 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Utilita Energy Announced as Front of Shirt Sponsor". Bristolrovers.co.uk (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Utilita Partnership Extended". Bristolrovers.co.uk (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Back to Bristol". bristolrovers.co.uk. Bristol Rovers Football Club. ngày 2 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2008.
- ^ Driscoll, Alex (ngày 3 tháng 11 năm 2024). "Looking back at the former stadium which hosted football and greyhound racing in Bristol". Bristol Post. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Sân vận động Memorial given go-ahead". BBC News. ngày 18 tháng 1 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2008.
- ^ "Football and rugby stay in city". BBC News. ngày 17 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2008.
- ^ "Sân vận động Memorial plans hit hurdle". BBC News. ngày 30 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2008.
- ^ "Stadium regeneration delayed". bristolrovers.co.uk. Bristol Rovers Football Club. ngày 3 tháng 6 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008.
- ^ "ROVERS ANNOUNCE NEW STADIUM PLANS". bristolrovers.co.uk. ngày 9 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2011.
- ^ McCormick, Ken (ngày 2 tháng 8 năm 2017). "Bristol Rovers abandon UWE stadium plan after club is unable to agree terms with university". Bristol Post. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2017.
- ^ "Take part in a Crowd Record for Aardman's latest movie!". Aardman.com. ngày 29 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018.
- ^ Frost, Sam (ngày 26 tháng 10 năm 2020). "Bristol Rovers to use their new training ground for first time ahead of Hull City game". Bristol Post. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2022.
- ^ "Club Statement". www.bristolrovers.co.uk. ngày 6 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2023.
- ^ "Bristol Rovers owner Hussain AlSaeed says proposed stadium move is off". BBC Sport. ngày 28 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Bristol City vs. Bristol Rovers". Football Derbies.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2007.
- ^ a b "First Team - Gasheads". Bristol Rovers F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2008.
- ^ Brown, Oliver (ngày 7 tháng 1 năm 2008). "Craig Hinton puts Bristol Rovers on a high". The Daily Telegraph. London. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008.
- ^ "9 classic Bristol underground tunes selected by Roni Size". Red Bull (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2018.
I've known Geoff since before Portishead - we still play football together, we're going to see Bristol Rovers later.
- ^ "Football-related arrests and football banning order statistics : Season 2013-14" (PDF). Assets.publishing.service.gov.uk. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
- ^ Edgley, Ross. "5 Most Dangerous Fanbases in English Football During the 2013-2014 Season". Bleacher Report. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2020.
- ^ Yong, Michael (ngày 23 tháng 4 năm 2015). "Barcelona fans from FC Sabadell [sic] to cheer on Bristol Rovers in home game against Alfreton Town". Bristol Post. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2016.
- ^ "ROVERS PRE-SEASON TOUR TO SABADELL". Bristol Rovers F.C. ngày 5 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2016.
- ^ "Last Saturday Night @LSNZine Probably the shittest Bristol Rovers fanzine ever". Twitter.com. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
- ^ "Bristol Rovers fans unite to tackle racism in stands". BBC Sport. ngày 8 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2024.
- ^ "GasCast Podcast". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Goodnight, Irene". Harry Lewman Music. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2007.
- ^ Byrne & Jay (2003), p. 225
- ^ "Bristol Rovers Squad". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Rovers Announce Official Hall of Fame!". Bristol Rovers Football Club. ngày 19 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2021.
- ^ "Hall of Fame: Geoff Bradford". Bristolrovers.co.uk. ngày 26 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2021.
- ^ "Hall of Fame: Stuart Taylor". Bristolrovers.co.uk. ngày 5 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2021.
- ^ "Hall of Fame: Harry Bamford". Bristolrovers.co.uk. ngày 12 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2021.
- ^ "Hall of Fame: Alfie Biggs". Bristolrovers.co.uk. ngày 19 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2021.
- ^ "Hall of Fame: Ray Warren". Bristolrovers.co.uk. ngày 26 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
- ^ "Hall of Fame: Jackie Pitt". Bristolrovers.co.uk. ngày 3 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Hall of Fame: George Petherbridge". Bristolrovers.co.uk. ngày 9 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Hall of Fame: Mickey Barrett". Bristolrovers.co.uk. ngày 16 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Hall of Fame: Harold Jarman". Bristolrovers.co.uk. ngày 23 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Hall of Fame: Josser Watling". Bristolrovers.co.uk. ngày 30 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Obituary - Josser Watling". www.bristolrovers.co.uk. ngày 4 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2023.
- ^ Kempson, Russell (ngày 2 tháng 10 năm 2008). "Barnsley's bright young thing Reuben Noble-Lazarus back at school". The Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2008.
- ^ "Bristol Rovers' cult heroes". BBC Sport. ngày 18 tháng 3 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2008.
- ^ Byrne & Jay (2003), p391
- ^ a b "Bristol Rovers all time records". Soccerbase. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2008.
- ^ "AFC Wimbledeon 0 1 Bristol Rovers". BBC Sport. ngày 8 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Staff Profiles". Bristol Rovers FC. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2022.
- ^ Byrne & Jay (2003), pp.479-484
- ^ "Bristol Rovers Manager History". Soccerbase. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2024.
- ^ Hargraves, Daniel (ngày 9 tháng 3 năm 2025). "Bristol Rovers verdict: Sotiriou keeps shining, academy delight and Evans' unhappy Mem return". Bristol Post. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Academy Prospect Kyrie Pierre Completes Move to Aston Villa". Bristolrovers.co.uk. ngày 17 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Chelsea compensation figures confirmed". The Football League. ngày 9 tháng 11 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2009.
- ^ "Bristol Academy to rebrand as Bristol City Women's FC". BBC Sport. ngày 20 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2019.
- ^ "Women's Football". Bristol Rovers Community Trust.
- ^ "Gas Girls Return Home To Bristol Rovers Stewardship". Bristol Rovers.
- ^ a b c "Dates & honours". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2008.
- ^ "Bristol Rovers 7-0 Alfreton Town". BBC Sport. ngày 25 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Bristol Rovers 7-0 Scunthorpe United: Joey Barton's side promoted after seven-goal win". BBC Sport. ngày 7 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Bristol Rovers 6-0 Darlington". BBC Sport. ngày 29 tháng 11 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.
- ^ "Bristol Rovers Football Club Information". Sporting Chronicle. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2007.
- ^ a b c d Rollin, Glenda; Rollin, Jack, biên tập (2006). Sky Sports Football Yearbook 2006-2007. London: Headline. tr. 115. ISBN 0-7553-1526-X.
- ^ Byrne & Jay (2003), p476
- ^ "Dates & Honours". Bristol Rovers F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2009.
Nguồn
- Byrne, Stephen; Jay, Mike (2003). Bristol Rovers Football Club - The Definitive History 1883-2003. Stroud: Tempus. ISBN 0-7524-2717-2.
Liên kết ngoài
- Supporters club website Lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2007 tại Wayback Machine
- Vital Gas
- The odd link between Bristol Rovers and the singer Leadbelly
Bản mẫu:Sport in Bristol Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).