Bước tới nội dung

Cố Hoành Ba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cố Hoành Ba
Sinh1619
Nam Kinh
Mất1664
Trương Tự Trung, Bắc Kinh

Cố Hoành Ba (chữ Hán: 顧橫波, 1619 - 1664), nguyên danh Cố Mị (顧媚), tự Mi Sinh (眉生), hiệu Hoành Ba (橫波) là một danh kỹ tài hoa sống vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh.

Nàng được mệnh danh Tần Hoài bát diễm hay còn gọi là Kim Lăng bát diễm (金陵八艷) thời Minh mạt, gồm có: Mã Tương Lan, Biện Ngọc Kinh, Lý Hương Quân, Liễu Như Thị, Đổng Tiểu Uyển, Cố Hoành Ba, Khấu Bạch MônTrần Viên Viên.

Tiểu sử

Cố thị sinh năm Vạn Lịch thứ 49 (1619) dưới triều vua Minh Thần Tông, tại huyện Thượng Nguyên, Ứng Thiên phủ (nay thuộc thành phố Nam Kinh), không rõ gốc gác. Đến thời Sùng Trinh, bà làm ca kỹ tại khu vực sông Tần Hoài, mở một tửu lâu để đón khách. 《Bản kiều tạp kí》viết rằng bà "Đoan trang rực rỡ, phong thái hơn người. Tóc mai như mây, khuôn mặt tươi tắn như hoa đào, gót chân nhỏ bé (ý chỉ việc bó chân), eo thon mềm mại nhẹ nhàng[1]". Cố Hoành Ba dung mạo đẹp đẽ, giỏi thơ phú, hội họa, biết hát Côn khúc, tính tình mạnh bạo phóng khoáng như Liễu Như Thị, người đời gọi bà là "Mi huynh" (眉兄), lại gọi Liễu Như Thị là đệ. Khi diễn kịch, bà rất thích đóng vai nam giới, điển hình là nhân vật Chu Du thời Tam quốc.

Năm 18 tuổi, bà gặp Lưu Phương (劉芳) - một trong những người bảo trợ nghệ thuật, hai người tình cảm sâu đậm, Cố Hoành Ba còn đồng ý sẽ cưới ông và rời khỏi nghề xướng kĩ. Tuy nhiên, bà sớm đổi ý định, Lưu Phương đau buồn đến mức tự sát.[2] Ba năm sau, một vị Tiến sĩ là Cung Đỉnh Tư (龚鼎孳) đến tửu lâu và mê mệt trước nhan sắc và tài năng của Cố Hoành Ba, gợi cảnh sinh tình mà tại chỗ vẽ một bức tranh về bà đang tựa cổ lên nhìn, đồng thời viết tặng một đoạn thơ:

"腰妒垂楊髮妒云,斷魂鶯語夜深聞。秦樓應被東風誤,未遣羅敷嫁使君。"

Dịch là: "Eo lả lơi làm liễu rủ phải ghen, tóc bồng bềnh làm mây trời phải tị. Tiếng chim oanh kêu thấu tận tâm can nghe thấy lúc đêm khuya. Lầu Tần ắt hẳn bị gió xuân làm lỡ dở, Nên chưa khiến La Phù gả cho sứ quân được."

Tần Lâu (秦樓) ám chỉ nơi ở của mỹ nhân, còn La Phù (羅敷) ám chỉ bài La phù hành thời nhà Hán, nói về một người con gái xinh đẹp kiên trinh, biết giữ gìn phẩm hạnh. Có lẽ vì những lời thơ này mà Cố Hoành Ba cảm động, vào năm Sùng Trinh thứ 14 (1642) thì quyết định gả cho Cung Đỉnh Tư, rũ bỏ hình tượng đài các bấy lâu mà đổi xưng "Từ Thiện Trì" (徐善持),[3] sinh cho ông một cô con gái.

Chỉ hai năm sau, quân Lý Tự Thành chiếm được Bắc Kinh. Cung Đỉnh Tư ban đầu đầu quân cho Lý Tự Thành, nhưng về sau đầu hàng nhà Thanh, nhờ đó mà bà cũng tránh được kết cục đẫm máu. Cung Đỉnh Tư được Đa Nhĩ Cổn trọng dụng, dần thăng Cấp sự trung, Thái thường tự Thiếu khanh rồi Tả đô ngự sử, cuối cùng là Lễ bộ Thượng thư, trong thời kỳ Thanh sơ đạt được chức quan rất cao. Nhờ chồng có chức quan lớn, Cố Hoành Ba cũng được nhà Thanh ban cáo mệnh Nhất phẩm Phu nhân, trong dân gian lại gọi "Viễn Sơn phu nhân" (远山夫人), quyền lực vượt xa so với một danh kỹ bình thường.

Mùa đông năm Khang Hy thứ 3 (1664), Cố Hoành Ba lâm bệnh rồi qua đời tại kinh đô. Cung Đỉnh Tư đã cho xây dựng Diêu Hương các tại chùa Trường Bổng để tưởng nhớ bà.

Tham khảo

  1. ^ nguyên văn :"庄妍靚雅,風度超群。鬢發如云,桃花滿面;弓彎纖小,腰支輕亞"
  2. ^ ( EN ) Lee Lily Xiao Hong, Clara Lau và AD Stefanowska, Từ điển tiểu sử phụ nữ Trung Quốc: xem 1: Thời kỳ nhà Thanh, 1644-1911 , Routledge, 2015, ISBN  9781317475873 .
  3. ^ 吴德旋《见闻录》指顾横波原与钱湘灵之友刘芳约为夫妇,后嫁龚鼎孳,以致"芳以情死"。