Bước tới nội dung

Mã Tương Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lan trúc Thủy tiên đồ》, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Bắc Kinh

Mã Tương Lan (chữ Hán: 馬湘蘭, 1548 - 1605), tên là Thủ Chân (守真), biểu tự Tương Lan (湘蘭), tiểu tự Huyền Nhi (玄兒), hựu tự Nguyệt Kiều (月嬌), là một kỹ nữ tài hoa sống vào cuối đời nhà Minh, đầu đời nhà Thanh.

Nàng được mệnh danh Tần Hoài bát diễm hay còn gọi là Kim Lăng bát diễm (金陵八艷) thời Minh mạt, gồm có: Mã Tương Lan, Biện Ngọc Kinh, Lý Hương Quân, Liễu Như Thị, Đổng Tiểu Uyển, Cố Hoành Ba, Khấu Bạch MônTrần Viên Viên.

Tiểu sử

Mã Tương Lan là người Nam Kinh, không rõ con cái nhà ai, nhưng vì là con thứ tư nên còn được gọi là Tứ nương.[1] Xuất thân bình dân, không rõ nguyên do vì sao mà lưu lạc đến giáo phường ở bên cạnh sông Tần Hoài. Tại đây, Mã thị được dạy dỗ bài bản về nghệ thuật, đặc biệt là về ca vũ và hý kịch, đến tuổi 15 thì chính thức trở thành ca nữ. Nhờ dung mạo xinh đẹp và tài năng thiên phú, bà nhanh chóng trở nên nổi tiếng tại đây.

Là một ca nữ nổi danh, bà thường chỉ đón tiếp những vị học giả nổi tiếng đương thời hoặc quyền cao chức trọng để đối đáp văn thơ, nhờ đó mà được nhiều quan quyến bảo trợ về nghệ thuật. Người đầu tiên bảo trợ cho bà mang họ Bùi, là học trò của Văn Trưng Minh - nam nhân kiệt xuất đương thời, một trong Minh tứ gia và được xưng tụng là tài tử vùng Ngô Trung, qua đời khi Tương Lan mới 18 tuổi. Mối quan hệ tri kỷ sâu sắc nhất của bà phải kể đến Vương Trĩ Đăng (王稚登), tự Bách Cốc, một trong những tài tử hàng đầu vùng Giang Nam thời bấy giờ, là người khởi xướng Nam Bình xã. Hai người đã duy trì hơn ba mươi năm, thậm chí vào đại thọ 70 tuổi của ông (1604), Mã Tương Lan không tiếc tiền đã tổ chức một chuyến du thuyền xa hoa kéo dài suốt mấy tháng trời, lại tô điểm bằng hơn mười ca nữ mà bà mang theo, khung cảnh tráng lệ vô cùng (mặc dù gần đây có nhiều học giả cho rằng điều này không thể xảy ra vì lúc đó Tương Lan đã rất yếu, chỉ một năm sau là qua đời (1605).[2]

Chẳng lâu sau khi tổ chức đại tiệc, bà lâm bệnh nặng. Sang năm sau (1605), bà qua đời một cách bình yên tại

Hoa Lan và Đá, 1572, hiện nằm tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan\

nhà ở tuổi 57.

Phong cách nghệ thuật

Mã Thủ Chân cực kỳ yêu thích hoa lan, lại có sở trường vẽ hoa này bằng mực Mặc Lan nên mới lấy biểu tự Tương Lan, từ đó gắn liền với tên tuổi của bà.

Tranh của bà được giới phê bình nghệ thuật đánh giá cao, đặc biệt là kỹ thuật vẽ "Lan phảng tử cố", được giới sĩ phu và học giả đương thời đánh giá rất cao, thậm chí tổ phụ của Tào Tuyết Cần, Tào Dần từng liên tiếp ba lần đề thơ khen ngợi các tranh của bà. Bà tự coi mình là một họa sĩ theo trường phái Ngô Môn của Văn Trưng Minh, sử dụng bề mặt quạt hoặc tranh cuộn để vẽ những đường nét mảnh mai và mang hơi hướng của phu thê Triệu Mạnh Phủ - Quản Đạo Thăng.[3]

Ngoài hội họa, bà còn tham gia vào việc sáng tác thơ và viết kịch, mặc dù phần lớn tác phẩm của bà đã biến mất theo thời gian. Bà là tác giả của vở kịch "Truyện ba đời" (三生記), được chọn là chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của Trương Phương Dực (張鳳翼) thời nhà Tống, kể về một chuyện tình luân hồi kéo dài ba kiếp của một cặp đôi.

Di sản

Cuộc đời của bà được ghi chép lần đầu với người tri kỉ, Vương Trĩ Đăng. Về sau, Tiền Khiêm Ích (钱谦益), sau này là chồng của một người trong Tần Hoài bát diễm là Liễu Như Thị cũng viết về bà. Vào thời nhà Thanh, các danh kỹ nổi tiếng tại Bắc Kinh đã chuyển thể những bức tranh hoa lan của bà thành một vở kịch và thường xuyên biểu diễn, cũng vào thời điểm này có một lượng lớn bức tranh giả mạo được cho là thuộc về bà, điển hình như "Hoa Lan quyển" (画兰卷), còn gọi Lan trúc Thủy tiên đồ được Càn Long Đế đóng dấu,[4] hiện đang được lưu giữ tại Cố cung.

Năm 1994, một ngọn núi lửa trên Sao Kim được đặt theo tên bà.[5]

Hoa lan, 1604, Phòng trưng bày nghệ thuật Đại học Yale
Hoa Lan và Tre, Viện Nghệ thuật Minneapolis

Tham khảo

  1. ^ Laing, Ellen Johnston (1998). "Ma Shouzhen". Trong Lee, Lily Xiao Hong; Stefanowska, AD; Wiles, Sue; Ho, Clara Wing-chung (biên tập). Từ điển tiểu sử phụ nữ Trung Quốc . Ấn phẩm của Thư viện Đại học Hồng Kông. Armonk, NY: ME Sharpe. ISBN 978-0-7656-0043-1.
  2. ^ Triệu, Mi (2017). "Mã Hương Lan và Vương Chí Đăng trên sân khấu và ngoài sân khấu: Suy ngẫm lại chuyện tình lãng mạn của một nhà hát kỹ nữ ở Trung Quốc thời Minh-Thanh" . Tạp chí Sân khấu Châu Á . 34 (1): 122– 151. doi : 10.1353/atj.2017.0007 . ISSN  1527-2109 .
  3. ^ Bénézit, Emmanuel; Rawlings, Kandice; Kember, Pamela; Johnson, Richard, eds. (2012). "Ma Shouzhen or Ma Shou-chen; style names: Xianglan, Yuejiao". Benezit dictionary of Asian artists. Oxford New York Auckland Cape Town: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-992302-1.
  4. ^ Ailianju Art Talk: Two Heroines in the Late Ming Dynasty Painting World - Ma Shouzhen and Xue Susu(爱莲居艺谭 晚明画坛双女侠——马守真与薛素素); Publish:Chinese Painting and Calligraphy Art(书画艺术) Journal 2009 Issue 05; Author: Xiao Ping(萧平); Page Number: 57-58 page;
  5. ^ "Planetary Names". planetarynames.wr.usgs.gov. Retrieved 11 April 2024.