FN Minimi
FN Minimi (viết tắt của cụm từ tiếng Pháp: mini-mitrailleuse; dịch nghĩa: "súng máy mini") là một dòng súng máy hạng nhẹ của Bỉ, tương thích với cấu hình cỡ đạn 5,56mm hoặc 7,62mm, đồng thời được phân loại là một dòng vũ khí tự động cấp tiểu đội do kỹ sư Ernest Vervier nghiên cứu chế tạo cho hãng FN Herstal. Được giới thiệu lần đầu tiên vào cuối thập niên 1970, dòng súng này hiện đang phục vụ trong biên chế quân đội của hơn 75 quốc gia trên khắp thế giới.[14] Súng được sản xuất chính thức tại cơ sở chính của FN ở thành phố Herstal (Bỉ) và chi nhánh công ty con tại Mỹ là FN Manufacturing LLC.[15]
Khẩu Minimi vận hành theo nguyên lý khóa nòng mở. Đây là dòng vũ khí bộ binh làm mát bằng không khí, hoạt động theo cơ chế trích khí hành trình piston dài và chỉ hỗ trợ duy nhất chế độ bắn tự động hoàn toàn. Súng có khả năng nạp đạn linh hoạt từ hệ thống băng liên kết hoặc trực tiếp sử dụng hộp tiếp đạn thông thường. Minimi được thiết kế dưới nhiều cấu hình biến thể đa dạng: biến thể Tiêu chuẩn (Standard) đóng vai trò là vũ khí chi viện hỏa lực cấp trung đội hoặc tiểu đội, biến thể rút gọn Para chuyên dụng cho lực lượng lính dù, và biến thể Thiết giáp (Vehicle) được ứng dụng làm hỏa lực phụ lắp đặt trên các dòng xe chiến đấu.
Chi tiết thiết kế
Cơ chế vận hành
Minimi vận hành dựa trên cơ chế trích khí với hệ thống piston hành trình dài. Nòng súng được khóa chặt bằng một cụm khóa nòng xoay, trang bị hai vấu khóa lớn chịu lực, bệ khóa nòng sẽ ép khóa nòng vào buồng đạn thông qua một rãnh xoắn dẫn hướng dạng xoắn ốc dập trên thân bệ khóa nòng. Khi khai hỏa, lượng khí thuốc giãn nở cực mạnh sẽ trích một phần qua lỗ trích khí nằm gần đầu nòng súng để đẩy piston lùi về phía sau. Thanh piston tác động lực trực tiếp lên bệ khóa nòng, đẩy bệ khóa nòng bắt đầu chu trình chuyển động lùi về sau dọc theo hai đường ray dẫn hướng được hàn cố định vào vách bên trong hộp khóa nòng, trong khi bản thân khóa nòng vẫn được khóa chặt ở buồng đạn. Trình tự này tạo ra một khoảng trễ nhỏ để đảm bảo áp suất bên trong buồng đạn đã giảm xuống mức an toàn trước khi vấu cam trên bệ khóa nòng xoay và mở khóa cụm khóa nòng. Giải pháp này giúp tăng đáng kể độ tin cậy của quá trình hất vỏ đạn do vỏ đạn cũ có đủ thời gian nguội đi và co lại, giảm thiểu lực ma sát bám dính vào vách buồng đạn.
Khẩu Minimi khai hỏa từ bệ khóa nòng mở, giúp triệt tiêu hoàn toàn nguy cơ đạn tự kích nổ do nhiệt độ buồng đạn quá cao sau những loạt bắn liên tục kéo dài. Nguyên nhân do viên đạn chỉ được nạp vào buồng đạn ngay tích tắc trước khi búa đập kích nổ, đồng thời hành trình chuyển động của cụm khóa nòng và bệ khóa nòng sau mỗi phát bắn sẽ liên tục ép dòng khí lưu thông qua buồng đạn và lòng nòng súng, hỗ trợ thông gió làm mát và tản nhiệt hiệu quả cho nòng súng. Lượng khí dư thoát ra khỏi xi-lanh trích khí được dẫn hướng phun lên phía trên, tránh thổi tung cát bụi và mảnh vụn dưới mặt đất vốn dễ làm lộ vị trí ẩn nấp của xạ thủ.
Các đặc tính kỹ thuật
Khẩu Minimi được trang bị một van điều chỉnh lượng trích khí thủ công với hai vị trí điều chỉnh: nấc thông thường và nấc môi trường khắc nghiệt. Nấc môi trường khắc nghiệt cho phép tăng tốc độ bắn lý thuyết từ mức 700–850 phát/phút lên khoảng 950–1.150 phát/phút, và chỉ được khuyến nghị sử dụng trong các điều kiện môi trường cực kỳ khắc nghiệt hoặc khi ống trích khí bị bám bẩn muội than quá nặng. Cụm móc đạn đàn hồi dạng lò xo được tích hợp bên trong đầu khóa nòng, trong khi cụm lẫy hất vỏ đạn nghiêng nằm cố định bên trong hộp khóa nòng súng. Vỏ đạn cũ sau khi bắn được hất ra ngoài qua một khe hở nằm ở phía dưới góc bên phải của hộp khóa nòng, khe này được bảo vệ bởi một tấm chắn bụi đóng mở bằng lò xo để ngăn ngừa đất cát lọt vào bên trong. Minimi khai hỏa bằng cơ cấu búa đập thẳng và bệ khóa nòng đóng vai trò như một bộ phận kích kim hỏa.
Hệ thống khóa an toàn thủ công dạng nút nhấn của Minimi được bố trí ngay trên cụm cò súng, ngay phía trên tay nắm chính. Khi gạt nút sang vị trí "an toàn", cơ cấu này sẽ khóa chặt lẫy truyền lực cò; gạt nút nhấn sang bên phải sẽ làm lộ ra một vòng viền màu đỏ ở phía bên trái súng báo hiệu vũ khí đã sẵn sàng khai hỏa. Ban đầu súng sử dụng mẫu tay nắm chính bằng nhựa polymer màu đen thừa hưởng từ các dòng súng trường FAL và FNC, nhưng các lô sản xuất Minimi hiện đại ngày nay đều được trang bị mẫu tay nắm cải tiến có các đường rãnh khía ngang dập nổi và được lắp đặt ở một góc nghiêng nhỏ hơn so với hộp khóa nòng.
Hộp khóa nòng của Minimi được chế tạo bằng phương pháp dập hàn định hình từ các tấm thép chịu lực. Cả biến thể Tiêu chuẩn và biến thể Para đều được trang bị một bộ chân đỡ hai chân gập gọn lắp đặt trực tiếp vào ống trích khí và có thể xếp gọn gàng dưới ốp lót tay bảo vệ. Bộ chân đỡ này có thể linh hoạt điều chỉnh độ cao với ba nấc khóa cố định ở mỗi chân. Cụm chân đỡ cũng cho phép súng xoay nghiêng một góc 15° sang mỗi bên. Khi chân đỡ hai chân được kéo dài tối đa, trục nòng súng sẽ được nâng cao lên một khoảng đạt 465 mm (18,3 in) so với mặt đất. Bên cạnh đó, súng máy Minimi cũng có thể gá lắp và khai hỏa ổn định trên hệ thống giá đỡ ba chân FN360° của Bỉ hoặc giá đỡ M122 của Mỹ thông qua một chốt khớp nối kiểu M60. Biến thể lắp đặt trên xe thiết giáp của Minimi còn được trang bị cụm cò kích hoạt bằng điện cho phép xạ thủ dễ dàng bấm nút điều khiển hỏa lực từ xa từ bên trong khoang xe chiến đấu.
Biến thể súng máy hạng nhẹ Tiêu chuẩn được trang bị cấu hình nòng dài 465 mm (18,3 in) đi kèm báng súng dạng khung xương bằng nhôm có tích hợp thêm một quai thép dạng dây có thể lật mở để tì lên vai xạ thủ. Biến thể rút gọn Para có nòng súng ngắn hơn chỉ đạt 349 mm (13,7 in) và sử dụng báng kim loại dạng rút thu gọn, trong khi biến thể lắp trên xe thiết giáp sở hữu nòng dài 465 mm (18,3 in) nhưng được lược bỏ hoàn toàn phần báng súng lẫn cụm thước ngắm cơ khí. Đối với tất cả các mẫu cấu hình trên, quân đội có thể lựa chọn lắp đặt thay thế bằng cụm báng súng polymer cố định tương tự loại trang bị trên dòng M249, vốn tích hợp một bộ đệm giảm chấn thủy lực giúp ổn định tốc độ bắn lý thuyết và hấp thụ đáng kể lực giật phản hồi của súng.[16]
Cơ chế tiếp đạn
Súng được nạp đạn từ phía bên trái thông qua các băng đạn liên kết rã khớp M27 (một phiên bản thu nhỏ từ dòng mắt xích liên kết M13 cỡ đạn 7,62mm). Băng đạn này có thể được để trần tự do bên ngoài, chứa trong hộp tiếp đạn bằng nhựa polymer có sức chứa 200 viên gá trực tiếp vào mặt dưới hộp khóa nòng, hoặc nạp gián tiếp từ các hộp tiếp đạn tiêu chuẩn STANAG vốn sử dụng phổ biến trên các dòng súng trường tấn công cỡ đạn 5,56 mm của NATO như M16 và FNC. Cơ chế tiếp đạn từ hộp tiếp đạn STANAG chỉ đóng vai trò như một phương án bổ trợ khi cơ số đạn băng liên kết đã cạn kiệt. Khi nạp đạn, băng liên kết sẽ được đặt nằm lên khay tiếp đạn, trong khi hộp tiếp đạn phụ được cắm vào giếng cắm đạn nghiêng một góc 45° bố trí ngay phía dưới khay nạp băng đạn. Khi có băng đạn liên kết đặt trên khay, nó sẽ che kín khe cắm hộp tiếp đạn phụ. Ngược lại, khi có hộp tiếp đạn đang cắm trong giếng, cơ cấu này sẽ khóa chặn không cho nạp băng đạn liên kết vào súng. Cửa giếng cắm hộp tiếp đạn khi không sử dụng sẽ được đậy kín bằng một tấm nắp che chữ L bản lề có mấu khóa giữ, mấu này ăn khớp vào rãnh khóa trên hộp tiếp đạn và đóng vai trò như nút bấm nhả hộp tiếp đạn. Tính năng độc đáo này do kỹ sư Maurice V. Bourlet thuộc hãng FN phát minh, cho phép súng máy Minimi lập tức chuyển đổi qua lại giữa cơ chế nạp băng và nạp hộp tiếp đạn mà không yêu cầu bất kỳ thao tác hoán cải kỹ thuật phức tạp nào.[17]
Cơ chế kéo băng đạn dạng lẫy gạt của súng được phát triển phỏng theo hệ thống nạp đạn cực kỳ tin cậy của dòng súng máy đa chức năng FN MAG (vốn có gốc gác thiết kế từ dòng súng máy MG 42 huyền thoại thời Thế chiến thứ hai). Băng đạn được kéo dịch chuyển qua hai giai đoạn tương ứng với cả hai hành trình tiến và lùi của bệ khóa nòng súng, giúp chu trình tiếp đạn diễn ra cực kỳ mượt mà và liên tục. Tấm nắp đậy phía trên của cơ cấu nạp đạn còn được tích hợp thêm một thiết bị báo đạn cho phép xạ thủ dễ dàng nhận biết sự hiện diện của viên đạn trên đường tiếp đạn.
Nòng súng
Cụm nòng súng sử dụng trên dòng Minimi được gia cường độ dày để tăng khả năng chịu nhiệt cho các loạt bắn kéo dài, lòng nòng được mạ crôm cứng chống mài mòn đi kèm cụm khương tuyến gồm 6 rãnh xoắn về phía bên phải. Nòng được chế tạo dưới hai cấu hình bước ren khác biệt: bước ren dài 178 mm (1:7 in) để ổn định đầu đạn SS109 nặng hơn của Bỉ, hoặc bước ren dài 305 mm (1:12 in) tương thích tối ưu với dòng đạn M193 đời cũ của Mỹ. Nòng súng có khả năng tháo lắp nhanh; một lẫy khóa bố trí ở phía bên trái súng cho phép giải phóng nòng súng để xạ thủ dễ dàng đẩy nòng về phía trước và nhấc ra khỏi khớp định vị khóa nòng. Một tay xách kiêm tay thay nòng súng cũng được gắn cố định vào nòng để hỗ trợ đắc lực cho tiến trình thay thế nòng nóng. Một binh sĩ được huấn luyện bài bản có thể hoàn thành thao tác thay nòng súng và đưa súng trở lại trạng thái sẵn sàng chiến đấu chỉ trong vòng 6 đến 7 giây. Các mẫu Minimi đời đầu sử dụng loa che lửa đầu nòng có các khe thoát khí hướng bên tương tự như trên dòng súng trường FN FAL, FN CAL, và FN FNC; trong khi các dòng súng xuất xưởng hiện nay đều được trang bị mẫu loa che lửa dạng côn xẻ rãnh ngắn hơn đáng kể.
Hệ thống thước ngắm
Cả hai cấu hình Tiêu chuẩn và Para đều được trang bị cụm thước ngắm sau có thể linh hoạt hiệu chỉnh được hướng gió và độ cao tác xạ, cung cấp một lỗ ngắm cho phép lấy đường ngắm ngắm bắn các mục tiêu ở cự ly từ 300–1.000 m (980–3.280 ft) với các nấc chia khoảng cách mỗi 100 m (330 ft). Chiều dài đường ngắm lý thuyết đạt 490 milimét (19,3 in). Đầu ruồi dạng trụ ngắm có vòng bảo vệ phía trên được lắp đặt cố định trên khối trích khí đầu nòng súng và cũng hỗ trợ hiệu chỉnh độ cao cũng như hướng gió. Trên các lô Minimi sản xuất đời đầu, cụm thước ngắm sau được lắp đặt ở vị trí phía trước nắp khay nạp đạn và đầu ruồi được đưa sát về phía đầu nòng súng. Ngoài ra, quân đội cũng có thể trang bị thêm một bộ đế chuyển đổi chuyên dụng để gá lắp các loại kính ngắm quang học ngày và đêm theo các tiêu chuẩn chung của NATO.
Phụ kiện đi kèm
Trang bị tiêu chuẩn đi kèm theo mỗi khẩu súng máy Minimi bao gồm ba hộp chứa băng đạn, một bộ dụng cụ vệ sinh súng được xếp gọn bên trong ốp lót tay bảo vệ phía trước, một chai dầu bôi trơn chuyên dụng, dây đeo súng và một nòng súng chuyên dụng để bắn đạn giả.
Các biến thể
M249
Biến thể M249 của dòng Minimi đã được quân đội Hoa Kỳ chính thức thông qua vào năm 1982; kể từ năm 1984, toàn bộ tiến trình sản xuất phục vụ quân đội Mỹ được thực hiện hoàn toàn tại nội địa Hoa Kỳ bởi chi nhánh địa phương FN Manufacturing LLC ở bang Nam Carolina.
Nằm trong Chương trình Cải tiến Sản phẩm M249 (PIP) của quân đội Mỹ, khẩu M249 đã được nâng cấp đồng bộ với: cụm báng súng bằng vật liệu tổng hợp mới và bộ phận đệm giảm chấn cải tiến, bộ điều chỉnh trích khí một nấc cố định, loa che lửa kiêm bộ phận bù giật đầu nòng kiểu lồng chim thừa hưởng từ dòng M16A2, ốp lót tay chống nóng nòng súng bằng nhựa polymer và tay xách có thể gập gọn. Những cải tiến này làm trọng lượng của súng tăng lên mức 7,47 kg (16,5 lb). Nhiều gói nâng cấp thuộc chương trình PIP sau đó đã được hãng FN ứng dụng ngược lại cho các dòng Minimi tiêu chuẩn.
Một biến thể gọn nhẹ của mẫu báng gập Para tích hợp dải ray Picatinny trên nắp hộp khóa nòng được gọi là Minimi SPW (Vũ khí Chuyên dụng).[cần dẫn nguồn] Biến thể này đã lược bỏ hoàn toàn giếng cắm hộp tiếp đạn phụ để giảm thiểu tối đa trọng lượng súng, đồng thời trang bị cụm ốp lót tay có ray MIL-STD-1913 cho phép xạ thủ gá lắp linh hoạt các phụ kiện chiến thuật tiêu chuẩn.
Một biến thể khác của dòng SPW được phát triển theo yêu cầu riêng từ Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ là mẫu Mk 46 Mod 0. Mẫu này sử dụng cụm nòng súng xẻ rãnh dọc siêu nhẹ nhưng không có hệ thống giếng cắm hộp tiếp đạn phụ, vấu gá lắp trên xe quân sự và quai xách thân súng. Ốp lót tay trang bị ray bao quanh bốn hướng đảm bảo tính mô-đun và khả năng thích ứng cao, cho phép gá lắp đèn pin siêu sáng, tay nắm dọc phía trước và thiết bị chỉ thị mục tiêu bằng laser hồng ngoại. Phiên bản nâng cấp tiếp theo mang mã hiệu Mk 46 Mod 1 với dải ray phía trước cải tiến và bộ chân giá hai chân bằng titan siêu nhẹ đã được Hải quân Hoa Kỳ lựa chọn thông qua.
Minimi 7.62
Nguyên mẫu Minimi ban đầu vốn được thiết kế để tương thích với cỡ đạn 7.62×51mm NATO, trước khi được tái thiết kế hiệu chuẩn lại cho cấu hình cỡ đạn 5.56 mm.
Khi USSOCOM đưa ra bộ yêu cầu kỹ thuật cho dòng súng máy Mk 48 Mod 0 vào đầu những năm 2000, các bản vẽ thiết kế nguyên bản của dòng Minimi cỡ 7.62 mm đã được thu hồi từ kho lưu trữ và ứng dụng để phát triển mẫu súng mới này. Từ những phản hồi tích cực đối với mẫu Mk 48 Mod 0 cùng nhu cầu ngày càng tăng về một biến thể Minimi mạnh mẽ hơn, hãng FN Herstal đã chính thức giới thiệu dòng Minimi 7.62. Vào tháng 11 năm 2006, thông cáo báo chí của FN Herstal xác nhận mẫu Minimi 7.62 đã chính thức "ra mắt thị trường" và sẵn sàng cung cấp dưới cấu hình "báng súng cố định hoặc báng rút, đi kèm ốp lót tay tiêu chuẩn hoặc tích hợp hệ thống ba dải ray Picatinny".[19]
Bên cạnh sự khác biệt về cỡ đạn, khẩu Minimi 7.62 được trang bị hệ thống trích khí tự điều áp không thể tùy chỉnh và bộ đệm giảm chấn thủy lực tích hợp ngay trong cụm báng súng.
Khẩu Minimi 7.62 cũng sở hữu cụm thước ngắm cải tiến được hiệu chuẩn riêng cho đường đạn của cỡ đạn lớn hơn. Thước ngắm phía sau hỗ trợ tùy chỉnh cự ly từ 300–1.000 m (980–3.280 ft) với các nấc chia vạch tăng dần mỗi 100 m (330 ft). Cụm thước ngắm này cũng cho phép hiệu chỉnh bù trừ sức gió. Phiên bản Minimi 7.62 TR là biến thể được nhà sản xuất lắp sẵn cụm ốp lót tay trang bị hệ thống ray Picatinny từ nhà máy.
Trong biên chế quân đội Úc, khẩu Minimi 7.62 được định danh là "Maximi".[20]
Minimi Mk3
Vào tháng 11 năm 2013, hãng FN Herstal đã công bố thế hệ nâng cấp Mk3 của dòng súng máy chi viện hỏa lực tiểu đội Minimi với hai đại diện gồm Minimi 5.56 Mk3 và Minimi 7.62 Mk3. Các gói cải tiến trên dòng Mk3 được tổng hợp dựa trên kinh nghiệm thực tế ngoài chiến trường và phản hồi từ các đơn vị sử dụng trong suốt 10 đến 15 năm qua.
Cụm báng súng mới cho phép tùy chỉnh chiều dài tì vai với 5 nấc khóa, tích hợp bộ phận ốp má nâng hạ độ cao đi kèm tấm tì vai gập gọn và bộ đệm giảm chấn thủy lực bên trong thân báng. Khay nạp đạn được trang bị các vấu giữ dây băng đạn cải tiến, giúp cố định dây băng đạn tại vị trí chuẩn xác trong suốt thao tác nạp đạn. Cụm ốp lót tay bảo vệ tích hợp sẵn ba dải ray Picatinny hướng về phía trước. Bộ chân giá hai chân thế hệ mới hỗ trợ điều chỉnh độ cao với 3 nấc khóa và có khả năng gập gọn ôm khít hoàn toàn vào biên dạng của cụm ốp lót tay bảo vệ, bất kể các phụ kiện chiến thuật khác đang được gá lắp trên súng. Các tính năng nâng cấp khác bao gồm cần kéo khóa nòng thiết kế công thái học tối ưu và tấm chắn nhiệt chống bỏng tùy chọn gá lắp bằng chốt định vị dài dập dịch, giúp bảo vệ tay xạ thủ khỏi nhiệt lượng tỏa ra từ nòng súng. Biến thể Minimi 7.62 Mk3 còn sở hữu khả năng chuyển đổi buồng đạn nhanh để sử dụng cỡ đạn 5.56×45mm NATO khi cần thiết dập dịch.
Các đơn vị đang sở hữu các dòng súng máy Minimi thế hệ cũ có thể lựa chọn mua sắm các gói nâng cấp linh hoạt của hãng để nâng cấp từng phần hoặc toàn diện khẩu súng của mình lên cấu hình tiêu chuẩn Mk3.[21]
Sản xuất tại các quốc gia khác
Các phiên bản sản xuất theo giấy phép nhượng quyền
| Quốc gia | Nhà sản xuất | Mẫu súng | Tài liệu tham khảo |
|---|---|---|---|
| Colt Canada[a] | C9 | [22] | |
| Lithgow Arms | F89 | [23][24][25] | |
| Beretta | Mitragliatrice Minimi cal. 5,56 mm NATO | [26][27] | |
| Pindad | Pindad SM-3 | [28][29][30] | |
| Sumitomo Heavy Industries | Súng máy 5.56mm MINIMI | [31][32] | |
| Bofors Carl Gustaf | Ksp 90 | [33][34] | |
| Hellenic Defence Systems | 5.56mm Minimi | [35] |
Các biến thể của Canada
C9 LMG
Phiên bản súng máy hạng nhẹ Minimi tiêu chuẩn xuất xưởng từ nhà máy của FN, trang bị báng súng dạng khung kim loại bằng thép tròn.
C9A1
Phiên bản C9A1 được tích hợp hệ thống ray Picatinny trên nắp hộp khóa nòng để gá lắp kính ngắm quang học phóng đại 3,4× ELCAN C79, đồng thời cho phép gắn thêm tay nắm dọc dưới ốp lót tay để gia tăng độ ổn định khi xạ thủ tì bắn ở tư thế nằm.
C9A2
Gói nâng cấp giữa vòng đời C9A2 giới thiệu thêm tùy chọn cụm nòng thứ hai ngắn hơn (cả hai cụm nòng đều được trang bị loa che lửa cải tiến), giảm thiểu diện tích vật liệu nhựa màu xanh lục phản xạ hồng ngoại, báng rút điều chỉnh nấc kiểu súng trường C8, tay nắm dọc gập gọn dưới ốp lót tay và khối gá gập chỉ thị laser (LAM) ba cạnh TRIAD thiết kế riêng cho dòng C9.
Các biến thể của Thụy Điển
Ksp 90
Phiên bản súng máy hạng nhẹ Minimi tiêu chuẩn xuất xưởng từ nhà máy của FN, trang bị báng súng dạng khung kim loại bằng thép tròn, được quân đội Thụy Điển gọi dưới danh hiệu "Súng máy 90" (tiếng Thụy Điển: Kulspruta 90).
Ksp 90B
Biến thể báng gập Para của dòng súng máy Ksp 90.
Các biến thể của Indonesia
SM3
Phiên bản súng máy hạng nhẹ Minimi tiêu chuẩn xuất xưởng từ nhà máy của FN, trang bị báng súng dạng khung kim loại bằng thép tròn. Điểm đặc trưng lớn để phân biệt của dòng súng máy này là hệ thống giếng cắm súng đã bị lược bỏ hoàn toàn, không thể sử dụng các hộp tiếp đạn chuẩn STANAG.
SM3-A1
Biến thể SM-3 A1 được trang bị cụm báng rút tùy chỉnh nấc kiểu súng trường AR và dải ray Picatinny chạy dọc nắp hộp khóa nòng. Ngoài ra, để phục vụ các yêu cầu tác xạ cự ly xa, súng có thể gá lắp thêm kính ngắm quang học tầm xa trực tiếp trên thân súng.
Biến thể của Nhật Bản
Súng máy 5.56mm MINIMI
Lực lượng Tự vệ Nhật Bản (JSDF) đã đưa vào biên chế dòng súng máy Minimi do nội địa tự lực sản xuất theo giấy phép nhượng quyền dưới tên gọi chính thức "Súng máy 5.56mm MINIMI" (tiếng Nhật: 5.56mm機関銃MINIMI) từ năm tài chính 1993, đóng vai trò kế nhiệm dòng súng máy đa năng Type 62 cỡ đạn 7.62mm cho đến năm 2019.[36]
Khẩu MINIMI sản xuất theo giấy phép nhượng quyền này có thể gá lắp trực tiếp lên bệ chân giá ba chân của súng máy đa năng Type 62 GPMG thông qua một bộ đồ gá chuyển đổi chuyên dụng, thường được triển khai khi có yêu cầu tác xạ áp chế chính xác cao. Ngoài ra, súng cũng cho phép gá lắp kính ngắm quang học trực tiếp phục vụ các tình huống chiến đấu cự ly xa. Phiên bản được JSDF thông qua là cấu hình súng tiêu chuẩn trang bị báng thép tròn, nhưng sở hữu một số sửa đổi cơ khí độc bản chẳng hạn như cần lẫy tháo nòng súng có biên dạng khác biệt. Phần sườn của thân súng được dập nổi dòng chữ "5.56mm Machine Gun MINIMI".
Một đặc điểm nhận diện đặc trưng là cụm tấm che nhiệt bảo vệ chống bỏng (tấm ốp trên nòng) thiết kế độc đáo gá trên đỉnh nòng súng. Bộ phận này tương tự như thiết kế sử dụng trên dòng M249 của quân đội Mỹ, là một cụm chi tiết bổ sung được trang bị đồng bộ sau khi súng chính thức biên chế. Tuy nhiên, số lượng khe tản nhiệt bố trí dập dọc ở dải chính giữa đã được cắt giảm từ 8 khe (trên nguyên bản của Mỹ) xuống còn 7 khe dập dịch, tạo nên sự khác biệt về biên dạng hình học. Khóa hãm chặn hộp tiếp đạn cho các loại hộp tiếp đạn STANAG không được lắp đặt trên phiên bản này do nó gây cản trở cho quá trình huấn luyện tác chiến bằng đạn mã tử.[37][38]
Vào ngày 18 tháng 12 năm 2013, Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã chính thức công bố thông tin tập đoàn Sumitomo Heavy Industries đã tiến hành làm giả các số liệu báo cáo kiểm định chất lượng sản phẩm quốc phòng trong suốt nhiều thập kỷ, dẫn đến việc bàn giao hàng loạt súng máy không đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật tác chiến tối thiểu.[39] Hậu quả là doanh nghiệp này đã bị áp lệnh phạt đình chỉ đấu thầu quốc phòng trong thời hạn 5 tháng. Các nguồn tin xác nhận có ít nhất 5.350 khẩu súng (gồm súng máy hạng nặng 12.7mm, súng máy trung liên 7.62mm và súng máy nhẹ 5.56mm) không đạt chuẩn đã được bàn giao cho các đơn vị từ năm 1979. Thực tế, ngay cả trước khi hành vi làm giả số liệu kiểm định bị phanh phui dập dịch, các binh sĩ ngoài thực địa đã liên tục phản ánh về hiệu suất vận hành cơ khí kém ổn định của các khẩu Minimi do hãng Sumitomo sản xuất.[40]
Đến tháng 4 năm 2021, tập đoàn Sumitomo Heavy Industries đã đưa ra thông báo chính thức rút hoàn toàn khỏi mảng sản xuất súng máy quân dụng cũng như đình chỉ toàn bộ hoạt động nghiên cứu phát triển các dòng súng máy 5.56mm do các giới hạn về ngân sách quốc phòng và sản lượng đơn đặt hàng sụt giảm nghiêm trọng.[41] Tuy nhiên, công ty cam kết vẫn tiếp tục duy trì việc sản xuất các linh kiện phụ tùng thay thế phục vụ công tác bảo dưỡng và sửa chữa cho các khẩu súng hiện có trong biên chế.
Trước tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của các khẩu Minimi Mk1 thế hệ cũ cùng việc dừng mua sắm từ nguồn cung nội địa, Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản (JGSDF) đã khởi động chương trình sát hạch tuyển chọn dòng súng máy chi viện hỏa lực tiểu đội thế hệ mới. JGSDF quyết định vẫn tiếp tục trung thành với việc sử dụng hệ đạn cỡ 5.56mm, và đã lựa chọn mẫu MINIMI Mk3 vượt qua ứng viên MG4 của Đức.[42] Dòng súng máy mới mang định danh "Súng máy 5.56mm MINIMI(B)" này sẽ được mua sắm theo phương thức nhập khẩu nguyên khẩu trực tiếp thay vì sản xuất nội địa. Kế hoạch mua sắm tổng thể dự kiến sẽ tiếp nhận cơ số 3.100 khẩu MINIMI(B), để từng bước loại biên hoàn toàn các khẩu Minimi Mk1 thế hệ cũ dập dịch.[43]
Biến thể của Úc
F89
Cả hai cấu hình biến thể Tiêu chuẩn và báng gập Para đều được biên chế rộng rãi, trong đó cấu hình Tiêu chuẩn thường được trang bị đồng bộ cụm kính ngắm quang học phóng đại 1.5x, còn cấu hình Para thường gá lắp kính ngắm đa điểm quang hình (holographic), tay nắm dọc phía trước tháo rời được và chân giá hai chân tháo lắp nhanh. Vào năm 1994, các đợt thử nghiệm kỹ thuật sâu rộng đã được thực hiện đối với việc ứng dụng các kiểu thiết kế loa che lửa đầu nòng khác nhau trên các khẩu F89 nhằm gia tăng tối đa độ chính xác khi tác xạ.[44]
Các phiên bản sao chép không có bản quyền thương mại
| Quốc gia | Nhà sản xuất | Mẫu súng | Tài liệu tham khảo |
|---|---|---|---|
| Nhà máy Chế tạo Máy Trường Phong Trùng Khánh | CS/LM8 | [45][46] | |
| Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Công nghiệp Hy Nghĩa Vân Nam | XY 5.56 | [47][48] | |
| Cục Binh khí | T75 | [49] | |
| Kale Group | KMG-556 | [50][51] | |
| Caracal International | CLMG 556 | [52][53] |
Các quốc gia sử dụng
Dòng súng máy hạng nhẹ Minimi đã được chính thức thông qua và đưa vào biên chế quân đội của hơn 45 quốc gia.[54]
Argentina: Đang duy trì sử dụng biến thể M249.[55]
Úc: Được định danh là F89 trong quân đội Úc. Súng được chế tạo trực tiếp bởi tập đoàn Lithgow Arms.[23] Biến thể Maximi sử dụng cỡ đạn 7,62mm cũng được bắt đầu cấp phát từ năm 2011 sau giai đoạn thử nghiệm thực địa thành công tại chiến trường Afghanistan và hiện đang phục vụ ở quy mô hạn chế.[20][56]
Bỉ: Vũ khí chi viện hỏa lực bộ binh tiêu chuẩn của Lục quân Bỉ.[28] Quân đội Bỉ trang bị song hành cả hai cấu hình Tiêu chuẩn (được gọi là Minimi Mk2) và cấu hình Para rút gọn (Minimi Mk3).[57]
Brasil: Được trang bị cho lực lượng Batalhão de Operações Policiais Especiais (BOPE) trực thuộc Cảnh sát Quân sự bang Rio de Janeiro,[58] Lực lượng Đặc nhiệm Cảnh sát dân sự bang Rio de Janeiro (CORE), Lực lượng phản ứng nhanh thuộc Cảnh sát Liên bang (GPI),[59] cũng như biên chế trong Lục quân Brazil, Thủy quân lục chiến Brazil (với 399 khẩu được phân bổ cho 17 đơn vị quân sự, trong đó có 13 đơn vị trang bị dòng Minimi 5,56 Tiêu chuẩn và 4 đơn vị sử dụng cấu hình Minimi 5,56 Para) và Không quân Brazil.[60] Đơn vị Lực lượng Đặc nhiệm Lục quân cũng được trang bị 38 khẩu Minimi biến thể Special Purpose Weapon (SPW) cỡ nòng 5,56mm.[61]
Burundi: Được ghi nhận sử dụng bởi các lực lượng nổi dậy tại Burundi.[62]
Canada: Biên chế chính thức dưới mã định danh súng máy hạng nhẹ C9 LMG kể từ thập niên 1980.[63]
- Tập tin:Flag of Chile.svg Chile: Được trang bị trong lực lượng Lục quân Chile.[64]
Trung Quốc: Các phiên bản sao chép nội địa được ghi nhận trang bị cho lực lượng Cảnh sát Trung Quốc.[65]
Colombia: Được sử dụng bởi các lực lượng vũ trang Colombia (bao gồm cả hai cấu hình M249 và MK3).[66][67]
Croatia:[68]Síp: Được sử dụng bởi Lực lượng Vệ binh Quốc gia Síp.[69]
Séc: Biến thể Minimi sử dụng cỡ đạn 7,62×51mm NATO đã được chính thức phê duyệt làm cấu hình súng máy tiêu chuẩn mới cho Lục quân Cộng hòa Séc nhằm thay thế hoàn toàn cho dòng súng Uk vz. 59 lỗi thời.[70] Đã có 317 khẩu được bàn giao tính đến thời điểm tháng 1 năm 2016.[71] Đơn vị Đặc nhiệm số 601 cũng được trang bị biến thể súng máy Mk 48 Mod 0.[72] Ngoài ra, các biến thể M249 cỡ nòng 5,56mm trước đó cũng từng được đưa vào sử dụng.[73]
Đan Mạch: Trang bị chuyên dụng cho Lực lượng Đặc nhiệm Đặc chủng Đan mạch Jægerkorps.[74]
Đông Timor: Lực lượng Phòng vệ Đông Timor.[75]
Pháp: Biến thể Para rút gọn được trang bị cực kỳ rộng rãi trong Lục quân Pháp, hoạt động song hành cùng dòng súng máy đa chức năng FN MAG.[76]
Hy Lạp: Được sử dụng bởi các đơn vị thuộc lực lượng Lục quân Hy Lạp.[77]
Hungary: Biến thể M249 SAW được trang bị cho các đơn vị Lực lượng Đặc nhiệm Hungary.[78]
Indonesia: Súng máy hạng nhẹ trang bị tiêu chuẩn của Quân đội Quốc gia Indonesia.[28] Biến thể nội địa SM3 đã được đưa vào sử dụng từ năm 2007.[79]
Iraq[10]
Ireland: Biến thể Para được trang bị cho lực lượng Đặc nhiệm Quân đội Ireland (ARW).[80]
Ý: Khẩu Minimi được sản xuất theo giấy phép bởi hãng Beretta (đơn vị có quan hệ đối tác chiến lược với FN) và được trang bị rộng rãi trong Lực lượng Vũ trang Ý. Dòng súng này đảm nhiệm vai trò vũ khí tự động cấp tiểu đội để thay thế dần cho mẫu súng máy MG 42/59 (một biến thể phái sinh từ khẩu MG 42 thời Thế chiến thứ hai, hiện vẫn được dùng nhiều trên các bệ gá thiết bị). Minimi đã đồng hành cùng các lực lượng quân đội Ý tại khắp các chiến trường quốc tế trong các chiến dịch gần đây và hiện tại.[81]
Nhật Bản: Được trang bị trong Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản (JGSDF) nhằm thay thế một phần cho dòng súng máy Sumitomo NTK-62. Súng được sản xuất theo giấy phép nhượng quyền bởi tập đoàn Sumitomo Heavy Industries (SHI).[31][82] JGSDF từng lên kế hoạch tìm kiếm phương án thay thế dòng súng này, tuy nhiên tập đoàn SHI đã xác nhận sẽ rút lui và không tham gia vào tiến trình đấu thầu súng máy hạng nhẹ tương lai.[83] Vào tháng 1 năm 2023, dòng súng máy FN Minimi MK3 nhập khẩu trực tiếp đã được lựa chọn và định danh chính thức là MINIMI(B).[84] Khoảng 3.100 khẩu súng máy biến thể Mk3 dự kiến sẽ được nhập khẩu để đưa vào trang bị.[85]
Latvia: Súng máy hạng nhẹ tiêu chuẩn trong danh mục trang bị của quân đội Latvia.[86][87]
Liban[88]
Libya[1][89]
Litva: Sử dụng biến thể FN Minimi MK3 cỡ nòng 7,62×51mm NATO.[90]
Luxembourg: Được Lục quân Luxembourg sử dụng làm vũ khí tự động cấp tiểu đội. Biến thể Para rút gọn cũng được trang bị cho đơn vị can thiệp đặc biệt Unité Spéciale de la Police trực thuộc lực lượng Cảnh sát Đại Công quốc Luxembourg.[91][92][93]
Malaysia: Lục quân Malaysia đã trang bị súng máy Minimi để thay thế hoàn toàn cho dòng súng máy HK11A1 trước đó. Súng cũng hiện diện trong biên chế của các đơn vị tác chiến đặc biệt trực thuộc lực lượng Cảnh sát.[94]
México: Không quân Mexico trang bị súng máy này làm hỏa lực trên các dòng trực thăng quân sự.[1]Nepal: Đã đặt mua 5.500 khẩu vào năm 2002.[95]
Hà Lan: Lục quân Hoàng gia Hà Lan đã đưa biến thể Para rút gọn của dòng Minimi vào trang bị để thay thế một phần vai trò của khẩu FN MAG ở một số phân đội bộ binh cơ động. Lực lượng Đặc nhiệm Hà Lan Korps Commandotroepen (KCT) cũng tin dùng biến thể Minimi 5.56 Para này.[96] Trong khi đó, dòng súng máy FN MAG vẫn tiếp tục được duy trì ở vai trò súng máy đa chức năng, súng máy chi viện hỏa lực tầm trung và hỏa lực lắp trên xe cơ giới.[97]
New Zealand: Lực lượng Phòng vệ New Zealand (NZDF) trang bị dòng súng này dưới mã định danh C9 Minimi. Súng đảm nhiệm vai trò Vũ khí hỗ trợ hạng nhẹ (LSW) của Lục quân kể từ năm 1988.[98] Phiên bản Minimi TR cỡ đạn 7,62mm sau đó đã được lựa chọn vào tháng 2 năm 2012 để thay thế hoàn toàn cho dòng C9 LSW Minimi cũ và phục vụ trong NZDF dưới mã định danh mới là 7,62 LSW Minimi.[99]
Na Uy: Biến thể Para rút gọn đã phục vụ trong các lực lượng Đặc nhiệm HJK/FSK và MJK kể từ cuối thập niên 1980, và chính thức được đưa vào trang bị rộng rãi cho toàn quân đội Na Uy từ năm 2011 (với lô đặt mua đầu tiên gồm 1.900 khẩu súng máy xuất xưởng vào năm 2011).[100] Vào tháng 9 năm 2021, tập đoàn FN Herstal và Cơ quan Trang bị Quốc phòng Na Uy đã ký kết một thỏa thuận khung về việc cung cấp bổ sung 4.000 khẩu súng máy Minimi 7,62 Mk3 thế hệ mới.[101]
Papua New Guinea: Biên chế dưới định danh F89.[102]
Perú: Được trang bị cho lực lượng Thủy quân lục chiến Peru (Infantería de Marina del Perú).[103]
Philippines: Được sử dụng bởi các lực lượng thuộc Quân đội Philippines (AFP). Lô súng máy FN Minimi đầu tiên được đặt mua vào tháng 5 năm 2002 với số lượng tiếp nhận thực tế đạt 402 khẩu.[104][105] Các đơn hàng bổ sung sau đó đã bị hủy bỏ để tiến hành đấu thầu lại do các cáo buộc tham nhũng phát sinh dưới thời chính quyền Tổng thống Arroyo.[105]
Ba Lan: Được trang bị cho Đơn vị Đặc nhiệm JW GROM.[106][107]
Bồ Đào Nha: Lục quân Bồ Đào Nha đã tiếp nhận bàn giao các dòng súng máy Minimi MK3 thế hệ mới tương thích với hai cấu hình cỡ đạn 5,56×45mm NATO và 7,62×51mm NATO vào năm 2019.[108] Vào năm 2022, lực lượng Thủy quân lục chiến Bồ Đào Nha cũng tiếp nhận thêm một số lượng không tiết lộ các khẩu Minimi MK3 phiên bản 5,56×45mm NATO.[109]
Serbia: Được trang bị cho các đơn vị đặc nhiệm trực thuộc Quân đội Serbia (bao gồm Lữ đoàn Đặc nhiệm số 72 và Lữ đoàn Dù số 63) cùng Lực lượng Đặc nhiệm Chống khủng bố của Cảnh sát (SAJ).[110][111]
Sénégal: Được trang bị trong các đơn vị Lực lượng Đặc nhiệm Senegal.[112]
Slovenia: Biến thể Minimi Para hiện diện trong biên chế tác chiến của Quân đội Slovenia.[113]
Tây Ban Nha: Lực lượng Hải quân Tây Ban Nha đã mua sắm súng máy hạng nhẹ Minimi dưới cả hai cấu hình Para cỡ đạn 5,56×45mm và biến thể tiêu chuẩn cỡ đạn 7,62×51mm.[114]Sri Lanka[28]
Syria: Được trang bị trong Lực lượng Vũ trang Syria, trước đây cũng từng hiện diện trong biên chế của Lữ đoàn Diều hâu Sa mạc (Desert Hawks Brigade).[10]
Thụy Điển: Được biết đến dưới tên gọi Ksp 90 (Kulspruta 90). Biến thể Para rút gọn được định danh là Ksp 90B; cả hai phiên bản đều được sản xuất trực tiếp bởi hãng Bofors Carl Gustaf.[115][116]
Thụy Sĩ: Được định danh chính thức là LMg 05 (Leichtes Maschinengewehr 05) hoặc FM 05 (Fusil mitrailleur 05).[117]
Đài Loan: Sử dụng trong lực lượng Trung Hoa Dân Quốc Lục quân; một phiên bản tự nghiên cứu chế tạo và tự chủ sản xuất nội địa mang mã hiệu T75 cũng đang phục vụ trong lực lượng Thủy quân lục chiến Trung Hoa Dân Quốc.[102]
Thái Lan: Được trang bị cho lực lượng Thủy quân lục chiến Hoàng gia Thái Lan và Lục quân Hoàng gia Thái Lan (sử dụng biến thể M249).[102]
Tunisia[9]
Thổ Nhĩ Kỳ: Được sử dụng bởi Tổng cục An ninh Thổ Nhĩ Kỳ và Lực lượng Bộ binh Thổ Nhĩ Kỳ.[102] Ngoài ra, Cục Cảnh sát Đặc nhiệm Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã mua sắm dòng súng máy CS/LM8 từ Trung Quốc để thay thế dần cho các mẫu súng máy FN Minimi MK1 đời cũ.[118]
Ukraina: Tiếp nhận nguồn viện trợ quân sự từ Canada và Bỉ vào năm 2022 và triển khai tác chiến trong cuộc Chiến tranh Nga-Ukraina.[12][119] Bên cạnh đó, có khoảng 300 khẩu súng máy Minimi Mk3 cỡ nòng 7,62×51mm NATO cũng đã được quỹ từ thiện "Come Back Alive" mua sắm và bàn giao trực tiếp cho Lực lượng Vũ trang Ukraine trong giai đoạn 2024 và 2025.[120][121]
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất[28]
Anh Quốc: Trang bị cả hai biến thể Tiêu chuẩn và Para rút gọn, lần lượt mang mã định danh chính thức là L108A1 và L110A2.[122] Lục quân Anh từng biên chế biến thể Para rút gọn cho mỗi tổ chiến đấu bốn người. Súng máy hạng nhẹ này thường được gá lắp thêm hệ thống kính ngắm SUSAT độ phóng đại 4× tiêu chuẩn của súng trường bộ binh. Súng cũng phục vụ trong biên chế của Hải quân Hoàng gia, Lữ đoàn Thủy quân lục chiến Hoàng gia số 3 và Trung đoàn Không quân Hoàng gia (RAF Regiment). Một số cấu hình Minimi cỡ nòng 7,62mm cũng hiện diện ở quy mô nhỏ.[123] Biến thể L110A3 sau đó đã bị loại biên dần vào đầu năm 2019 để nhường lại vai trò cho dòng súng máy đa chức năng L7A2 (FN MAG) đời cũ hơn, tuy nhiên các đơn vị trực thuộc Bộ tư lệnh Lực lượng Liên hợp vẫn quyết định giữ lại dòng súng máy này trong kho vũ khí của họ.[124][125]
United States: Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ trang bị súng dưới mã định danh chính thức là M249.[28]
Yemen: Dòng súng máy FN Minimi đã được tổ chức Ân xá Quốc tế báo cáo xuất hiện trong biên chế của một nhóm dân quân tự vệ trong chiến dịch tấn công tại Al Hudaydah vào năm 2018.[126]
Cựu quốc gia sử dụng
Afghanistan: Lục quân Quốc gia Afghanistan từng vận hành các khẩu súng máy M249 do Hoa Kỳ viện trợ trong các chiến dịch chống lại phiến quân Taliban.[127]
Các lực lượng phi nhà nước
Phong trào Aceh Tự do (GAM).[128]
Mali: Phong trào Nhân dân Giải phóng Azawad.[129]
- Bản mẫu:Country data Taliban: Thu giữ từ các kho vũ khí của chính quyền Afghanistan cũ. Ngoài ra, có 59 khẩu Minimi nguyên bản thuộc trang bị cũ của quân đội Anh cũng được Taliban trưng dụng trong cuộc Chiến tranh Afghanistan.[12][9]
Ghi chú
Tham khảo
- ^ a b c McNab 2017, tr. 56.
- ^ McNab 2017, tr. 56-57.
- ^ a b Schroeder, Matt (2013). "Captured and Counted: Illicit Weapons in Mexico and the Philippines". Small Arms Survey 2013: Everyday Dangers. Cambridge University Press. tr. 290, 303. ISBN 978-1-107-04196-7. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2013.
- ^ McNab 2017, tr. 45.
- ^ McNab 2017, tr. 60.
- ^ "Maré terá 6 UPPs até o fim do ano, diz governador do Rio". ngày 23 tháng 5 năm 2014.
- ^ Richard, Christophe (Spring 2014). "Shooting practice with the " Steel battalion "" (PDF). Fantassins. Số 32. tr. 28. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2018.
- ^ a b Capdeville, Thibault (Spring 2014). "Infantry units fires during OP Serval" (PDF). Fantassins. Số 32. tr. 55–58. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2018.
- ^ a b c d McNab 2017, tr. 57.
- ^ a b c d Ferguson, Jonathan (ngày 2 tháng 4 năm 2016). "Minimi type light machine gun with pro-Assad group in Syria". armamentresearch.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2018.
- ^ "YouTube". www.youtube.com.Bản mẫu:Dead YouTube link
- ^ a b c "(No Longer) A Show Of Shame - Belgian Weapons Deliveries To Ukraine". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2023.
- ^ McNab 2017, tr. 18.
- ^ "FN Herstal Showcases its State-of-the-art Firepower for Land, Air, and Sea at IDEX 2015". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015.
- ^ "M249 SAW: The World's Most Popular Squad Automatic Weapon". ngày 25 tháng 2 năm 2025.
- ^ "MINIMI 5.56 Standard". FN Herstal. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
The MINIMI 5.56 can be fitted with a hydraulic buffer for stabilized rate of fire and reduced recoil forces. The design of the buttstock contributes to simple, comfortable and accurate firing.
- ^ Trang Bản mẫu:Citation/styles.css không có nội dung.US 4112817, "Supply device for a portable firearm"
- ^ "Infantry News". Infantry. 65 (4): 10. tháng 7 năm 1975. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2018.
- ^ "MINIMI Machine Gun 7.62 x 51 mm". FN Herstal (Thông cáo báo chí). ngày 13 tháng 11 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007.
- ^ a b Juchniewicz, Maj Nathan; Manchip, Capt James (ngày 12 tháng 5 năm 2011). "Gun maximises combat power" (PDF). Army News: The Soldiers' Newspaper (ấn bản thứ 1258). Canberra: Department of Defence. tr. 4. ISSN 0729-5685. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2019.
- ^ "The World Famous FN MINIMI Adapts to New Operational Conditions". FN Herstal (Thông cáo báo chí). ngày 19 tháng 11 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2015.
- ^ a b "Canadian Small Arms – Automatic Rifles – A Visual Guide". Canadian American Strategic Review. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2008.
- ^ a b Small Arms Survey (2007). Small Arms Survey 2007: Guns and the city (PDF). Cambridge University Press. tr. 18. ISBN 978-0-521-88039-8. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Lithgow Small Arms Factory Museum". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Lithgow arms - Product and services catalogue" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2018.
- ^ "Armi Leggere". Esercito Italiano. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2008.
- ^ Jones & Ness (2010), tr. 354.
- ^ a b c d e f Miller, David (2001). The Illustrated Directory of 20th Century Guns. Salamander Books Ltd. ISBN 1-84065-245-4.Bản mẫu:Page number needed
- ^ Antara News (ngày 7 tháng 10 năm 2021). "Tim Reaksi Cepat Bakamla latihan VBSS". antaranews.com (bằng tiếng Indonesia).
- ^ "PT. Pindad (Persero) - SM3". pindad.com. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- ^ a b "The 42nd anniversary of the 1st Division & the 53rd anniversary of the Nerima Armypost". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2012.
- ^ いこまいけ高岡. "5.56mm 機関銃 (ミニミ軽機関銃、FN Minimi)". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014.
- ^ "Lätt kulspruta 90" (bằng tiếng Thụy Điển). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2008.
- ^ "General Purpose Machine Guns of Sweden". Gotavapen.se. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2008.
- ^ "5.56mm Minimi". eas.gr. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2011.
- ^ "スクープ!住友重機械が機関銃生産から撤退へ". 東洋経済オンライン. ngày 15 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2021.
- ^ "住友重機械工業(株)に対する指名停止 của Bộ Quốc phòng". ja:防衛省. ngày 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Khấu trừ hóa đơn giao nhận khí tài không chuẩn xác" (PDF). ja:住友重機械工業. ngày 18 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015.
- ^ "防衛省が住友重を指名停止 機関銃のデータを改ざん". Reuters. ngày 18 tháng 12 năm 2013.
- ^ 清谷信一 (ngày 9 tháng 11 năm 2014). "Why SDF uses 'misfiring machine guns'". 東洋経済オンライン. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015.
- ^ "Sumitomo Heavy Industries withdraws from machine gun production". 日本経済新聞. ngày 15 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Japan to procure Minimi Mk 3 LMGs, G28 E2 snipers". www.janes.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2026.
- ^ "陸上自衛隊の新機関銃MINIMI Mk3、新狙撃銃G28" (bằng tiếng Nhật). ngày 17 tháng 2 năm 2023.
- ^ Wachsberger, C. (tháng 6 năm 1994). "Experiments to determine the effects of different flash suppressor designs on accuracy of an F89 Light Machine Gun" (PDF). DSTO Formal Reports: 28. Bản gốc (PDF) lưu trữ 15 tháng 8 2011. Truy cập 16 tháng 5 2011.
- ^ "中国CS/LM8型的5.56毫米轻机枪" [Súng máy nhẹ cỡ 5.56 mm CS/LM8 của Trung Quốc] (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2017.
- ^ "中国机枪扬威全世界,这个北约国家超级酷爱,一次就买3000挺_风闻". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2026.
- ^ Popenker & Williams (2008), tr. 41.
- ^ "图文: 外销型XY 5.56MM通用机枪主要数据_新浪军事_新浪网". jczs.news.sina.com.cn. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016.
- ^ "Foot Slogger Firepower - Asian Military Review". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2026.
- ^ "KMG556 – Turkish Minimis in Ukraine – The Armourers Bench". armourersbench.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2026.
- ^ "Turkey`s First and Only 5.56 x 45mm Light Machine Gun Qualified According to NATO Tests, KMG556". www.defenceturkey.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2026.
- ^ "Caracal CLMG 556 - the First Machine Gun Made in UAE". ngày 20 tháng 6 năm 2025.
- ^ "EDGE's CARACAL Unveils New Light Machine Gun".
- ^ "FN Herstal – Major Product Achievements". FN Herstal. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "OOW M249P, la nueva ametralladora de las tropas de operaciones especiales del Ejército Argentino". ngày 9 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2021.
- ^ "Maximi". Australian Army. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2023.
- ^ "Landcomponent". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2012.
- ^ "Polícia faz megaoperação em favelas do Rio de Janeiro". Noticias Band.com.br. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014.
- ^ "World Infantry Weapons: Brazil". ngày 2 tháng 6 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Brazil adopts Minimi machine gun across land forces". www.janes.com. ngày 3 tháng 11 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013.
- ^ "FN MINIMI - EB aposenta o FAP e adota a FN Mini Mitrailleuse" (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 20 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016 – qua DefesaNet.
- ^ Small Arms Survey (2007). "Armed Violence in Burundi: Conflict and Post-Conflict Bujumbura" (PDF). The Small Arms Survey 2007: Guns and the City. Cambridge University Press. tr. 204. ISBN 978-0-521-88039-8. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
- ^ "www.canadiansoldiers.com". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2026.
- ^ "El Ejército de Chile compró 1.225 ametralladoras Minimi y 2.000 fusiles Galil en 2014". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2016.
- ^ McNab 2017, tr. 36.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênArmy2010 - ^ InfoDefensa, Revista Defensa. "Colombia adquirirá más ametralladoras FN Herstal para sus Fuerzas Especiales". Infodefensa - Noticias de defense, industria, seguridad, armamento, ejércitos y tecnología de la defensa (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2023.
- ^ Šurbek, Ivan (ngày 23 tháng 5 năm 2024). "Tigrovi u akciji s puškostrojnicom FN Minimi". Hrvatski vojnik (bằng tiếng Croatia). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2024.
- ^ Vlassis, Savvas (ngày 30 tháng 9 năm 2017). "Τα νέα φορητά όπλα και άλλα υλικά της Εθνικής Φρουράς". Δούρειος Ίππος (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2023.
- ^ Grohmann, Jan. "MINIMI - nový standardní kulomet pro Armádu České republiky". Armádní noviny. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2017.
- ^ "Ministr obrany" (PDF). ods.cz. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2017.
- ^ "Zbraně používané u 601.skupiny speciálních sil". 601. skss. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2017.
- ^ "Lehký kulomet - 5,56 mm kulomet univerzální FN Minimi (M249 SAW)". acr.army.cz (bằng tiếng Séc). Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2022.
- ^ "Fdselsdagsjgere ver p Aalborg Havn". Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014.
- ^ Jane's Sentinel Security Assessment – Southeast Asia. Issue 20 – 2007. Coulsdon: Jane's Information Group. tr. 146 and 152.
- ^ "Mini-mitrailleuse - Minimi" (bằng tiếng Pháp). ngày 19 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2018.
- ^ "5.56mm Minimi". eas.gr. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2011.
- ^ "34. Bercsény László Különleges Műveleti Zászlóalj". ShadowSpear. ngày 12 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014.
- ^ "Mengenal senapan mesin regu SM3 buatan Pindad - Airspace Review". www.airspace-review.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2026.
- ^ Lavery, Michael (ngày 18 tháng 3 năm 2010). "The Rangers at 30". The Evening Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2016.
- ^ "Armi Leggere". Esercito Italiano. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2008.
- ^ いこまいけ高岡. "5.56mm機関銃(ミニミ軽機関銃、FN Minimi)". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014.
- ^ "Sumitomo withdraws from Japanese machine gun tender".
- ^ "防衛省、SH-60K能力向上型を量産 平均単価81億円" (bằng tiếng Nhật). ngày 24 tháng 1 năm 2023.
- ^ "FIRST LOOK: Japan's New Type 20 Assault Rifle". Small Arms Defense Journal. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
- ^ "National Armed Forces" (PDF). mod.gov.lv. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2008.
- ^ "POTD: Latvian Mechanized Brigade with FN Minimi & HK G36C". The Firearm Blog (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2021.
- ^ Al-Balaa, Nadine; Nina Akel Khalil (ngày 15 tháng 1 năm 2010), قائد الجيش أشاد بدقة التنفيذ والتنسيق (bằng tiếng Ả Rập), Lebanese Armed Forces, Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2011, truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010
- ^ Jenzen-Jones, N.R.; McCollum, Ian (tháng 4 năm 2017). Small Arms Survey (biên tập). Web Trafficking: Analysing the Online Trade of Small Arms and Light Weapons in Libya (PDF). Working Paper No. 26. tr. 48, 59. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Replenishment of Lithuanian Armed Forces stocks: MINIMI 7.62 and Carl-Gustaf ammunition on the way". ngày 2 tháng 3 năm 2023.
- ^ "Unofficial Pistols Page, Equipment". USP.lu. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2009.
- ^ "L'Unite d'Intervention de la Police Luxembourgeoise" (PDF) (bằng tiếng Pháp). RAIDS Magazine. tháng 3 năm 2006. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2009.
- ^ Lasterra, Juan Pablo (2004). "UPS Unidad Especial de la Policia Luxembourguesa" (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). ARMAS Magazine. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2009.
- ^ Thompson, Leroy (tháng 12 năm 2008). "Malaysian Special Forces". Special Weapons. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2009.
- ^ Rachel Crivellaro. "Une commande à destination du Népal". Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014.
- ^ Factbook Korps Commandotroepen: verleden - heden - toekomst (PDF). Koninklijke Landmacht. 2014. tr. 25. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
- ^ "Minimi-licht machinegeweer". defensie.nl. ngày 4 tháng 11 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2018.
- ^ "NZ Army - Our Equipment - Machine Guns". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011. New Zealand Army official site
- ^ Martin, Judith, biên tập (tháng 2 năm 2012). "New Light Support Weapon for NZ Defence" (PDF). NZ Army News. Số 428. tr. 5. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012.
The New Zealand Defence Force has selected the FN Herstal 7.62mm Minimi TR as a replacement for the 5.56 mm LSW C9, currently in service. The weapons are being acquired now, with NZ delivery due to start from April this year, and introduction to service and issuing to units planned to occur in last quarter of 2012. The 7.62 LSW Minimi will be issued to certain Army and Air Force Units. This will replace the C9 capability, with priority being given to field force units and regional equipment pools.
- ^ "Norwegian Armed Forces Adopt FN MINIMI™ Machine Gun". Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014.
- ^ "Norway orders 4000 FN Minimi Mk3 7.62mm light machine guns from FN Herstal – NORWAY NEWS – latest news, breaking stories and comment – NORWAY NEWS". ngày 4 tháng 9 năm 2021.
- ^ a b c d Jones, Richard D. Jane's Infantry Weapons 2009/2010. Jane's Information Group; 35 edition (January 27, 2009). ISBN 978-0-7106-2869-5.
- ^ "Desfile Militar día nacional del Perú. 27 de Julio de 2007" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2009.
- ^ Daniel Watters. "The 5.56 X 45mm: 2002–2003". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2009.
- ^ a b "DND: P593-M Minimi deal will 'not prosper' (5.56 NATO wackiness)". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2015.
- ^ Wilk (REMOV), Remigiusz. "Nowe gromy GROM". Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2010.
- ^ "GROM Utility and Equipment". Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2009.
- ^ "Portuguese Army advances its soldier modernisation effort". ngày 28 tháng 3 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2022.
- ^ "Portuguese Marine Corps FN Minimi Mk3". Twitter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2022.
- ^ "Blic Online - Spektakl i na nebu i na zemlji". Blic Online. ngày 14 tháng 2 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014.
- ^ "Specijalne-jedinice.com - Specijalna antiteroristička jedinica-SAJ". specijalne-jedinice.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017.
- ^ Binnie, Jeremy; de Cherisey, Erwan (2017). "New-model African armies" (PDF). Jane's. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2017.
- ^ "Lahka pehotna in podporna oborožitev" (bằng tiếng Slovenia). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2009.
- ^ "La armada compra 88 nuevas ametralladoras de FN Herstal a través de la empresa SDAL, S.L." (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2009.
- ^ "Lätt kulspruta 90" (bằng tiếng Thụy Điển). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
- ^ "General Purpose Machine Guns of Sweden". Gotavapen.se. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
- ^ "Einführung Leichtes Maschinengewehr" (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
- ^ Kula, Mehmet Ali (ngày 13 tháng 9 năm 2022). "Türkiye, Çin'den 3 binden fazla makineli tüfek aldı!". DefenceTurk (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2024.
- ^ "Canadian military support to Ukraine". ngày 6 tháng 5 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2023.
- ^ ""Come Back Alive" delivers 150 FN Minimi machine guns to the Defense Forces - savelife.in.ua". savelife.in.ua (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 8 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2025.
- ^ ""Повернись живим" передав українським Силам оборони 150 кулеметів FN Minimi". Мілітарний. Чесні новини про армію, війну та оборону. (bằng tiếng Ukraina). Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2025.
- ^ land-mediacomms-webcontent@land.mod.uk, The British Army. "The British Army - Light Machine Gun (LMG)". webarchive.nationalarchives.gov.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2012.
- ^ "FN MINIMI™ 7.62 Machine Gun Selected by British Military". Press release via army-technology.com. FN Herstal. ngày 8 tháng 6 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012.
FN Herstal has recently been awarded a new contract by the UK Ministry of Defence (MoD) for the supply of up to 176 MINIMI™ 7.62 light machine guns by the end of 2011. The contract also includes optional quantities of a further 250 MINIMI 7.62 machine guns to be delivered annually over a three-year period from 2012 to 2014 should these options be exercised.
- ^ "Out with old for infantry weapons". Soldier. British Army. tháng 8 năm 2018. tr. 16. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Soldier Magazine September 2018". British Army. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2018.
- ^ "This type of weapon is being wielded by UAE-backed militias in Yemen's conflict. So why is a Belgian company marketing it at a global arms fair?". www.amnesty.org (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Afghan National Security Forces Order of Battle" (PDF). Long War Journal. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012.
- ^ Capie, David (2002). Small Arms Production and Transfers in Southeast Asia (PDF). Australian National University. tr. 40. ISBN 0-7315-5421-3.
- ^ Small Arms Survey (2005). "Sourcing the Tools of War: Small Arms Supplies to Conflict Zones". Small Arms Survey 2005: Weapons at War. Oxford University Press. tr. 166. ISBN 978-0-19-928085-8. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
Tài liệu
- Jones, Richard D.; Ness, Leland S., biên tập (2010). Jane's Infantry Weapons 2010-2011. Jane's Publishing. ISBN 978-0710629081.
- McNab, Chris (ngày 23 tháng 2 năm 2017). The FN Minimi Light Machine Gun: M249, L108A1, L110A2, and other variants. Weapon 53. Osprey Publishing. ISBN 978-1-4728-1621-4.
- Popenker, Maxim; Williams, Anthony G. (2008). Machine Gun. The Development of the Machine Gun from the Nineteenth Century to the Present Day. London: Crowood Press. ISBN 978-1-84797-030-5.
Liên kết ngoài
- "MINIMI 5.56mm Official Website". FN Herstal.
- "MINIMI 7.62mm Official Website". FN Herstal.
- Video of operation trên YouTube (bằng tiếng Nhật)
- Trang có lỗi chú thích
- Trang có lỗi bảng kiểu bản mẫu
- Nguồn CS1 tiếng Indonesia (id)
- Nguồn CS1 tiếng Thụy Điển (sv)
- Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ
- Nguồn CS1 tiếng Nhật (ja)
- Nguồn CS1 tiếng Trung (zh)
- Nguồn CS1 tiếng Bồ Đào Nha (pt)
- Nguồn CS1 tiếng Tây Ban Nha (es)
- Nguồn CS1 tiếng Croatia (hr)
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Nguồn CS1 tiếng Séc (cs)
- Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
- Nguồn CS1 có chữ Ả Rập (ar)
- Nguồn CS1 tiếng Ả Rập (ar)
- Nguồn CS1 tiếng Slovenia (sl)
- Nguồn CS1 tiếng Đức (de)
- Nguồn CS1 tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (tr)
- Nguồn CS1 tiếng Ukraina (uk)
- Trang có lỗi kịch bản
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bài thiếu nguồn tham khảo đáng tin cậy
- Bài viết có văn bản tiếng Pháp
- Bài viết có trích dẫn không khớp
- Trang sử dụng bản mẫu nhiều hình chỉ có một hình ảnh
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Nhật (ja)
- Súng máy dùng đạn 5,56×45mm NATO
- Súng FN Herstal
- Vũ khí bộ binh thời Chiến tranh Lạnh
- Vũ khí tự động cấp tiểu đội
- Súng có cơ chế piston hành trình dài
- Súng máy Bỉ
- Súng máy thời Chiến tranh Lạnh
- Vũ khí giới thiệu vào năm 1974