Football League 1997–98
Football League 1997–98 (được biết đến với tên gọi Nationwide Football League vì lí do tài trợ) là mùa giải thứ 99 đã hoàn tất của Football League.
| Mùa giải | 1997–98 |
|---|---|
| Vô địch | Nottingham Forest |
| Thăng hạng | Nottingham Forest Middlesbrough Charlton Athletic |
| Xuống hạng | Doncaster Rovers |
| Đội bóng mới ở Football League | Macclesfield Town |
← 1996–97 1998–99 → | |
Nhà vô địch Nottingham Forest và á quân Middlesbrough giành quyền trở lại Premiership ngay trong lần đầu tiên. Charlton Athletic thắng vòng play-off để chấm dứt tám năm vắng bóng ở hạng đấu cao nhất.
Reading xuống hạng với vị trí cuối bảng. Họ được gia nhập vào ngày cuối cùng của mùa giải bởi Manchester City và Stoke City. Nửa xanh thành Manchester lần đầu tiên trong lịch sử rơi xuống hạng ba của bóng đá Anh, dù đã đánh bại Stoke, đội cũng chắc chắn xuống hạng, với tỉ số 5–2 trên sân khách ở ngày cuối mùa giải. Tuy nhiên, cổ động viên hai đội đều không dễ dàng chấp nhận việc xuống hạng, khi bạo lực bóng đá quy mô lớn bên ngoài sân đã làm lu mờ trận đấu. Bury, Portsmouth và Port Vale đều thắng các trận của mình để tránh xuống hạng.
Nhiệm kì thứ hai của Graham Taylor trên cương vị huấn luyện viên mang lại thành công tức thì khi Watford vô địch Division Two. Cùng thăng hạng với họ là á quân Bristol City và đội thắng play-off Grimsby Town.
Các đội xuống Division Three là Brentford, Plymouth Argyle, Carlisle United và Southend United. Brentford mới chỉ là đội thua chung kết play-off 12 tháng trước đó, Plymouth vừa thăng hạng lên Division Two hai mùa giải trước, Carlisle là đội mới thăng hạng, còn Southend trải qua lần xuống hạng thứ hai liên tiếp.
Macclesfield Town kết thúc ở vị trí á quân Division Three để giành lần thăng hạng thứ hai liên tiếp, một năm sau khi vô địch Conference. Cùng thăng hạng với họ là nhà vô địch Notts County, đội giành chức vô địch với khoảng cách 17 điểm và trở thành đội đầu tiên kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai bảo đảm suất thăng hạng ngay trong tháng 3, đội xếp thứ ba Lincoln City và đội thắng play-off Colchester United.
Doncaster Rovers phải nhận kỉ lục 34 thất bại ở giải bóng đá Anh và chỉ thắng bốn trận, qua đó mất vị thế tại League. Họ được thay thế bởi nhà vô địch Conference Halifax Town, đội giành lại vị thế tại League năm năm sau khi đánh mất nó.
First Division
| Mùa giải | 1997–98 |
|---|---|
| Vô địch | Nottingham Forest |
| Thăng hạng | Nottingham Forest Middlesbrough Charlton Athletic |
| Xuống hạng | Manchester City Stoke City Reading |
| Số trận đấu | 552 |
| Số bàn thắng | 1.411 (2,56 bàn mỗi trận) |
| Vua phá lưới | Kevin Phillips Pierre van Hooijdonk (mỗi người 29 bàn)[1] |
← 1996–97 1998–99 → | |
Một mùa giải sau khi xuống hạng khỏi Premier League, Nottingham Forest trở lại ngay lập tức với tư cách nhà vô địch Division One, đồng nghĩa với việc huấn luyện viên Dave Bassett lúc này đã dẫn dắt các đội bóng giành thăng hạng tám lần trong 18 mùa giải. Họ được Middlesbrough gia nhập vào ngày cuối cùng của mùa giải, đội bóng chỉ mới xuống hạng mùa trước do bị trừ điểm. Charlton Athletic giành suất thăng hạng cuối cùng theo cách kịch tính, đánh bại Sunderland trong loạt sút luân lưu sau một trận đấu hấp dẫn kết thúc với tỉ số 4–4 sau hiệp phụ, qua đó đưa câu lạc bộ Nam Luân Đôn trở lại hạng đấu cao nhất lần đầu tiên kể từ năm 1990. Ipswich Town và Sheffield United là hai đội thua ở bán kết, trong khi Birmingham City lỡ vòng play-off do kém số bàn thắng ghi được. Stockport County, lần đầu tiên sau nhiều thập kỉ thi đấu ở hạng hai của giải đấu, kết thúc ở vị trí thứ tám đầy ấn tượng. Wolves, đội vào bán kết Cúp FA, xếp thứ chín và lỡ vòng play-off.
Mùa giải cuối cùng của Reading tại Elm Park kết thúc bằng việc xuống hạng ở vị trí cuối bảng, đồng nghĩa với việc họ sẽ bắt đầu cuộc sống tại Sân vận động Madejski mới đầy ấn tượng với tư cách một đội Division Two thay vì Division One. Ngày cuối cùng đầy kịch tính của mùa giải chứng kiến Stoke City tiếp Manchester City tại Sân vận động Britannia mới, khi cả hai đội đều biết chiến thắng là cơ hội duy nhất để trụ hạng. Cuối cùng, đội khách thắng 5–2 nhưng cả hai bên đều xuống hạng do Portsmouth, Port Vale và QPR đều giành chiến thắng và bảo đảm suất trụ hạng.
Mùa giải chứng kiến nhiều thay đổi huấn luyện viên ở Division One. Dù đang trên đường vào bán kết Cúp FA và còn trong cuộc đua thăng hạng lên Premier League, Nigel Spackman từ chức vào tháng 3 sau chưa đầy một năm dẫn dắt Sheffield United, với trợ lí Steve Thompson nắm quyền trong những tuần cuối quan trọng của mùa giải. Steve Bruce, đội trưởng Birmingham City, sau đó được bổ nhiệm làm cầu thủ kiêm huấn luyện viên tại Bramall Lane. Ở đầu kia bảng xếp hạng, Terry Bullivant bị Reading sa thải vào tháng 3 dù mới được bổ nhiệm vào mùa hè trước đó, với cựu huấn luyện viên Celtic Tommy Burns được bổ nhiệm làm người kế nhiệm. Stoke City bắt đầu mùa giải với Chic Bates làm huấn luyện viên, nhưng sự sa sút phong độ giữa mùa dẫn đến việc ông bị sa thải vào tháng 1 và Chris Kamara được bổ nhiệm. Kamara chỉ thắng một trong 14 trận cầm quân và bị sa thải khi mùa giải còn năm trận, trong lúc Stoke đang chìm sâu trong cuộc chiến trụ hạng. Alan Durban nắm quyền trong năm trận cuối, nhưng không thể cứu Potters khỏi xuống hạng. Manchester City sa thải huấn luyện viên Frank Clark vào tháng 2 sau hơn một năm dẫn dắt, và thay thế ông bằng cựu huấn luyện viên Everton Joe Royle. Phong độ tệ hại của QPR khiến huấn luyện viên Bruce Rioch bị thay thế bởi Ray Harford của West Bromwich Albion vào đầu tháng 12, trong khi người kế nhiệm Harford tại The Hawthorns là Denis Smith, được chiêu mộ từ Oxford United đang ngập trong nợ nần. Huấn luyện viên mới tại Manor Ground là Malcolm Shotton, người đã dẫn dắt đội bóng vùng Thames Valley kết thúc an toàn ở giữa bảng bất chấp khoản nợ gia tăng của câu lạc bộ, khiến việc xây dựng sân vận động mới của câu lạc bộ bị đình chỉ. Portsmouth sa thải Terry Fenwick vào tháng 2 sau ba năm nắm quyền và thay thế ông bằng Alan Ball, huấn luyện viên của đội bóng từng thăng hạng gần nhất của họ vào năm 1987. Khởi đầu tệ hại của Huddersfield Town khiến Brian Horton bị sa thải vào tháng 9 và được thay thế bởi Peter Jackson, người dẫn dắt Terriers kết thúc an toàn ở giữa bảng. Mike Walker, người trong nhiệm kì đầu tiên tại Norwich City từng giúp đội bóng cạnh tranh chức vô địch Premier League và có hành trình đáng nhớ tại Cúp UEFA, rời vị trí tại Carrow Road khi mùa giải vẫn còn vài trận, trong lúc Norwich hướng đến một lần kết thúc đáng thất vọng khác ở giữa bảng. Sau khi mùa giải kết thúc, ban giám đốc tại Carrow Road bổ nhiệm Bruce Rioch làm huấn luyện viên thứ sáu của họ trong sáu năm.
Bảng xếp hạng
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Nottingham Forest (C, P) | 46 | 28 | 10 | 8 | 82 | 42 | +40 | 94 | Thăng hạng Premier League |
| 2 | Middlesbrough (P) | 46 | 27 | 10 | 9 | 77 | 41 | +36 | 91 | |
| 3 | Sunderland | 46 | 26 | 12 | 8 | 86 | 50 | +36 | 90 | Giành quyền tham dự vòng play-off First Division |
| 4 | Charlton Athletic (O, P) | 46 | 26 | 10 | 10 | 80 | 49 | +31 | 88 | |
| 5 | Ipswich Town | 46 | 23 | 14 | 9 | 77 | 43 | +34 | 83 | |
| 6 | Sheffield United | 46 | 19 | 17 | 10 | 69 | 54 | +15 | 74 | |
| 7 | Birmingham City | 46 | 19 | 17 | 10 | 60 | 35 | +25 | 74 | |
| 8 | Stockport County | 46 | 19 | 8 | 19 | 71 | 69 | +2 | 65 | |
| 9 | Wolverhampton Wanderers | 46 | 18 | 11 | 17 | 57 | 53 | +4 | 65 | |
| 10 | West Bromwich Albion | 46 | 16 | 13 | 17 | 50 | 56 | −6 | 61 | |
| 11 | Crewe Alexandra | 46 | 18 | 5 | 23 | 58 | 65 | −7 | 59 | |
| 12 | Oxford United | 46 | 16 | 10 | 20 | 60 | 64 | −4 | 58 | |
| 13 | Bradford City | 46 | 14 | 15 | 17 | 46 | 59 | −13 | 57 | |
| 14 | Tranmere Rovers | 46 | 14 | 14 | 18 | 54 | 57 | −3 | 56 | |
| 15 | Norwich City | 46 | 14 | 13 | 19 | 52 | 69 | −17 | 55 | |
| 16 | Huddersfield Town | 46 | 14 | 11 | 21 | 50 | 72 | −22 | 53 | |
| 17 | Bury | 46 | 11 | 19 | 16 | 42 | 58 | −16 | 52 | |
| 18 | Swindon Town | 46 | 14 | 10 | 22 | 42 | 73 | −31 | 52 | |
| 19 | Port Vale | 46 | 13 | 10 | 23 | 56 | 66 | −10 | 49 | |
| 20 | Portsmouth | 46 | 13 | 10 | 23 | 51 | 63 | −12 | 49 | |
| 21 | Queens Park Rangers | 46 | 10 | 19 | 17 | 51 | 63 | −12 | 49 | |
| 22 | Manchester City (R) | 46 | 12 | 12 | 22 | 56 | 57 | −1 | 48 | Xuống hạng Second Division |
| 23 | Stoke City (R) | 46 | 11 | 13 | 22 | 44 | 74 | −30 | 46 | |
| 24 | Reading (R) | 46 | 11 | 9 | 26 | 39 | 78 | −39 | 42 |
Quy tắc xếp hạng: 1) Điểm; 2) Số bàn thắng ghi được; 3) Hiệu số bàn thắng bại
(C) Vô địch; (O) Thắng play-off; (P) Thăng hạng; (R) Xuống hạng
Play-off
| Bán kết Lượt đi - 10 tháng 5; Lượt về - 13 tháng 5 năm 1998 | Chung kết Wembley 25 tháng 5 năm 1998 | ||||||||||
| thứ 3 | Sunderland | 1 | 2 | 3 | |||||||
| thứ 6 | Sheffield United | 2 | 0 | 2 | |||||||
| thứ 3 | Sunderland | 4 (6) | |||||||||
| thứ 4 | Charlton Athletic (pen.) | 4 (7) | |||||||||
| thứ 4 | Charlton Athletic | 1 | 1 | 2 | |||||||
| thứ 5 | Ipswich Town | 0 | 0 | 0 | |||||||
Kết quả
{{#section-h:Football League First Division 1997–98|Kết quả}}
Cầu thủ ghi bàn hàng đầu
| Thứ hạng | Cầu thủ | Câu lạc bộ | Số bàn thắng |
|---|---|---|---|
| 1 | Kevin Phillips | Sunderland | 29 |
| = | Pierre Van Hooijdonk | Nottingham Forest | 29 |
| 3 | Kevin Campbell | Nottingham Forest | 23 |
| = | Clive Mendonca | Charlton Athletic | 23 |
| 5 | David Johnson | Ipswich Town | 20 |
| 6 | Brett Angell | Stockport County | 18 |
| 7 | Paul Furlong | Birmingham City | 15 |
| = | Marcus Stewart | Huddersfield Town | 15 |
Bản đồ
Lượng khán giả
| # | Câu lạc bộ | Trung bình |
|---|---|---|
| 1 | Sunderland | 33.492 |
| 2 | Middlesbrough | 29.994 |
| 3 | Manchester City | 28.196 |
| 4 | Wolverhampton Wanderers | 23.281 |
| 5 | Nottingham Forest | 20.584 |
| 6 | Birmingham City | 18.708 |
| 7 | Sheffield United | 17.942 |
| 8 | West Bromwich Albion | 16.662 |
| 9 | Bradford City | 15.564 |
| 10 | Stoke City | 15.025 |
| 11 | Ipswich Town | 14.973 |
| 12 | Norwich City | 14.444 |
| 13 | Charlton Athletic | 13.275 |
| 14 | Queens Park Rangers | 13.083 |
| 15 | Huddersfield Town | 12.145 |
| 16 | Portsmouth | 11.149 |
| 17 | Swindon Town | 10.298 |
| 18 | Reading | 9.676 |
| 19 | Port Vale | 8.432 |
| 20 | Stockport County | 8.322 |
| 21 | Tranmere Rovers | 7.999 |
| 22 | Oxford United | 7.512 |
| 23 | Bury | 6.177 |
| 24 | Crewe Alexandra | 5.243 |
Nguồn:[3]
Second Division
Sau khi trở lại ghế huấn luyện viên tại Watford sau mùa giải 1996–97 đáng thất vọng dưới thời Kenny Jackett, Graham Taylor dẫn dắt Watford giành chức vô địch Division Two, bổ sung vào ba lần thăng hạng mà ông từng đạt được trong nhiệm kì đầu tiên tại Vicarage Road từ năm 1978 đến năm 1982. John Ward, người từng bị Bristol Rovers sa thải năm 1996 sau khi không thể giúp đội bóng thăng hạng, đã đem lại thành quả cho đối thủ địa phương Bristol City, giúp đội bóng này thoải mái giành quyền thăng hạng khỏi Division Two với tư cách á quân. Suất thăng hạng cuối cùng thuộc về Grimsby Town, đội trong chiến thắng đầu tiên ở một trận chung kết tại Wembley đã đánh bại Northampton Town, khi đối thủ đang tìm kiếm lần thăng hạng thứ hai liên tiếp.
Grimsby trước đó đã đánh bại đội được đánh giá cao Fulham ở bán kết, đồng nghĩa với việc cuộc cách mạng của Mohammed Al Fayed tại Craven Cottage phải tạm hoãn trong một mùa giải. Kể từ khi mua lại câu lạc bộ với giá 30 triệu bảng vào mùa hè trước đó, Al Fayed đã bổ nhiệm Kevin Keegan làm giám đốc bóng đá và Ray Wilkins làm huấn luyện viên trưởng, đồng thời cấp ngân sách chuyển nhượng giúp Fulham có thể cạnh tranh với các câu lạc bộ hàng đầu Division One và thậm chí một số đội Premier League trên thị trường chuyển nhượng, với khoản phí lớn nhất là 2,25 triệu bảng trả cho Blackburn Rovers để chiêu mộ hậu vệ Chris Coleman.
Ở cuối bảng xếp hạng, Alvin Martin trải qua khởi đầu ác mộng trong sự nghiệp huấn luyện khi Southend United của ông kết thúc ở vị trí cuối bảng Division Two và phải nhận lần xuống hạng thứ hai liên tiếp. Giấc mơ vươn lên đỉnh cao các giải đấu Anh của Carlisle United dưới quyền sở hữu của Michael Knighton dần trở thành ác mộng khi họ lập tức xuống hạng trở lại Division Three, bất chấp vị chủ tịch đầy tham vọng của câu lạc bộ đã trực tiếp dẫn dắt đội một trong phần lớn mùa giải sau khi sa thải Mervyn Day vào mùa thu. Plymouth Argyle xuống Division Three lần thứ hai trong bốn mùa giải. Brentford, đội thua chung kết play-off mùa trước, xuống hạng ở ngày cuối cùng của mùa giải, trong khi gã khổng lồ sa sút Burnley là đội may mắn thoát xuống hạng trong quá trình đó. Việc trụ lại Division Two không đủ để cứu ghế của huấn luyện viên Burnley Chris Waddle, người nhanh chóng được thay thế bởi huấn luyện viên của Bury, Stan Ternent.
| Mùa giải | 1997–98 |
|---|---|
| Vô địch | Watford (danh hiệu hạng ba thứ 2) |
| Thăng hạng trực tiếp | Watford, Bristol City |
| Thăng hạng thông qua play-off | Grimsby Town |
| Xuống hạng | Brentford, Carlisle United, Plymouth Argyle, Southend United |
| Số trận đấu | 552 |
| Số bàn thắng | 1.337 (2,42 bàn mỗi trận) |
| Vua phá lưới | Barry Hayles (Bristol Rovers), 23 [1] |
← 1996–97 1998–99 → | |
Bảng xếp hạng
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Thăng hạng hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Watford (C, P) | 46 | 24 | 16 | 6 | 67 | 41 | +26 | 88 | Thăng hạng First Division |
| 2 | Bristol City (P) | 46 | 25 | 10 | 11 | 69 | 39 | +30 | 85 | |
| 3 | Grimsby Town (O, P) | 46 | 19 | 15 | 12 | 55 | 37 | +18 | 72 | Giành quyền tham dự Play-off Second Division |
| 4 | Northampton Town | 46 | 18 | 17 | 11 | 52 | 37 | +15 | 71 | |
| 5 | Bristol Rovers | 46 | 20 | 10 | 16 | 70 | 64 | +6 | 70 | |
| 6 | Fulham | 46 | 20 | 10 | 16 | 60 | 43 | +17 | 70 | |
| 7 | Wrexham | 46 | 18 | 16 | 12 | 55 | 51 | +4 | 70 | |
| 8 | Gillingham | 46 | 19 | 13 | 14 | 52 | 47 | +5 | 70 | |
| 9 | Bournemouth | 46 | 18 | 12 | 16 | 57 | 52 | +5 | 66 | |
| 10 | Chesterfield | 46 | 16 | 17 | 13 | 46 | 44 | +2 | 65 | |
| 11 | Wigan Athletic | 46 | 17 | 11 | 18 | 64 | 66 | −2 | 62 | |
| 12 | Blackpool | 46 | 17 | 11 | 18 | 59 | 67 | −8 | 62 | |
| 13 | Oldham Athletic | 46 | 15 | 16 | 15 | 62 | 54 | +8 | 61 | |
| 14 | Wycombe Wanderers | 46 | 14 | 18 | 14 | 51 | 53 | −2 | 60 | |
| 15 | Preston North End | 46 | 15 | 14 | 17 | 56 | 56 | 0 | 59 | |
| 16 | York City | 46 | 14 | 17 | 15 | 52 | 58 | −6 | 59 | |
| 17 | Luton Town | 46 | 14 | 15 | 17 | 60 | 64 | −4 | 57 | |
| 18 | Millwall | 46 | 14 | 13 | 19 | 43 | 54 | −11 | 55 | |
| 19 | Walsall | 46 | 14 | 12 | 20 | 43 | 52 | −9 | 54 | |
| 20 | Burnley | 46 | 13 | 13 | 20 | 55 | 65 | −10 | 52 | |
| 21 | Brentford (R) | 46 | 11 | 17 | 18 | 50 | 71 | −21 | 50 | Xuống hạng Third Division |
| 22 | Plymouth Argyle (R) | 46 | 12 | 13 | 21 | 55 | 70 | −15 | 49 | |
| 23 | Carlisle United (R) | 46 | 12 | 8 | 26 | 57 | 73 | −16 | 44 | |
| 24 | Southend United (R) | 46 | 11 | 10 | 25 | 47 | 79 | −32 | 43 |
Quy tắc xếp hạng: Tại Football League, số bàn thắng ghi được (GF) được ưu tiên hơn hiệu số bàn thắng bại (GD).
(C) Vô địch; (O) Thắng play-off; (P) Thăng hạng; (R) Xuống hạng
Play-off
| Bán kết Lượt đi - 9/10 tháng 5; Lượt về - 13 tháng 5 năm 1998 | Chung kết Wembley 24 tháng 5 năm 1998 | ||||||||||
| thứ 3 | Grimsby Town | 1 | 1 | 2 | |||||||
| thứ 6 | Fulham | 1 | 0 | 1 | |||||||
| thứ 3 | Grimsby Town | 1 | |||||||||
| thứ 4 | Northampton | 0 | |||||||||
| thứ 4 | Northampton | 1 | 3 | 4 | |||||||
| thứ 5 | Bristol Rovers | 3 | 0 | 3 | |||||||
Cầu thủ ghi bàn hàng đầu
| Thứ hạng | Cầu thủ | Câu lạc bộ | Số bàn thắng |
|---|---|---|---|
| 1 | Barry Hayles | Bristol Rovers | 23 |
| 2 | Ade Akinbiyi | Gillingham | 21 |
| 3 | Carlo Corazzin | Plymouth Argyle | 17 |
| = | Kevin Donovan | Grimsby Town | 17 |
| = | Mark Stallard | Wycombe Wanderers | 17 |
| = | Ian Stevens | Carlisle United | 17 |
| 7 | Andy Cooke | Burnley | 16 |
| = | David Lowe | Wigan Athletic | 16 |
| 9 | Peter Beadle | Bristol Rovers | 15 |
| = | Paul Moody | Fulham | 15 |
| 11 | Lee Ashcroft | Preston North End | 14 |
| = | Jeroen Boere | Southend United | 14 |
Bản đồ
Kết quả
Third Division
Trong mùa giải trọn vẹn đầu tiên trên cương vị huấn luyện viên Notts County, Sam Allardyce dẫn dắt Notts County giành chức vô địch Division Three với 99 điểm và biến đội bóng thành câu lạc bộ đầu tiên của Football League giành quyền thăng hạng trước cuối tháng 3, mang lại cho các cổ động viên tại Meadow Lane một lí do rất cần thiết để ăn mừng sau khi sáu mùa giải trước đó chứng kiến ba lần xuống hạng và một thất bại ở vòng play-off. Macclesfield Town kết thúc ở vị trí á quân để bảo đảm suất thăng hạng ngay trong mùa giải đầu tiên với tư cách một đội bóng thuộc Football League, và cùng góp mặt trong nhóm thăng hạng tự động với họ là Lincoln City, đội vươn lên hạng ba lần đầu tiên sau hơn một thập kỉ. Colchester United giành suất thăng hạng cuối cùng, đánh bại Torquay United 1–0 trong trận quyết định thăng hạng tại Wembley nhờ bàn thắng của David Gregory.
Doncaster Rovers xuống hạng khỏi Football League sau một mùa giải thảm họa, trong đó họ chỉ thắng bốn trận tại giải đấu và phải nhận kỉ lục 34 thất bại. Tương lai của câu lạc bộ sau đó được bảo đảm khi chủ tịch Ken Richardson, người bị cáo buộc cố gắng phóng hỏa sân vận động Belle Vue xuống cấp của câu lạc bộ như một phần của một vụ gian lận bảo hiểm bị nghi ngờ, rời chức và được thay thế bởi chủ sở hữu mới John Ryan, người bắt đầu tái thiết câu lạc bộ cả trong lẫn ngoài sân cỏ và bảo đảm việc nhanh chóng trở lại Football League. Brighton kết thúc ở vị trí thứ 23 trong mùa giải thứ hai liên tiếp, nhưng lần này chưa bao giờ thực sự rơi vào nguy cơ xuống hạng do phong độ tệ hại của Doncaster trong suốt mùa giải. Hull City trải qua một trong những mùa giải tồi tệ nhất trong lịch sử, kết thúc ở vị trí thứ ba từ dưới lên, trong khi triển vọng tăng cường đội hình của cầu thủ kiêm huấn luyện viên mới Mark Hateley bị hạn chế bởi các khoản nợ ngày càng tăng. Cardiff City cũng rơi vào giai đoạn sa sút tương tự, khi vị trí thứ 21 là thành tích tệ thứ hai trong lịch sử câu lạc bộ, còn vị trí thứ 20 của Swansea City là thấp nhất của họ kể từ năm 1975.
Vị trí của Doncaster trong Football League được thay thế bởi nhà vô địch Conference Halifax Town, đội giành lại vị thế tại League mà họ đã đánh mất năm năm trước.
| Mùa giải | 1997–98 |
|---|---|
| Vô địch | Notts County (danh hiệu hạng tư thứ 2) |
| Thăng hạng trực tiếp | Notts County, Lincoln City, Macclesfield Town |
| Thăng hạng thông qua play-off | Colchester United |
| Xuống hạng Conference | Doncaster Rovers |
| Câu lạc bộ mới ở Football League | Macclesfield Town |
| Số trận đấu | 552 |
| Số bàn thắng | 1.431 (2,59 bàn mỗi trận) |
| Vua phá lưới | Gary Jones (Notts County), 28 [1] |
← 1996–97 1998–99 → | |
Bảng xếp hạng
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Thăng hạng hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Notts County (C, P) | 46 | 29 | 12 | 5 | 82 | 43 | +39 | 99 | Thăng hạng Second Division |
| 2 | Macclesfield Town (P) | 46 | 23 | 13 | 10 | 63 | 44 | +19 | 82 | |
| 3 | Lincoln City (P) | 46 | 20 | 15 | 11 | 60 | 51 | +9 | 75 | |
| 4 | Colchester United (O, P) | 46 | 21 | 11 | 14 | 72 | 60 | +12 | 74 | Giành quyền tham dự Play-off Third Division |
| 5 | Torquay United | 46 | 21 | 11 | 14 | 68 | 59 | +9 | 74 | |
| 6 | Scarborough | 46 | 19 | 15 | 12 | 67 | 58 | +9 | 72 | |
| 7 | Barnet | 46 | 19 | 13 | 14 | 61 | 51 | +10 | 70 | |
| 8 | Scunthorpe United | 46 | 19 | 12 | 15 | 56 | 52 | +4 | 69 | |
| 9 | Rotherham United | 46 | 16 | 19 | 11 | 67 | 61 | +6 | 67 | |
| 10 | Peterborough United | 46 | 18 | 13 | 15 | 63 | 51 | +12 | 67 | |
| 11 | Leyton Orient | 46 | 19 | 12 | 15 | 62 | 47 | +15 | 66[a] | |
| 12 | Mansfield Town | 46 | 16 | 17 | 13 | 64 | 55 | +9 | 65 | |
| 13 | Shrewsbury Town | 46 | 16 | 13 | 17 | 61 | 62 | −1 | 61 | |
| 14 | Chester City | 46 | 17 | 10 | 19 | 60 | 61 | −1 | 61 | |
| 15 | Exeter City | 46 | 15 | 15 | 16 | 68 | 63 | +5 | 60 | |
| 16 | Cambridge United | 46 | 14 | 18 | 14 | 63 | 57 | +6 | 60 | |
| 17 | Hartlepool United | 46 | 12 | 23 | 11 | 61 | 53 | +8 | 59 | |
| 18 | Rochdale | 46 | 17 | 7 | 22 | 56 | 55 | +1 | 58 | |
| 19 | Darlington | 46 | 14 | 12 | 20 | 56 | 72 | −16 | 54 | |
| 20 | Swansea City | 46 | 13 | 11 | 22 | 49 | 62 | −13 | 50 | |
| 21 | Cardiff City | 46 | 9 | 23 | 14 | 48 | 52 | −4 | 50 | |
| 22 | Hull City | 46 | 11 | 8 | 27 | 56 | 83 | −27 | 41 | |
| 23 | Brighton & Hove Albion | 46 | 6 | 17 | 23 | 38 | 66 | −28 | 35 | |
| 24 | Doncaster Rovers (R) | 46 | 4 | 8 | 34 | 30 | 113 | −83 | 20 | Xuống hạng Football Conference |
Quy tắc xếp hạng: Tại Football League, số bàn thắng ghi được (GF) được ưu tiên hơn hiệu số bàn thắng bại (GD).
(C) Vô địch; (O) Thắng play-off; (P) Thăng hạng; (R) Xuống hạng
Ghi chú:
- ^ Leyton Orient had 3 points deducted.
Play-off
| Bán kết Lượt đi - 10 tháng 5; Lượt về - 13 tháng 5 năm 1998 | Chung kết Wembley 22 tháng 5 năm 1998 | ||||||||||
| thứ 4 | Colchester United | 0 | 3 | 3 | |||||||
| 7th | Barnet | 1 | 1 | 2 | |||||||
| thứ 4 | Colchester United | 1 | |||||||||
| thứ 5 | Torquay United | 0 | |||||||||
| thứ 5 | Torquay United | 3 | 4 | 7 | |||||||
| thứ 6 | Scarborough | 1 | 1 | 2 | |||||||
Cầu thủ ghi bàn hàng đầu
| Thứ hạng | Cầu thủ | Câu lạc bộ | Số bàn thắng |
|---|---|---|---|
| 1 | Gary Jones | Notts County | 28 |
| 2 | Steve Whitehall | Mansfield Town | 24 |
| 3 | Darran Rowbotham | Exeter City | 21 |
| 4 | Jimmy Quinn | Peterborough United | 20 |
| 5 | Carl Griffiths | Leyton Orient | 18 |
Bản đồ
Xem thêm
Tham khảo
Các bảng bên dưới được tái hiện tại đây theo đúng dạng có thể tìm thấy trên trang web Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation,[2] với thống kê sân nhà và sân khách được tách riêng. Các kết quả vòng play-off cũng lấy từ cùng trang web.
- ^ a b c Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a b c d e Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ https://www.european-football-statistics.co.uk/attn/archive/eng/aveeng1998.htm