Bước tới nội dung

Mark Hateley

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mark Hateley
Tập tin:Mark Hateley.jpg
Hateley năm 1994
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Mark Wayne Hateley
Ngày sinh 7 tháng 11, 1961 (64 tuổi)
Nơi sinh Derby, Derbyshire, Anh
Chiều cao 6 ft 3 in (1,91 m)
Vị trí Tiền đạo cắm
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
Nottingham Forest
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1978–1983 Coventry City 93 (25)
1980Detroit Express (mượn) 19 (2)
1983–1984 Portsmouth 38 (22)
1984–1987 AC Milan 66 (17)
1987–1990 Monaco 59 (22)
1990–1995 Rangers 165 (87)
1995–1997 Queens Park Rangers 27 (3)
1996Leeds United (mượn) 6 (0)
1997 Rangers 4 (1)
1997–1998 Hull City 21 (3)
1999 Ross County 2 (0)
Tổng cộng 500 (182)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
1979–1980 Trẻ Anh 7 (5)
1982–1984 Anh 10 (8)
1984–1992 Anh 32 (9)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm Đội
1997–1998 Hull City
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Mark Wayne Hateley (sinh ngày 7 tháng 11 năm 1961) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Anh, từng thi đấu ở vị trí tiền đạo cắm. Ông bắt đầu sự nghiệp với Coventry City tại First Division của bóng đá Anh. Sau đó là một giai đoạn thi đấu cho câu lạc bộ Second Division Anh Portsmouth, nơi ông kết thúc mùa giải 1983–84 với tư cách cầu thủ ghi bàn nhiều nhất của câu lạc bộ. Ông tiếp tục chuyển đến câu lạc bộ Ý AC Milan, nơi ông gặp nhiều chấn thương — cần bốn ca phẫu thuật;[1] tuy nhiên, ông đã ghi bàn quyết định trước đối thủ cùng thành phố Inter Milan vào năm 1984.

Năm 1987, Hateley ký hợp đồng với câu lạc bộ Pháp Monaco, giành Ligue 1 trong mùa giải đầu tiên tại câu lạc bộ Monaco. Năm 1990, ông ký hợp đồng với câu lạc bộ Scottish Premier Division Rangers. Trong giai đoạn 5 năm tại Glasgow, ông là thành viên của đội hình vô địch quốc gia ở mọi mùa giải, và đạt thành công cá nhân trong mùa giải 1993–94, khi được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của SFWACầu thủ xuất sắc nhất năm của SPFA, đồng thời là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất giải với 22 bàn. Ông tái gia nhập câu lạc bộ trong thời gian ngắn vào năm 1997, khi Rangers không còn tiền đạo nào khả dụng cho trận Old Firm, nhưng bị truất quyền thi đấu trong trận ra mắt thứ hai. Năm 1999, Hateley được chọn vào đội hình vĩ đại nhất mọi thời đại của Rangers, và năm 2003, ông được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rangers.

Từ năm 1984 đến năm 1992, Hateley có 32 lần ra sân cho đội tuyển quốc gia Anh, ghi chín bàn. Ông là thành viên các đội hình dự Giải vô địch bóng đá thế giới 1986Giải vô địch bóng đá châu Âu 1988.

Đầu đời

Hateley sinh tại Derby[2] vào ngày 7 tháng 11 năm 1961. Cha ông, Tony, cũng là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, từng thi đấu ở vị trí tiền đạo cho các câu lạc bộ như Notts County, Aston Villa, Coventry CityChelsea.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Hateley tập luyện với Nottingham Forest khi vẫn còn đi học; tuy nhiên, ông bị huấn luyện viên khi đó là Brian Clough từ chối, vì Clough không tin rằng ông đủ tài năng.[3] Sau khi rời trường, ông gia nhập Coventry City và bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp, thi đấu hơn 90 trận tại First Division trước khi chuyển đến PortsmouthSecond Division vào mùa hè năm 1983. Ông ghi 22 bàn tại giải vô địch cho Portsmouth trong mùa giải 1983–84.[4]

Ngày 28 tháng 6 năm 1984, ông chuyển đến AC Milan với mức phí 1 triệu bảng.[4] Ông ghi bàn quyết định và mang tính lịch sử trong chiến thắng 2–1 trước Interderby Milan ngày 28 tháng 10 năm 1984, đánh bại cựu hậu vệ Milan Fulvio Collovati bằng một pha đánh đầu; đây là lần đầu tiên Milan đánh bại Inter trong một trận derby sau sáu năm.[5][6][7][8]

Arsène Wenger sau đó đưa ông đến AS Monaco, biến ông thành bản hợp đồng đầu tiên của mình tại câu lạc bộ,[1] vào năm 1987, và ông là thành viên đội hình giành chức vô địch Division 1 Pháp mùa giải 1987–88.[9] Ayrton Senna sống trong căn hộ bên dưới ông, còn Boris Becker sống cạnh nhà ông trong một phần thời gian ông ở Monaco. Senna từng chơi bóng đá five-a-side cùng Hateley.[1]

Sau ba năm tại Monaco, Hateley khi đó 28 tuổi trở lại Anh trong thương vụ trị giá 1 triệu bảng đến Rangers vào ngày 19 tháng 7 năm 1990, chấp nhận mức lương giảm 80% so với thời ở Milan.[1] Huấn luyện viên Graeme Souness từng cố gắng đưa ông đến Ibrox từ Milan ba năm trước đó.[10] Hateley trở thành một phần quan trọng của đội hình Rangers, và được các cây bút bóng đá Scotland bầu là cầu thủ xuất sắc nhất năm trong mùa giải 1993–94. Ông ghi 112 bàn cho Gers trên mọi đấu trường, bao gồm hai bàn giúp đội đoạt chức vô địch ở ngày cuối cùng năm 1991[11][12] và mỗi trận một bàn trong các chiến thắng sít sao ở chung kết Scottish Cup 19921993. Rangers vô địch quốc gia trong mọi mùa giải Hateley thi đấu cho họ — ông ghi 85 bàn tại Scottish Premier Division trong quá trình này — khi đội tiến đến chuỗi chín chức vô địch liên tiếp, kéo dài từ năm 1989 đến năm 1997.[13]

Về cặp tiền đạo nổi tiếng của Hateley tại Rangers với Ally McCoist, Hateley nói: "Alistair là đối tác hoàn hảo của tôi. Với tư cách một cầu thủ dứt điểm, ông ấy là một tay săn bàn không thể tin nổi. Ông ấy liên kết với tôi. Tất cả những gì một cầu thủ ghi bàn làm là nhìn vào người dẫn dắt hàng công và bảo đảm mình lệch vị trí, cách khoảng mười lăm yard. Đó là một cặp đôi tuyệt vời."[1] Trong mùa giải 1992–93, Rangers ghi 97 bàn. McCoist giành Chiếc giày vàng châu Âu với 49 bàn trong số đó, còn Hateley ghi 29 bàn.[14] Ông đứng thứ ba trong cuộc bầu chọn SFWA năm 1993.[15]

Sau khi có 218 lần ra sân cho Rangers, ông chuyển đến Queens Park Rangers vào tháng 11 năm 1995 với mức phí 1,5 triệu bảng.[16] Ông vừa hồi phục sau các ca phẫu thuật đồng thời ở đầu gối và mắt cá chân. Hateley nói vào năm 2021: "Cha tôi luôn nói đừng bao giờ đưa ra quyết định khi đang chấn thương hoặc sức khỏe không tốt, vì gần như chắc chắn đó sẽ là quyết định sai, một quyết định theo cảm xúc. Chỉ sau đúng mười ngày, tôi biết đó là một vụ chuyển nhượng sai lầm."[1]

Đầu năm 1997, khi Rangers đang cố giành chức vô địch thứ chín liên tiếp và có danh sách chấn thương dài, huấn luyện viên Walter Smith rất cần một tiền đạo, nên tái ký hợp đồng với Hateley với mức phí 300.000 bảng để thi đấu trong trận then chốt trước đối thủ lớn nhất của Rangers là Celtic.[17] Rangers thắng trận 1–0, nhưng Hateley bị truất quyền thi đấu vì húc đầu vào Stewart Kerr.[18] Ông thi đấu bốn trận trong giai đoạn thứ hai tại Rangers, ghi một bàn, rồi chuyển đến Hull City vào tháng 7 năm 1997, nơi ông đảm nhiệm vai trò cầu thủ kiêm huấn luyện viên.[4][19] Hateley dẫn dắt Hull từ mùa hè năm 1997 đến tháng 11 năm 1998.[20]

Hateley kết thúc sự nghiệp thi đấu với Ross County vào tháng 9 năm 1999, ra sân hai trận cho đội bóng này.[21][22] "Đó là một quãng thời gian tuyệt vời. Tôi thật sự thích ở đó. Nhưng về mặt di chuyển thì đó là một cơn ác mộng đối với tôi, vì tôi sống ở Derby và đang trải qua ly hôn. Tôi phải bay từ East Midlands đến Glasgow, rồi chỉ có hai mươi phút để nối chuyến lên đó, và tôi không bao giờ kịp."[1]

Sự nghiệp quốc tế

Tập tin:Two Mexican soccer players go up for a header during game against England at Los Angeles Coliseum, Calif., 1986.jpg
Hateley (ngoài cùng bên phải) thi đấu cho Anh trong trận giao hữu với México, 1986

Ngày 2 tháng 6 năm 1984, Hateley có lần đầu khoác áo Anh ở cấp đội tuyển quốc gia trong thất bại giao hữu 2–0 trước Liên Xô. Ở trận kế tiếp tám ngày sau, ông ghi bàn trong chiến thắng 2–0 trước Brazil, đến nay vẫn là chiến thắng sân khách duy nhất của Anh trước Brazil. Đến cuối năm 1984, ông đã có sáu lần khoác áo Anh và ghi ba bàn. Ông đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch vòng loại thành công của Anh cho Giải vô địch bóng đá thế giới 1986, ghi các bàn quan trọng trước Phần LanBắc Ireland. Tuy nhiên, Anh khởi đầu chậm chạp tại giải đấu, và sau hai kết quả thất vọng — thất bại trước Bồ Đào Nha và trận hòa với Maroc — Hateley nằm trong nhóm cầu thủ bị loại khỏi đội hình, được thay thế bởi Peter Beardsley. Anh thắng trận kế tiếp trước Ba Lan và sau đó Hateley không còn được trọng dụng. Ông có lần ra sân cuối cùng trong tổng số 32 lần khoác áo ở trận giao hữu hòa 2–2 với Tiệp Khắc vào năm 1992.[23]

Phong cách thi đấu

Là một tiền đạo mục tiêu truyền thống, Hateley là một trung phong giàu thể chất, đặc biệt nổi tiếng với sức mạnh trong không chiến và khả năng ghi bàn bằng đầu.[5]

Đời tư

Hateley từng kết hôn hai lần,[1] và có bốn người con từ cuộc hôn nhân đầu tiên. Con trai của Hateley là Tom, sinh tại Monaco trong thời gian cha ông khoác áo AS Monaco, cũng là một cầu thủ bóng đá.[24]

Paul Gascoigne sống cùng Hateley trong hai tuần sau khi ký hợp đồng với Rangers vào tháng 7 năm 1995 với mức phí kỷ lục câu lạc bộ 4,3 triệu bảng.[1]

Năm 2021, Hateley phát hành tự truyện Hitting the Mark: My Story.[25]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu[26]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia[a] Cúp Liên đoàn[b] Châu lục Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Coventry City 1978–79 First Division 1 0 0 0 0 0 1 0
1979–80 4 0 1 0 0 0 5 0
1980–81[27] 19 3 3 0 6 2 28 5
1981–82 34 13 4 4 2 1 40 18
1982–83 35 9 3 2 0 0 38 11
Tổng cộng 93 25 11 6 8 3 112 34
Detroit Express (mượn) 1980[28] NASL 19 2 19 2
Portsmouth 1983–84 Second Division 38 22 2 1 4 2 44 25
Milan 1984–85 Serie A 21 7 7 1 28 8
1985–86 22 8 4 1 4[c] 2 30 11
1986–87 23 2 5 0 28 2
Tổng cộng 66 17 16 2 4 2 86[29] 21[29]
Monaco 1987–88 Ligue 1 28 14 3 0 31 14
1988–89 18 6 1 1 2[d] 0 21 7
1989–90 13 2 1 1 2 0 16 3
Tổng cộng 59 22 5 2 4 0 68 24
Rangers 1990–91 Scottish Premier Division 33 10 3 2 4 2 2[d] 1 42 15
1991–92 30 21 2 2 2 0 1[d] 0 35 23
1992–93[30] 37 19 5 2 4 3 8[e] 3 54 27
1993–94[31] 42 22 6 4 5 2 2[e] 2 55 30
1994–95 23 13 1 0 2 2 2[e] 0 28 15
1995–96[32] 0 0 0 0 2 2 2[e] 0 4 2
Tổng cộng 165 85 17 10 19 11 17 6 218 112
Queens Park Rangers 1995–96 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 14 2 1 0 1 0 16 2
1996–97 Division One 13 1 4 2 0 0 17 3
Tổng cộng 27 3 5 2 1 0 33 5
Leeds United (mượn) 1996–97 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 6 0 0 0 0 0 6 0
Rangers 1996–97 Scottish Premier Division 4 1 0 0 0 0 0 0 4 1
Hull City 1997–98 Division Three 9 0 0 0 5 0 14 0
1998–99 12 3 0 0 1 0 13 3
Tổng cộng 21 3 0 0 6 0 27 3
Ross County 1999–2000 Scottish Second Division 2 0 0 0 0 0 2 0
Tổng cộng sự nghiệp 500 180 56 23 38 16 25 8 619 227

Quốc tế

Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm[2]
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Anh 1984 6 3
1985 8 3
1986 7 3
1987 4 0
1988 6 0
1992 1 0
Tổng cộng 32 9
Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Anh trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Hateley.[2]
Danh sách bàn thắng quốc tế được ghi bởi Mark Hateley
Thứ tự Ngày Địa điểm Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải đấu
1 10 tháng 6 năm 1984 Sân vận động Maracanã, Rio de Janeiro, Brasil  Brasil 2–0 2–0 Giao hữu
2 17 tháng 10 năm 1984 Sân vận động Wembley, Luân Đôn, Anh  Phần Lan 1–0 5–0 Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1986
3 3–0
4 27 tháng 2 năm 1985 Windsor Park, Belfast, Bắc Ireland  Bắc Ireland 1–0 1–0
5 22 tháng 5 năm 1985 Sân vận động Helsinki Olympic, Helsinki, Phần Lan  Phần Lan 1–1 1–1
6 6 tháng 6 năm 1985 Sân vận động Azteca, Mexico City, México  Ý 1–1 1–2 Ciudad de México Cup
7 17 tháng 5 năm 1986 Đấu trường Tưởng niệm Los Angeles, Los Angeles, Hoa Kỳ  México 1–0 3–0 Giao hữu
8 2–0
9 24 tháng 5 năm 1986 Sân vận động Swangard, Burnaby, Canada  Canada 1–0 1–0

Thống kê huấn luyện

[33]

Đội bóng Quốc gia Từ Đến Thành tích
St T H B % Thắng
Hull City Anh 15 tháng 7 năm 1997 11 tháng 11 năm 1998 &000000000000007600000076 &000000000000001700000017 &000000000000001400000014 &000000000000004500000045 0&000000000000002237000022,37

Danh hiệu

Monaco

Rangers

U-21 Anh

Cá nhân

Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h i "MARK HATELEY | Open Goal Meets... Former Rangers, Anh, AC Milan & Monaco Striker" – Open Goal, YouTube, 29 tháng 11 năm 2021
  2. ^ a b c d "England Football Online". Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2016.
  3. ^ "Mark Hateley: Chosen by Capello and rejected by Clough but still kicking every ball". independent.co.uk. ngày 23 tháng 10 năm 2011.
  4. ^ a b c "Mark Hateley league stats". Sporting Heroes.net. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012.
  5. ^ a b "Mark Wayne HATELEY ("Attila")" (bằng tiếng Ý). magliarossonera.it. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2016.
  6. ^ Brera, Gianni (ngày 30 tháng 10 năm 1984). "A QUESTO MILAN ALTRO NON POSSO CHE INCHINARMI" (bằng tiếng Ý). La Repubblica. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2016.
  7. ^ "28 ottobre 1984: Milan Inter 2-1 Il fantastico volo di Hateley" (bằng tiếng Ý). Storie di Calcio. ngày 3 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2016.
  8. ^ "Ex Milan Hateley: 'Coreografia commovente. Che coppia io e Bacca, Mihajlovic l'uomo giusto'" (bằng tiếng Ý). Calciomercato.com. ngày 3 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2016.
  9. ^ British footballers abroad - 10 hits and 10 misses. The Telegraph. Retrieved 29 tháng 7 năm 2018.
  10. ^ "Million Pound Mark for Ibrox". Evening Times. 15 tháng 6 năm 1990.
  11. ^ "Rangers and Aberdeen's epic duel for the 1991 Scottish title – 25 years ago". BBC Sport. ngày 11 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2021.
  12. ^ "Flashback: 1991, Mark Walters and Scott Booth recall their part in Smith's maiden final-day triumph". The Herald. ngày 14 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2021.
  13. ^ "Mark Hateley". Rangers FC. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2013.
  14. ^ "When Rangers nearly conquered Europe..." – Sky Sports
  15. ^ "Goram Player of the Year". Dundee Courier. ngày 12 tháng 4 năm 1993. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012 – qua British Newspaper Archive.
  16. ^ "Mark Hateley: Rangers FC". Sporting Heroes. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012.
  17. ^ "It's Atilla the gun!Hot-shot Hateley is back in town with Celtic in his sights". Daily Mirror (The Free Library). 15 tháng 3 năm 1997.
  18. ^ McKinney, David (ngày 17 tháng 3 năm 1997). "Football: Ugly ending at Celtic". The Independent. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013.
  19. ^ "Hateley's in heaven and Hull". Daily Record (The Free Library). 16 tháng 7 năm 1997.
  20. ^ "Hateley sacked by struggling Hull". The Scotsman. 11 tháng 11 năm 1998.
  21. ^ "Hateley sacked by Ross County for being a jinx". The Independent. 19 tháng 9 năm 1999.
  22. ^ "Mark Hateley dumped by Ross County". Daily Record (The Free Library). 14 tháng 9 năm 1999.
  23. ^ "Mark Hateley". England Player Profile. englandfc.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2013.
  24. ^ McLean, Euan (ngày 16 tháng 6 năm 2013). "Mark Hateley has warned Motherwell his son Tom is wanted by English clubs as club stall on new deal for out-of-contract star". Daily Record and Sunday Mail. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2014.
  25. ^ Hitting the Mark:My Story, Mark Hateley and Alistair Aird (Reach Sport, 2021) ISBN 1914197267
  26. ^ "Mark Hateley". Oncloudseven.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2012.
  27. ^ Rollin, Jack, biên tập (1981). Rothmans Football Yearbook 1981–82. Queen Anne Press. ISBN 0-362-02046-9.
  28. ^ "Mark Hateley NASL stats". NASLjerseys.com. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2012.
  29. ^ a b "Mark Wayne HATELEY" (bằng tiếng Ý). magliarossonera.it. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012.
  30. ^ Rollin, Jack, biên tập (1993). Rothmans Football Yearbook 1993–94. Headline. ISBN 0-7472-7895-4.
  31. ^ Rollin, Jack, biên tập (1994). Rothmans Football Yearbook 1994–95. Headline. ISBN 0-7472-7857-1.
  32. ^ Rollin, Glenda, biên tập (1996). Rothmans Football Yearbook 1996–97. Headline. ISBN 0-7472-7781-8.
  33. ^ "Mark Hateley's managerial career". Soccerbase. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2024.
  34. ^ Gallacher, Ken; Hateley, Mark (2001). Rangers Legends (Mark Hateley). Mainstream publishing company. tr. 109. ISBN 1-84018-542-2.
  35. ^ a b Hayes, Dean (2007). Rangers 100 Heroes of the modern game. Mercat Press. tr. 58. ISBN 978-1-84183-125-1.
  36. ^ Benstead, Mark (2005). The Rough guide 11's Glasgow Rangers. Rough Guides. tr. 89. ISBN 1843535645.
  37. ^ "UEFA.com Under-21 1982-84 Overview". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2016.
  38. ^ "WELL BUFFED". The Scotsman. ngày 13 tháng 1 năm 1995. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2023 – qua British Newspaper Archive.
  39. ^ Pierrend, José Luis (ngày 26 tháng 3 năm 2005). "European Footballer of the Year ("Ballon d'Or") 1987". RSSSF. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2016.
  40. ^ Pierrend, José Luis (ngày 11 tháng 5 năm 2005). "European Footballer of the Year ("Ballon d'Or") 1985". RSSSF. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2016.
  41. ^ Pierrend, José Luis (ngày 26 tháng 3 năm 2005). "European Footballer of the Year ("Ballon d'Or") 1984". RSSSF. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2016.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Huấn luyện viên bóng đá Hull City A.F.C.

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).