Đội tuyển bóng đá quốc gia México
Đội tuyển bóng đá quốc gia México (tiếng Tây Ban Nha: Selección de fútbol de México) là đội tuyển đại diện cho México ở các giải đấu bóng đá quốc tế và được quản lý bởi Liên đoàn bóng đá México (tiếng Tây Ban Nha: Federación Mexicana de Fútbol). Đội thi đấu với tư cách là thành viên của CONCACAF.

México đã vượt qua vòng loại mười bảy kỳ World Cup và đã vượt qua vòng loại liên tiếp kể từ năm 1994, trở thành một trong sáu quốc gia làm được điều này. Đội tuyển quốc gia México, cùng với Brasil là hai quốc gia duy nhất vượt qua vòng bảng trong bảy kỳ World Cup gần nhất.[1] México đấu với Pháp trong trận đầu tiên của Giải vô địch thế giới đầu tiên vào ngày 13 tháng 7 năm 1930. Thành tích tốt nhất của México tại các kỳ World Cup là lọt vào tứ kết ở cả hai kỳ World Cup 1970 và 1986, cả hai kỳ đều được tổ chức trên đất México.
México là đội tuyển quốc gia thành công nhất trong lịch sử ở khu vực CONCACAF khi đã giành được 13 danh hiệu liên đoàn, bao gồm 10 Cúp vàng CONCACAF và 3 Giải vô địch CONCACAF (tiền thân của Cúp vàng), cũng như 2 Giải vô địch NAFC, 1 Cúp các quốc gia Bắc Mỹ, một Cúp CONCACAF và hai huy chương vàng Đại hội Thể thao Trung Mỹ và Caribe. Đây là một trong tám quốc gia[lower-alpha 1] đã giành được hai trong số ba giải đấu bóng đá quan trọng nhất (World Cup, Confederations Cup và Thế vận hội mùa hè), sau khi giành được FIFA Confederations Cup 1999[2] và Thế vận hội Mùa hè 2012.[3] México cũng là đội duy nhất của CONCACAF vô địch một giải đấu chính thức của FIFA, vô địch Cúp Liên đoàn các châu lục 1999. Mặc dù México thuộc thẩm quyền của CONCACAF, nhưng đội tuyển này thường xuyên được mời tham dự Copa América từ năm 1993 đến năm 2016, về nhì hai lần vào năm 1993 và 2001, ngoài ra còn có ba lần giành được vị trí thứ ba.
Lịch sử
Những năm đầu
Bóng đá tại Mexico lần đầu tiên được tổ chức vào đầu thế kỷ 20 bởi các nhóm nhập cư người châu Âu, đặc biệt là các thợ mỏ đến từ Cornwall, Anh, và những năm sau đó là những người Tây Ban Nha lưu vong chạy trốn khỏi cuộc Nội chiến Tây Ban Nha.
Trận đấu đầu tiên của đội tuyển được diễn ra vào ngày 9 tháng 12 năm 1923 tại Parque España ở Thành phố Mexico. Khi đó họ đã đánh bại Guatemala với tỷ số 2–1, mở màn cho chuỗi trận giao hữu quốc tế với đối thủ này. Trận thứ hai diễn ra vào ngày 12 tháng 12 với chiến thắng 2–0 nghiêng về Mexico, và trận đấu cuối cùng của loạt trận vào ngày 16 tháng 12 đã kết thúc với tỷ số hòa 3–3.[4] Huấn luyện viên trưởng của đội khi đó là ông Rafael Garza Gutiérrez.[4]
Phải mất bốn năm sau, đội tuyển quốc gia mới tiếp tục góp mặt trong các trận giao hữu quốc tế. Mexico có cuộc đối đầu với Tây Ban Nha và hòa 3–3 vào ngày 19 tháng 6 năm 1927. Cũng trong loạt trận này, đội đã thi đấu với câu lạc bộ Nacional de Montevideo và để thua với tỷ số 1–3.[5]
Thành lập
Vào năm 1927, cơ quan quản lý bóng đá chính thức đầu tiên tại Mexico được thành lập. Thế vận hội mùa hè 1928 là giải đấu quốc tế chính thức đầu tiên của Mexico, nơi họ để thua Tây Ban Nha 1–7 ở vòng 16 đội.[6]
Mexico đã tham dự kỳ World Cup đầu tiên năm 1930 tại Uruguay, nằm chung bảng với Argentina, Chile và Pháp. Họ cũng chính là một trong hai đội đá trận mở màn lịch sử World Cup và để thua Pháp 1–4, trong đó bàn thắng đầu tiên của Mexico tại đấu trường này được ghi bởi Juan Carreño.[7] Ở trận đấu thứ hai, Mexico thất thủ 0–3 trước Chile. Trong trận đấu cuối gặp Argentina, giải đấu đã chứng kiến quả phạt đền đầu tiên ltrong ịch sử do cầu thủ Manuel Rosas của Mexico thực hiện thành công, dù chung cuộc Mexico vẫn để thua với tỷ số đậm 3–6.[8]
Sau Thế chiến II
Mexico không xuất hiện thêm ở một kỳ World Cup nào khác cho đến năm 1950. Dù là thế lực thống trị tại Liên đoàn bóng đá Bắc Mỹ cũng như tổ chức kế thừa sau đó là CONCACAF, Mexico lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc để lại dấu ấn tại World Cup trước năm 1970 khi liên tục lép vế trước các đại diện châu Âu và Nam Mỹ. Dẫu vậy, thủ môn Antonio Carbajal đã đi vào lịch sử khi trở thành cầu thủ đầu tiên tham dự 5 kỳ World Cup liên tiếp.[9]
Vào năm 1965, Mexico lên ngôi vô địch tại Giải vô địch bóng đá CONCACAF 1965 để lần đầu tiên trở thành ông vua của khu vực.
Mexico trở thành chủ nhà của World Cup 1970. Họ khởi đầu chiến dịch bằng trận hòa không bàn thắng với Liên Xô, tiếp sau đó là chiến thắng hủy diệt 4–0 trước El Salvador. Mexico giành vé vào vòng sau nhờ chiến thắng tối thiểu trước Bỉ, nhưng bước vào tứ kết, họ đã bị Ý loại với tỷ số 1–4.
Đội tuyển không thể vượt qua vòng loại World Cup 1974 tại Tây Đức, nhưng đã góp mặt tại vòng chung kết World Cup 1978. Tuy nhiên, họ phải về nước sớm sau ba trận toàn thua: 0–6 trước Đức, 1–3 trước Tunisia và 1–3 trước Ba Lan. Đến kỳ World Cup 1982, Mexico tiếp tục không vượt qua được vòng loại.
Năm 1986, Mexico một lần nữa được trao quyền đăng cai World Cup. Dưới sự dẫn dắt của chiến lược gia Bora Milutinović, Mexico nằm ở Bảng B, nơi họ đánh bại Bỉ 2–1, hòa Paraguay 1–1 và thắng Iraq 1–0. Với ngôi nhất bảng, El Tri tiến vào vòng knock-out và vượt qua Bulgaria với tỷ số 2–0. Tại vòng tứ kết, hành trình của họ dừng lại trước Tây Đức sau thất bại 1–4 ở loạt sút luân lưu cân não khi hai đội hòa nhau 0–0 trong hai hiệp chính và hai hiệp phụ.
Thập niên 1990
Mexico bị tước quyền tham dự World Cup 1990 (cùng các giải đấu quốc tế khác) do bê bối "Cachirules" — vụ việc gian lận tuổi cầu thủ tại vòng loại Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới 1989. Án phạt này được FIFA áp dụng nghiêm khắc cho tất cả các cấp độ đội tuyển quốc gia của Mexico tại mọi giải đấu thuộc hệ thống quản lý.[10]
Vào thập niên 1990, sau khi bổ nhiệm huấn luyện viên César Luis Menotti, bóng đá Mexico bắt đầu gặt hái được những thành công vang dội hơn trên trường quốc tế. Tại Copa América 1993, họ giành ngôi Á quân sau khi để thua Argentina 1–2 trong trận chung kết. Tại kỳ World Cup 1994 tổ chức ở Hoa Kỳ, Mexico xuất sắc đứng đầu bảng đấu tử thần nhờ hơn chỉ số phụ trước các đối thủ Ý, Ireland và Na Uy. Dù vậy, họ đã phải dừng bước ở vòng 16 đội trước Bulgaria sau loạt đấu súng định mệnh.
Tại World Cup 1998, Mexico rơi vào bảng đấu có sự góp mặt của Hà Lan, Hàn Quốc và Bỉ. Họ khởi đầu thuận lợi bằng chiến thắng 3–1 trước Hàn Quốc, lần lượt cầm hòa Bỉ và Hà Lan cùng với tỷ số 2–2 để tiến vào vòng 16 đội. Tại đây, Mexico để thua sát nút Đức với tỷ số 1–2.
Vào năm 1999, Mexico giành được danh hiệu chính thức đầu tiên thuộc hệ thống FIFA khi trở thành đội chủ nhà đầu tiên lên ngôi vô địch tại FIFA Confederations Cup. Họ đã đánh bại Hoa Kỳ 1–0 ở bán kết, trước khi hạ gục đương kim Á quân World Cup Brazil với tỷ số 4–3 trong trận chung kết.[11]
Thế kỷ 21
Thập niên 2000
Mexico nằm ở Bảng G tại World Cup 2002 cùng với Ý, Croatia và Ecuador. Mexico khởi đầu thuận lợi bằng chiến thắng 1–0 trước Croatia. Ở lượt trận thứ hai, họ tiếp tục đánh bại Ecuador với tỷ số 2–1 trước khi cầm hòa Ý 1–1. Tiến vào vòng 16 đội, Mexico đối đầu với kình địch Hoa Kỳ và để thua với tỷ số 0–2.
Mexico là một trong tám đội hạt giống tại World Cup 2006 diễn ra ở Đức. Họ nằm ở Bảng D cùng với Iran, Angola và Bồ Đào Nha. Mexico thắng trận ra quân 3–1 trước Iran, sau đó hòa 0–0 đầy tiếc nuối trước Angola. Dù để thua Bồ Đào Nha 1–2 ở lượt cuối, Mexico vẫn giành quyền vào vòng 16 đội. Tại đây, họ một lần nữa bị loại bởi Argentina với tỷ số sát nút 1–2. Huấn luyện viên trưởng Ricardo Lavolpe đã từ chức sau giải đấu và người kế nhiệm ông là huyền thoại Hugo Sánchez.
Sau thất bại 1–2 trước Hoa Kỳ trong trận chung kết Cúp Vàng CONCACAF 2007, Mexico đã có màn trở lại ấn tượng tại Copa América 2007. Khởi đầu bằng việc quật ngã Brazil 2–0, họ tiếp tục hạ gục Ecuador và hòa Chile để đứng đầu Bảng B. Tại tứ kết, Mexico hủy diệt Paraguay với tỷ số đậm 6–0, nhưng phải dừng bước ở bán kết sau trận thua 0–3 trước Argentina. Cuối cùng, Mexico giành huy chương đồng sau khi đánh bại Uruguay 3–1.
Vào tháng 7 năm 2009, Mexico giành chức vô địch Cúp Vàng CONCACAF thứ năm, và là danh hiệu vô địch khu vực CONCACAF thứ tám trong lịch sử, sau khi đè bẹp Hoa Kỳ với tỷ số 5–0 trong trận chung kết.[12]
Thập niên 2010
Mexico vượt qua vòng loại để góp mặt tại World Cup 2010, nơi họ nằm ở Bảng A cùng với đội chủ nhà Nam Phi, Pháp và Uruguay. Họ hòa Nam Phi 1–1, đánh bại Pháp 2–0 trước khi để thua Uruguay 0–1. Dù giành quyền vào vòng 16 đội, hành trình của Mexico lại kết thúc bởi một thất bại khác trước Argentina với tỷ số 1–3.
Tại Cúp Vàng CONCACAF 2011, Mexico thể hiện sức mạnh vượt trội khi đứng đầu bảng với 3 trận toàn thắng. Tuy nhiên, một bê bối đã xảy ra trong giải đấu khi 5 cầu thủ bị phát hiện dương tính với chất cấm clenbuterol và ngay lập tức bị đình chỉ thi đấu.[13] Vượt qua khó khăn, Mexico đánh bại Guatemala 2–1 ở tứ kết và Honduras 2–0 ở bán kết. Năm thứ ba liên tiếp, trận chung kết là cuộc chạm trán giữa Mexico và Hoa Kỳ. Mexico ngược dòng giành chiến thắng 4–2,[14] qua đó giành vé tham dự FIFA Confederations Cup 2013 tại Brazil (nơi họ bị loại ngay từ vòng bảng).
Mexico đứng thứ nhì bảng đấu của mình tại Cúp Vàng CONCACAF 2013, tiến vào bán kết để đối đầu với Panama.[15] Mexico tiếp tục để thua với tỷ số 1–2, đánh dấu thất bại thứ hai trước Panama tại giải đấu này sau trận thua ở vòng bảng. Hai trận thua trước Panama cũng là những lần đầu tiên trong lịch sử Panama có thể đánh bại được Mexico trong một trận đấu thuộc khuôn khổ Cúp Vàng.[16]
Mexico chỉ thắng vỏn vẹn 2 trong số 10 trận đấu ở vòng loại thứ tư của chiến dịch vòng loại World Cup 2014. Dẫu vậy, họ vẫn may mắn giành suất đá play-off liên lục địa nhờ đứng thứ tư tại khu vực CONCACAF.[17] Tại đây, họ hủy diệt New Zealand với tổng tỷ số 9–3 sau hai lượt trận để có lần thứ sáu liên tiếp góp mặt ở ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh.[17] Đội tuyển lọt vào vòng 16 đội trước khi để thua sát nút Hà Lan với tỷ số 1–2.[18]
Tại Cúp Vàng CONCACAF 2015, Mexico nằm ở Bảng C cùng với Trinidad và Tobago, Cuba và Guatemala. Đội bóng giành ngôi nhì bảng, sau đó vượt qua Costa Rica ở tứ kết và Panama ở bán kết trong các trận đấu đầy rẫy tranh cãi về công tác trọng tài.[19][20][21] Mexico lên ngôi vô địch Cúp Vàng sau khi đánh bại Jamaica 3–1 ở trận chung kết.[22] Chỉ hai ngày sau chức vô địch, chiến lược gia Miguel Herrera đã bị sa thải do vướng vào một vụ ẩu đả với bình luận viên Christian Martinoli của đài TV Azteca.[23]
Mexico bước vào giải đấu Copa América Centenario tổ chức tại Hoa Kỳ với chuỗi 19 trận bất bại ấn tượng bắt đầu từ tháng 6 năm 2015.[24] El Tri giành ngôi nhất Bảng C sau khi giành chiến thắng 3–1 trước Uruguay, hạ gục Jamaica 2–0 và hòa Venezuela 1–1.[25] Tuy nhiên tại vòng tứ kết chạm trán Chile ở Santa Clara, California, đội tuyển đã phải nhận thất bại nhục nhã 0–7, chấm dứt chuỗi trận bất bại ở con số 22 kéo dài gần một năm trời.[26] Sau trận đấu, huấn luyện viên trưởng Osorio đã phải lên tiếng xin lỗi người hâm mộ bóng đá nước nhà vì kết quả mà ông gọi là "một nỗi xấu hổ và một tai nạn của bóng đá".[27]
Tại Confederations Cup 2017, Mexico nằm ở Bảng A cùng với Bồ Đào Nha, New Zealand và đội chủ nhà Nga. El Tri giành vé đi tiếp với tư cách nhì bảng nhưng đã để thua đậm 1–4 trước Đức ở vòng bán kết.[28] Cuối cùng, Mexico khép lại giải đấu ở vị trí thứ tư sau thất bại sát nút 1–2 trước Bồ Đào Nha trong trận tranh hạng ba.[29]
Ngay trong trận ra quân tại World Cup 2018, Mexico đã tạo nên địa chấn khi đánh bại đương kim vô địch Đức nhờ bàn thắng duy nhất của Hirving Lozano.[30] Ở lượt trận tiếp theo, họ tiếp tục vượt qua Hàn Quốc với tỷ số 2–1[31] bằng các pha lập công của Carlos Vela và Javier Hernández,[32][33] trước khi để thua đậm 0–3 trước Thụy Điển ở lượt trận cuối vòng bảng.[34] Bất chấp trận thua này, đại diện Bắc Mỹ vẫn giành quyền vào vòng mười sáu đội ở kỳ World Cup thứ bảy liên tiếp.[35] Tại vòng 16 đội, Mexico nhận thất bại 0–2 trước Brazil.[36][37] Trận thua này khiến họ tiếp tục dính lời nguyền không thể lọt vào vòng tứ kết trong suốt 7 giải đấu liên tiếp, kể từ lần cuối cùng họ làm được điều này trên sân nhà vào năm 1986.[38] Đến ngày 28 tháng 7, Juan Carlos Osorio đã chia tay đội bóng sau khi kết thúc hợp đồng.[39]
Vào tháng 1 năm 2019, Gerardo Martino được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới, trở thành chiến lược gia người Argentina thứ ba trong lịch sử dẫn dắt đội tuyển quốc gia.[40] Tại giải Cúp Vàng CONCACAF năm đó, họ toàn thắng cả ba trận vòng bảng, vượt qua Costa Rica với tỷ số 5–4 trên loạt sút luân lưu sau khi hòa 1–1 ở tứ kết, và hạ gục Haiti ở bán kết. Mexico giành chức vô địch sau khi vượt qua Hoa Kỳ với tỷ số tối thiểu 1–0 trong trận chung kết.[41]
Thập niên 2020
Mexico chỉ giành vị trí Á quân tại giải Chung kết CONCACAF Nations League 2021 và Cúp Vàng CONCACAF 2021 sau khi đều để thua trước Hoa Kỳ. Đến kỳ World Cup 2022 tại Qatar, Mexico đứng thứ ba Bảng C sau Argentina và Ba Lan do kém chỉ số phụ. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1978 Mexico bị loại ngay từ vòng bảng (không tính các kỳ World Cup 1982 và 1990 mà họ không tham dự). Kết quả thất vọng này đã cắt đứt chuỗi lọt vào vòng 16 đội liên tiếp của Mexico và khiến huấn luyện viên Gerardo Martino phải từ chức ngay sau khi đội bóng bị loại.[42]
Vào tháng 2 năm 2023, Diego Cocca được lựa chọn làm tân thuyền trưởng của đội tuyển, trở thành huấn luyện viên người Argentina thứ tư tiếp quản vị trí này.[43] Cũng trong tháng này, Mexico tự động có vé tham dự World Cup 2026 với tư cách đồng chủ nhà. Tại vòng bán kết CONCACAF Nations League 2023, Mexico thảm bại 0–3 trước Hoa Kỳ, thổi bùng lên làn sóng phẫn nộ dữ dội từ người hâm mộ nước nhà.[44] Họ giành chiến thắng 1–0 trước Panama trong trận tranh hạng ba – một trận đấu bị phần lớn cổ động viên Mexico tẩy chay bằng cách bỏ trống khán đài.[45] Ngay ngày hôm sau, Cocca bị sa thải chỉ sau bốn tháng cầm quyền, ông Jaime Lozano được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền để chèo lái đội bóng tại chiến dịch Cúp Vàng CONCACAF 2023 sắp khởi tranh.[46] Mexico đã lên ngôi vô địch giải đấu sau khi hạ gục Panama 1–0 trong trận chung kết.[47] Nhờ thành tích này, Lozano được ký hợp đồng chính thức để trở thành huấn luyện viên trưởng dài hạn.[48] Mặc dù vậy, sau màn trình diễn thất vọng và bị loại ngay từ vòng bảng Copa América 2024, Lozano đã mất ghế vào ngày 16 tháng 7.[49] Sáu ngày sau, Javier Aguirre được bổ nhiệm làm tân huấn luyện viên trưởng của Mexico, đánh dấu lần thứ ba ông dẫn dắt đội tuyển quốc gia.[50] Vào tháng 3 năm 2025, Mexico đã giành được chức vô địch Nations League đầu tiên trong lịch sử sau khi đánh bại Panama với tỷ số 2–1 trong trận chung kết diễn ra trên sân vận động SoFi.[51]
Hình ảnh đội tuyển
Trang phục và huy hiệu
Đội tuyển quốc gia México theo truyền thống sử dụng hệ thống ba màu, bao gồm áo đấu xanh lá cây, quần đùi trắng và tất đỏ, có nguồn gốc từ quốc kỳ México, được gọi là ba màu.[52] Cho đến giữa những năm 1950, México mặc bộ chủ yếu là màu hạt dẻ, với quần đùi màu đen hoặc xanh đậm.
Vào năm 2015, Adidas đã phát hành một phối màu toàn đen mới cho bộ đồ đá bóng sân nhà của México. Màu xanh lá cây, trắng và đỏ vẫn là màu nhấn.[53]
Vào năm 2017, áo đấu của đội tuyển quốc gia México đã được cập nhật để phản ánh tên Tây Ban Nha của họ được viết đúng chính tả, với dấu phụ.[54]
Nhà tài trợ trang phục
| Nhà tài trợ | Giai đoạn | Ghi chú |
|---|---|---|
| Levi's | 1978–1979 | [55] |
| Pony | 1980–1983 | |
| Adidas | 1984–1990 | [56] |
| Umbro | 1991–1994 | [57] |
| ABA Sport | 1995–1998 | [58] |
| Garcis | 1999–2000 | [59] |
| Atletica | 2000–2002 | [60] |
| Nike | 2003–2006 | [61] |
| Adidas | 2007–nay | [62] |
Truyền thông
Tất cả các trận đấu của México đều được chiếu trực tiếp trên các mạng truyền hình Televisa và TV Azteca ở México. Tại Hoa Kỳ, tất cả các trận giao hữu quốc tế của México và vòng loại World Cup trên sân nhà đều được chiếu trên mạng ngôn ngữ Tây Ban Nha Univision trong khi vòng loại World Cup sân khách được chiếu trên Telemundo.[63][64] Vào ngày 30 tháng 1 năm 2013, mạng tiếng Anh ESPN và Univision đã công bố thỏa thuận truyền hình các trận đấu vòng loại World Cup trên sân nhà của đội tuyển quốc gia México và các trận giao hữu quốc tế bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ.[65]
Cổ động viên
Kình địch với Hoa Kỳ
México và Hoa Kỳ được coi là hai đội tuyển mạnh nhất khu vực CONCACAF. Các trận đấu giữa hai quốc gia thường thu hút sự chú ý của giới truyền thông, sự quan tâm của dư luận và bàn tán của cả hai quốc gia. Mặc dù trận đấu đầu tiên diễn ra vào năm 1934, nhưng sự kình địch của họ không được coi là lớn cho đến cuối những năm 1990, khi Hoa Kỳ nổi lên như một bên quốc tế vững chắc. Vào ngày 15 tháng 8 năm 2012, Hoa Kỳ đã đánh bại México tại san vận động Azteca trong chiến thắng đầu tiên của Hoa Kỳ trước México trên đất México sau 75 năm.[66]
Kể từ lần gặp nhau đầu tiên vào năm 1934, hai đội đã gặp nhau 73 lần, trong đó México dẫn đầu trong loạt trận chung cuộc 36–22–15 (W – L – D), vượt qua Mỹ 144–82. México thống trị trong những năm đầu, với thành tích 22-2-2 cho đến năm 1980. Tuy nhiên, kể từ thời điểm đó, loạt trận đã trở nên cạnh tranh hơn nhiều, phần lớn là do sự phát triển nhanh chóng của bóng đá ở Hoa Kỳ. Kể từ năm 2000, loạt đấu nghiêng về Mỹ 17–9–6 (W – L – D), với México vượt lên dẫn trước 32-40. Tuy nhiên, kể từ năm 2011, sự cạnh tranh đã được đánh dấu bằng thành công của México, với việc người México đánh bại Hoa Kỳ trong trận chung kết Cúp vàng CONCACAF vào năm 2011 và 2019, Cúp Vàng CONCACAF năm 2015, chiến thắng trên đất Hoa Kỳ lần đầu tiên kể từ năm 1980. Tuy nhiên, vào năm 2021, México đã để thua Hoa Kỳ trong cả trận chung kết Nations League và trận chung kết Cúp vàng.
Danh hiệu
Thành tích quốc tế
Giải vô địch bóng đá thế giới
| Năm | Kết quả | St | T | H [67] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1930 | Vòng 1 | 3 | 0 | 0 | 3 | 4 | 13 |
| 1934 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| 1938 | Bỏ cuộc | ||||||
| 1950 | Vòng 1 | 3 | 0 | 0 | 3 | 2 | 10 |
| 1954 | 2 | 0 | 0 | 2 | 2 | 8 | |
| 1958 | 3 | 0 | 1 | 2 | 1 | 8 | |
| 1962 | 3 | 1 | 0 | 2 | 3 | 4 | |
| 1966 | 3 | 0 | 2 | 1 | 1 | 3 | |
| 1970 | Tứ kết | 4 | 2 | 1 | 1 | 6 | 4 |
| 1974 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| 1978 | Vòng 1 | 3 | 0 | 0 | 3 | 2 | 12 |
| 1982 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| 1986 | Tứ kết | 5 | 3 | 2 | 0 | 6 | 2 |
| 1990 | Bị cấm tham dự | ||||||
| 1994 | Vòng 2 | 4 | 1 | 2 | 1 | 4 | 4 |
| 1998 | 4 | 1 | 2 | 1 | 8 | 7 | |
| 2002 | 4 | 2 | 1 | 1 | 4 | 4 | |
| 2006 | 4 | 1 | 1 | 2 | 5 | 5 | |
| 2010 | 4 | 1 | 1 | 2 | 4 | 5 | |
| 2014 | 4 | 2 | 1 | 1 | 5 | 3 | |
| 2018 | 4 | 2 | 0 | 2 | 3 | 6 | |
| 2022 | Vòng 1 | 3 | 1 | 1 | 1 | 2 | 3 |
| 2026 | Vòng 3 | 5 | 4 | 1 | 1 | 10 | 3 |
| 2030 | Chưa xác định | ||||||
| 2034 | |||||||
| Tổng cộng | 18/23 2 lần tứ kết |
65 | 21 | 15 | 29 | 72 | 104 |
Cúp Liên đoàn các châu lục
| Năm | Kết quả | St | T | H [67] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1992 | Không giành quyền tham dự | ||||||
| Bản mẫu:Country data Ả Rập Saudi 1995 | Hạng ba | 3 | 1 | 2 | 0 | 4 | 2 |
| Bản mẫu:Country data Ả Rập Saudi 1997 | Vòng 1 | 3 | 1 | 0 | 2 | 8 | 6 |
| 1999 | Vô địch | 5 | 4 | 1 | 0 | 13 | 6 |
| 2001 | Vòng 1 | 3 | 0 | 0 | 3 | 1 | 8 |
| 2003 | Không giành quyền tham dự | ||||||
| 2005 | Hạng tư | 5 | 2 | 2 | 1 | 7 | 6 |
| 2009 | Không giành quyền tham dự | ||||||
| 2013 | Vòng 1 | 3 | 1 | 0 | 2 | 3 | 5 |
| 2017 | Hạng tư | 5 | 2 | 1 | 2 | 8 | 10 |
| Tổng cộng | 7/10 1 lần vô địch |
27 | 11 | 6 | 10 | 44 | 43 |
Cúp Vàng CONCACAF
| Năm | Kết quả | St | T | H [67] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1963 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| 1965 | Vô địch | 5 | 4 | 1 | 0 | 13 | 2 |
| 1967 | Á quân | 5 | 4 | 0 | 1 | 10 | 1 |
| 1969 | Hạng tư | 5 | 1 | 2 | 2 | 4 | 5 |
| 1971 | Vô địch | 5 | 4 | 1 | 0 | 6 | 1 |
| 1973 | Hạng ba | 5 | 2 | 2 | 1 | 10 | 5 |
| 1977 | Vô địch | 5 | 5 | 0 | 0 | 20 | 5 |
| 1981 | Hạng ba | 5 | 1 | 3 | 1 | 6 | 3 |
| 1985 | Không tham dự | ||||||
| 1989 | Bị cấm thi đấu | ||||||
| 1991 | Hạng ba | 5 | 3 | 1 | 1 | 10 | 5 |
| 1993 | Vô địch | 5 | 4 | 1 | 0 | 28 | 2 |
| 1996 | 4 | 4 | 0 | 0 | 9 | 0 | |
| 1998 | 4 | 4 | 0 | 0 | 8 | 2 | |
| 2000 | Tứ kết | 3 | 1 | 1 | 1 | 6 | 3 |
| 2002 | 3 | 2 | 1 | 0 | 4 | 1 | |
| 2003 | Vô địch | 5 | 4 | 1 | 0 | 9 | 0 |
| 2005 | Tứ kết | 4 | 2 | 0 | 2 | 7 | 4 |
| 2007 | Á quân | 6 | 4 | 0 | 2 | 7 | 5 |
| 2009 | Vô địch | 6 | 5 | 1 | 0 | 15 | 2 |
| 2011 | 6 | 6 | 0 | 0 | 22 | 4 | |
| 2013 | Bán kết | 5 | 3 | 0 | 2 | 8 | 5 |
| 2015 | Vô địch | 6 | 4 | 2 | 0 | 16 | 6 |
| 2017 | Bán kết | 5 | 3 | 1 | 1 | 6 | 2 |
| 2019 | Vô địch | 6 | 5 | 1 | 0 | 16 | 4 |
| 2021 | Á quân | 6 | 4 | 1 | 1 | 9 | 2 |
| 2023 | Vô địch | 6 | 5 | 0 | 1 | 13 | 2 |
| 2025 | 6 | 5 | 1 | 0 | 10 | 3 | |
| Tổng cộng | 13 lần vô địch | 129 | 90 | 22 | 17 | 281 | 76 |
Cúp bóng đá Nam Mỹ
| Năm | Kết quả | St | T | H [67] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1993 | Á quân | 6 | 2 | 2 | 2 | 9 | 7 |
| 1995 | Tứ kết | 4 | 1 | 2 | 1 | 5 | 4 |
| 1997 | Hạng ba | 6 | 2 | 2 | 2 | 8 | 9 |
| 1999 | 6 | 3 | 1 | 2 | 10 | 9 | |
| 2001 | Á quân | 6 | 3 | 1 | 2 | 5 | 3 |
| Bản mẫu:Country data Peru 2004 | Tứ kết | 4 | 2 | 1 | 1 | 5 | 7 |
| 2007 | Hạng ba | 6 | 4 | 1 | 1 | 13 | 5 |
| 2011 | Vòng 1 | 3 | 0 | 0 | 3 | 1 | 4 |
| 2015 | Vòng 1 | 3 | 0 | 2 | 1 | 4 | 5 |
| 2016 | Tứ kết | 4 | 2 | 1 | 1 | 6 | 9 |
| 2019 | Không được mời | ||||||
| 2021 | |||||||
| 2024 | Vòng 1 | 3 | 1 | 1 | 1 | 1 | 1 |
| Tổng cộng | 2 lần á quân | 51 | 20 | 14 | 17 | 67 | 63 |
Thế vận hội
- (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1988)
| Năm | Thành tích | Thứ hạng | Trận | W | D | L | GF | GA |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1928 | Vòng 1 | 14th | 2 | 0 | 0 | 2 | 2 | 10 |
| 1936 | Không tham dự | |||||||
| 1948 | 11th | 1 | 0 | 0 | 1 | 3 | 5 | |
| 1952 đến 1960 | Không vượt qua vòng loại | |||||||
| 1964 | Vòng 1 | 11th | 3 | 0 | 1 | 2 | 2 | 6 |
| 1968 | Hạng tư | 4th | 5 | 3 | 0 | 2 | 10 | 7 |
| 1972 | Vòng 2 | 7th | 6 | 2 | 1 | 3 | 4 | 14 |
| 1976 | Vòng 1 | 9th | 3 | 0 | 2 | 1 | 4 | 7 |
| 1980 đến 1984 | Không vượt qua vòng loại | |||||||
| 1988 | Bị cấm tham dự | |||||||
| Tổng cộng | 1 lần hạng tư | 6/13 | 20 | 5 | 4 | 11 | 25 | 49 |
Kết quả thi đấu
2025
| 16 tháng 1 Trận đấu không chính thức | Internacional Bản mẫu:Fbaicon | 0–2 | México | Porto Alegre, Brasil |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://int.soccerway.com/matches/2025/01/17/world/hybrid-friendlies/sport-club-internacional/mexico/4588944/ | Sân vận động: Sân vận động Beira-Rio Trọng tài: Rafael Rodrigo Klein (Brasil) |
| 21 tháng 1 Trận đấu không chính thức | River Plate Bản mẫu:Fbaicon | 2–0 | México | Buenos Aires, Argentina |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://int.soccerway.com/matches/2025/01/22/world/hybrid-friendlies/club-atletico-river-plate/mexico/4587899/ | Sân vận động: Sân vận động tượng đài Antonio Vespucio Liberti Trọng tài: Sebastián Nicolás Martínez (Argentina) |
| 20 tháng 3 Bán kết CONCACAF Nations League 2025 | Canada | 0–2 | México | Inglewood, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.concacaf.com/en/nations-league/game-details?matchid=740694 | Sân vận động: Sân vận động SoFi Lượng khán giả: 50,295 Trọng tài: Saíd Martínez (Honduras) |
| 23 tháng 3 Chung kết CONCACAF Nations League 2025 | México | 2–1 | Panamá | Inglewood, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | Jiménez 8Bản mẫu:`, 90+2Bản mẫu:` (ph.đ.) | https://www.concacaf.com/nations-league/game-details?competition=cu0rmpyff5692eo06ltddjo8a&season=7xh03f8iha4vw8k44wvwoa68k&match=7ceydrg83zl0a2i4r699b01ec | Carrasquilla 45+2Bản mẫu:` (ph.đ.) | Sân vận động: Sân vận động SoFi Lượng khán giả: 68,212 Trọng tài: Mario Escobar (Guatemala) |
| 7 tháng 6 Giao hữu | México | 2–4 | Thụy Sĩ | Thành phố Salt Lake, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://int.soccerway.com/matches/2025/06/07/world/friendlies/mexico/switzerland/4623217/ | Sân vận động: Sân vận động Rice–Eccles Lượng khán giả: 41,508 Trọng tài: Victor Rivas (Hoa Kỳ) |
| 10 tháng 6 Giao hữu | México | 1–0 | Thổ Nhĩ Kỳ | Chapel Hill, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://int.soccerway.com/matches/2025/06/11/world/friendlies/mexico/t-rkiye/4623008/ | Sân vận động: Sân vận động Kenan Trọng tài: Moeth Gaymes (Saint Vincent và Grenadines) |
| 14 tháng 6 Vòng bảng Cúp Vàng CONCACAF 2025 | México | 3–2 | Cộng hòa Dominica | Inglewood, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://int.soccerway.com/matches/2025/06/15/nc-america/concacaf-gold-cup/mexico/dominican-rep/4640553/ | Sân vận động: Sân vận động SoFi Lượng khán giả: 54,309 Trọng tài: Oshane Nation (Jamaica) |
| 18 tháng 6 Vòng bảng Cúp Vàng CONCACAF 2025 | Suriname | 0–2 | México | Arlington, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://int.soccerway.com/matches/2025/06/19/nc-america/concacaf-gold-cup/suriname/mexico/4640562/ | Sân vận động: Sân vận động AT&T Lượng khán giả: 34,015 Trọng tài: Selvin Brown (Honduras) |
| 22 tháng 6 Vòng bảng Cúp Vàng CONCACAF 2025 | México | 0–0 | Costa Rica | Paradise, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://int.soccerway.com/matches/2025/06/23/nc-america/concacaf-gold-cup/mexico/costa-rica/4640570/ | Sân vận động: Sân vận động Allegiant Lượng khán giả: 35,000 Trọng tài: Mario Escobar (Guatemala) |
| 28 tháng 6 Tứ kết Cúp Vàng CONCACAF 2025 | México | 2–0 | Ả Rập Xê Út | Glendale, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://int.soccerway.com/matches/2025/06/29/nc-america/concacaf-gold-cup/mexico/saudi-arabia/4640586/ | Sân vận động: Sân vận động State Farm Lượng khán giả: 45,255 Trọng tài: Lukasz Szpala (Hoa Kỳ) |
| 2 tháng 7 Bán kết Cúp Vàng CONCACAF 2025 | México | 1–0 | Honduras | Santa Clara, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://int.soccerway.com/matches/2025/07/03/nc-america/concacaf-gold-cup/mexico/honduras/4640590/ | Sân vận động: Sân vận động Levi's Lượng khán giả: 70,975 Trọng tài: Juan Calderón (Costa Rica) |
| 6 tháng 7 Chung kết Cúp Vàng CONCACAF 2025 | Hoa Kỳ | 1–2 | México | Houston, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | Richards 4Bản mẫu:` | https://int.soccerway.com/matches/2025/07/06/nc-america/concacaf-gold-cup/united-states/mexico/4640591/ | Sân vận động: Sân vận động NRG Lượng khán giả: 70,925 Trọng tài: Mario Escobar (Guatemala) |
Bản mẫu:Footballbox collapsible
| 9 tháng 9 Giao hữu | México | 2–2 | Hàn Quốc | Nashville, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.espn.com/soccer/match/_/gameId/735774/south-korea-mexico | Sân vận động: Geodis Park Lượng khán giả: 27,604 Trọng tài: Guido Gonzales Jr. (Hoa Kỳ) |
| 11 tháng 10 Giao hữu | México | 0–4 | Colombia | Arlington, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.espn.com/soccer/match/_/gameId/751638/colombia-mexico | Sân vận động: Sân vận động AT&T Trọng tài: Ismail Elfath (Hoa Kỳ) |
| 14 tháng 10 Giao hữu | México | 1–1 | Ecuador | Zapopan, México |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.espn.com/soccer/match/_/gameId/755899/ecuador-mexico | Sân vận động: Sân vận động Akron Trọng tài: Victor Rivas (Hoa Kỳ) |
| 15 tháng 11 Giao hữu | México | 0–0 | Uruguay | Torreón, México |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.soccerway.com/match/mexico-O6iHcNkd/uruguay-xMk44orG/?mid=65iOQJyf | Sân vận động: Sân vận động Corona Trọng tài: Fernando Morón (Panama) |
| 18 tháng 11 Giao hữu | México | 1–2 | Paraguay | San Antonio, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| https://www.soccerway.com/match/mexico-O6iHcNkd/paraguay-YaNlqp6j/?mid=nPCcuJjm | Sân vận động: Sân vận động Alamodome Trọng tài: Joseph Dickerson (Hoa Kỳ) |
2026
| 22 tháng 1 Giao hữu | Panamá | 0–1 | México | Thành phố Panamá, Panama |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.espn.com/soccer/match/_/gameId/401842387 | Peralta 90+3Bản mẫu:` (l.n.) | Sân vận động: Sân vận động Rommel Fernández Lượng khán giả: 16,447 Trọng tài: Guido Gonzales Jr. (Hoa Kỳ) |
| 25 tháng 1 Giao hữu | Bolivia | 0–1 | México | Santa Cruz de la Sierra, Bolivia |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | Matheus Bản mẫu:Sentoff | https://www.espn.com/soccer/match/_/gameId/401842388/mexico-bolivia | Berterame 68Bản mẫu:` | Sân vận động: Sân vận động Ramón Tahuichi Aguilera Lượng khán giả: 24,000 Trọng tài: Carlos Betancur (Colombia) |
| 25 tháng 2 Giao hữu | México | 4–0 | Iceland | Querétaro, México |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.espn.com/soccer/match/_/gameId/401842389/iceland-mexico | Sân vận động: Sân vận động Corregidora Lượng khán giả: 34,130 Trọng tài: Steven Madrigal (Costa Rica) |
| 28 tháng 3 Giao hữu | México | 0–0 | Bồ Đào Nha | Thành phố México, Mexico |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.uefa.com/european-qualifiers/friendlies/match/2047667--mexico-vs-portugal/ | Sân vận động: Sân vận động Azteca Lượng khán giả: 84,130 Trọng tài: Walter López (Guatemala) |
| 31 tháng 3 Giao hữu | México | 1–1 | Bỉ | Chicago, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| https://www.espn.com/soccer/matchstats/_/gameId/762264 | Sân vận động: Soldier Field |
| 22 tháng 5 Giao hữu | México | 2–0 | Ghana | Puebla, México |
|---|---|---|---|---|
| Sân vận động: Sân vận động Cuauhtémoc Lượng khán giả: 41,235 Trọng tài: Selvin Brown (Honduras) |
| 30 tháng 5 Giao hữu | México | 1–0 | Úc | Pasadena, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| Sân vận động: Rose Bowl Lượng khán giả: 78,479 Trọng tài: Rubiel Vásquez (Hoa Kỳ) |
| 4 tháng 6 Giao hữu | México | 5–1 | Serbia | Toluca, México |
|---|---|---|---|---|
|
https://www.fifa.com/en/match-centre/match/cesdwwnxbc5fmajgroc0hqzy2/dezv8l0fzgcxtejl0dwmy1gyc/2m1wojm5bt709wu4kugtytxqs/arw3gtwa77kspwxx2gz3oooic?date=2026-06-03&prev=competition | Sân vận động: Sân vận động Nemesio Díez Trọng tài: Keylor Herrera (Costa Rica) |
| 11 tháng 6 Vòng bảng FIFA World Cup 2026 | México | 2–0 | Nam Phi | Thành phố México, México |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.fifa.com/en/match-centre/match/17/285023/289273/400021443 | Sân vận động: Sân vận động Azteca Lượng khán giả: 80,824 Trọng tài: Wilton Sampaio (Brszil) |
| 18 tháng 6 Vòng bảng FIFA World Cup 2026 | México | 1–0 | Hàn Quốc | Zapopan, México |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.fifa.com/en/match-centre/match/17/285023/289273/400021442 | Sân vận động: Sân vận động Akron Lượng khán giả: 45,522 Trọng tài: Gustavo Tejera (Uruguay) |
| 24 tháng 6 Vòng bảng FIFA World Cup 2026 | Séc | 0–3 | México | Thành phố México, México |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.fifa.com/en/match-centre/match/17/285023/289273/400021444 | Sân vận động: Sân vận động Azteca Lượng khán giả: 80,824 Trọng tài: Yael Falcón (Argentina) |
| 30 tháng 6 Vòng 1/16 FIFA World Cup 2026 | México | 2–0 | Ecuador | Thành phố México, México |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.fifa.com/en/match-centre/match/17/285023/289287/400021520 | Sân vận động: Sân vận động Azteca Lượng khán giả: 80,824 Trọng tài: Slavko Vinčić (Slovenia) |
| 5 tháng 7 Vòng 1/8 FIFA World Cup 2026 | México | 2–3 | Anh | Thành phố México, México |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.fifa.com/en/match-centre/match/17/285023/289288/400021531 | Sân vận động: Sân vận động Azteca Lượng khán giả: 80,824 Trọng tài: Alireza Faghani (Úc) |
Kỷ lục
Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia
Cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu cho đội tuyển México. Tính đến ngày 5 tháng 7 năm 2026.[68]
| # | Cầu thủ | Số trận | Bàn thắng | Năm thi đấu |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Andrés Guardado | 180 | 28 | 2005–2024 |
| 2 | Claudio Suárez | 176 | 7 | 1992–2006 |
| 3 | Guillermo Ochoa | 153 | 0 | 2005–2026 |
| 4 | Rafael Márquez | 147 | 17 | 1997–2018 |
| 5 | Pável Pardo | 145 | 9 | 1996–2009 |
| 6 | Gerardo Torrado | 143 | 5 | 1999–2013 |
| 7 | Héctor Moreno | 132 | 5 | 2007–2023 |
| 8 | Jorge Campos | 129 | 0 | 1991–2003 |
| 9 | Raúl Jiménez | 128 | 48 | 2013– |
| 10 | Jesús Gallardo | 126 | 3 | 2016– |
Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất
Cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu cho đội tuyển México.
| # | Cầu thủ | Bàn thắng | Số trận | Hiệu suất | Năm thi đấu |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Javier Hernández | 52 | 109 | 0.48 | 2009–2019 |
| 2 | Raúl Jiménez | 48 | 128 | 0.38 | 2013– |
| 3 | Jared Borgetti | 46 | 89 | 0.52 | 1997–2008 |
| 4 | Cuauhtémoc Blanco | 38 | 118 | 0.32 | 1995–2014 |
| 5 | Luis Hernández | 35 | 85 | 0.41 | 1995–2002 |
| 6 | Carlos Hermosillo | 34 | 89 | 0.38 | 1984–1997 |
| 7 | Enrique Borja | 31 | 65 | 0.48 | 1966–1975 |
| 8 | Hugo Sánchez | 29 | 58 | 0.5 | 1977–1998 |
| 9 | Luis García | 28 | 77 | 0.36 | 1991–1999 |
| Andrés Guardado | 28 | 180 | 0.16 | 2005–2024 |
Cầu thủ
Đội hình hiện tại
Các cầu thủ sau đây được triệu tập cho FIFA World Cup 2026.[69]
Số liệu thống kê tính đến ngày 5 tháng 7 năm 2026, sau trận gặp Bản mẫu:Nft/code.
Trang Bản mẫu:National football squad start/styles.css không có nội dung.
Triệu tập gần đây
Bản mẫu:Nat fs r start Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs break Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs break Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs break Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs break
- INJ Rút lui vì chấn thương.
- PRE Đội hình sơ bộ.
|}
Ghi chú
- ^ Cùng với Đức, Brasil, Ý, Argentina, Pháp, Tây Ban Nha và Uruguay
Chú thích
- ^ "Mexico's World Cup Soccer History". eljalisco.com. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2017.
- ^ "Mexico 1999". SuperSport.com. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Mexico Has Its Moment in Upset Over Brazil". The New York Times. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2018.
- ^ a ă "History of the National football team". femexfut.org.mx. Liên đoàn bóng đá Mexico. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2008.
- ^ "The Start; El Comienzo". Televisa. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2008.
- ^ "The First Olympics". Televisa. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2008.
- ^ "Mexico-France Match Report". FIFA. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2008.
- ^ "Six countries entered bidding for first World Cup. Hello". The Times of India. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2007.
- ^ "Antonio Carbajal, el eterno Cinco Copas" (bằng tiếng Tây Ban Nha). FIFA. ngày 26 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Mexico Given Ban In Soccer". The New York Times. ngày 1 tháng 7 năm 1988. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
- ^ "Mexico stun Brazil in thrilling Azteca final". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2015.
- ^ Longman, Jeré (ngày 26 tháng 7 năm 2009). "Mexico Thumps U.S. to Win Gold Cup". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009.
- ^ "Five Mexico players suspended for failed drug test". The New York Times. Retrieved 9 June 2011.
- ^ "In an Early 2-0 Hole, Mexico Storms Back to Win the Gold Cup". The New York Times. ngày 26 tháng 6 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2011.
- ^ "Fox Soccer Gold Cup Schedules". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013.
- ^ Rudnansky, Ryan (ngày 25 tháng 7 năm 2013). "Gold Cup 2013 Results: Scores and Highlights from Mexico vs. Panama". Bleacher Report. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013.
- ^ a ă "Mexico beat New Zealand for 2014 World Cup place". BBC Sport. ngày 20 tháng 11 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014.
- ^ "Holland come from behind to snatch last-gasp victory against Mexico". The Guardian. ngày 30 tháng 6 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2015.
- ^ Schwartz, Nick (ngày 19 tháng 7 năm 2015). "Costa Rica loses to Mexico in heartbreaking fashion after awful penalty call in extra time". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2015.
- ^ McCarthy, Kyle (ngày 22 tháng 7 năm 2015). "Mexico advance to Gold Cup final amid controversial calls vs. Panama". FoxSports. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2015.
- ^ Longman, Jeré (ngày 23 tháng 7 năm 2015). "Messy Mexico-Panama Semifinal Leaves a Stain on Concacaf". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Mexico 3 Jamaica 1". BBC Sport. ngày 25 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015.
- ^ Hill, Tim (ngày 28 tháng 7 năm 2015). "Mexico coach Miguel Herrera fired after fight with journalist". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2015.
- ^ Arnold, Jon (ngày 3 tháng 6 năm 2016). "Both Mexico, Uruguay dismiss El Tri streak as factor". Goal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016.
- ^ "Copa América: Mexico through as group winners after draw with Venezuela". The Guardian. Associated Press. ngày 13 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016.
- ^ Tucker, Duncan (ngày 19 tháng 6 năm 2016). "Chile humiliate Mexico in 7–0 thrashing to advance to Copa América semi-final". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016.
- ^ Arnold, Jon (ngày 19 tháng 6 năm 2016). "Osorio, Mexico players apologize to Mexican fans after defeat". Goal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016.
- ^ "Juan Carlos Osorio: Germany's 4-1 victory 'unfair' scoreline to Mexico". ESPN. ngày 29 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
- ^ "Portugal earn comeback win vs. Mexico in controversy-filled third-place game". ESPN. ngày 2 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
- ^ "Lozano the hero as Mexico stun Germany". ESPN. ngày 17 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018.
- ^ AP (ngày 25 tháng 6 năm 2018). "Mexico defeats South Korea 2-1, leads Group F in World Cup". KABC-TV. ABC Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018.
- ^ Bates, Steve (ngày 23 tháng 6 năm 2018). "South Korea 1-2 Mexico REPORT: Arsenal flop Carlos Vela sets World Cup 2018 Group F leaders on their way to victory". The Daily Mirror. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Carlos Vela, Javier Hernandez score in Mexico's 2-1 win over South Korea". Business Standard. ngày 23 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018.
- ^ Keh, Andrew; Wagner, James (ngày 27 tháng 6 năm 2018). "Mexico Loses to Sweden. Mexico Advances. Celebrate?". New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018.
- ^ Lawrence, Amy (ngày 27 tháng 6 năm 2018). "Sweden cruise to victory over Mexico as both qualify for World Cup last 16". The Guardian. Guardian News and Media Limited. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018.
- ^ Macrae, Alexander (ngày 2 tháng 7 năm 2018). "Brazil defeat Mexico 2-0, advance to quarterfinals". Euronews. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018.
- ^ Gonzalez, Roger (ngày 2 tháng 7 năm 2018). "Brazil vs. Mexico final score, recap: Neymar scores, Brazil knocks El Tri out of World Cup". CBS Sports. CBS. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018.
- ^ McMahon, Bobby (ngày 2 tháng 7 năm 2018). "2018 World Cup: Mexico Fails To Crack The Round Of 16 Glass Ceiling For Seventh Time In A Row". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Juan Carlos Osorio: Mexico manager quits after three years". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Tata Martino Is Named Mexico's National Team Coach". New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019.
- ^ Straus, Brian (ngày 7 tháng 7 năm 2019). "Mexico Turns Tide, Wins Gold Cup Title Again vs. Wasteful USMNT". Sports Illustrated.
- ^ "Mexico Coach Tata Martino Out After World Cup Elimination". Sports Illustrated. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Diego Cocca confirmed as new Mexico coach". ESPN. ngày 10 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2023.
- ^ "USMNT defeats Mexico to advance to CONCACAF Nations League final, Christian Pulisic scores 2 goals". The Athletic. ngày 16 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2023.
- ^ Brennan, Joe (ngày 18 tháng 6 năm 2023). "Mexico fans boycott third-place game against Panama after USMNT defeat". Diario AS (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2023.
- ^ "Diego Cocca dismissed as Mexico manager after just four months in charge following Nations League rout by USMNT". Goal. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2023.
- ^ "Mexico beats Panama in Gold Cup final with late Gimenez goal". ESPN. ngày 16 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2023.
- ^ "Jaime Lozano named permanent men's coach for Mexico". ESPN. ngày 11 tháng 8 năm 2023.
- ^ "Mexico, Lozano part ways after early Copa América exit". ESPN. ngày 16 tháng 7 năm 2024.
- ^ "Mexico names Javier Aguirre head coach, Rafa Marquez assistant". ESPN. ngày 22 tháng 7 năm 2024.
- ^ "Mexico beat Panama with stoppage-time penalty for CONCACAF Nations League title". Reuters. ngày 24 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Adidas Releases Mexico's 2010 World Cup Kit - Mexico". ngày 21 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2010.
- ^ "Mexico unveil new kits, will not wear green shirts". SB Nation. ngày 30 tháng 1 năm 2015.
- ^ Archibold, Randal C. (ngày 23 tháng 6 năm 2018). "World Cup Soccer's Spanish Accent Mark: For Mexico and a Times Editor, It's a Win-Win". The New York Times.
- ^ 1978 World Cup.
- ^ 1985 Mexico City Cup & Azteca 2000 tournaments. 1986 World Cup.
- ^ 1991 & 1993 CONCACAF Gold Cup, 1993 Copa América, 1994 World Cup.
- ^ 1995 King Fahd Cup & Copa América. 1995, 1996 & 1997 Nike U.S. Cup tournaments. 1996 Kirin Cup challenge. 1996 & 1998 CONCACAF Gold Cups. 1997 Copa América & FIFA Confederations Cup. 1998 World Cup.
- ^ 1999 Carlsberg Cup, Nike U.S. Cup, Copa América and FIFA Confederations Cup.
- ^ 2000 & 2002 CONCACAF Gold Cup. 2000 Nike U.S. Cup, 2001 FIFA Confederations Cup & Copa América. 2002 FIFA World Cup.
- ^ 2003 & 2005 CONCACAF Gold Cup tournaments. 2004 Copa América, 2005 FIFA Confederations Cup & FIFA U-17 World Cup. 2006 FIFA World Cup.
- ^ 2007, 2009, 2011, 2013, 2015 & 2017 CONCACAF Gold Cup tournaments. 2007, 2011, 2015 & 2016 Copa América/Copa América Centenario. 2013 & 2017 FIFA Confederations Cup. 2010, 2014 & 2018 FIFA World Cups. 2009, 2011, 2013, 2015 y 2017 FIFA U17 World Cup tournaments. 2007, 2011, 2013, 2015 & 2017 FIFA U20 World Cup tournaments. 2012, 2015, 2016 & 2018 Toulon tournaments. 2016 Olympic Games.
- ^ "Univision es la nueva sede de la Selección Nacional de Fútbol de México". Univision. ngày 10 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2013.
- ^ "Telemundo Extends Exclusive Rights to Broadcast Mexican National Team World Cup Qualifying Away Matches Through 2013". TVBytheNumbers.com. ngày 21 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2013.
- ^ "Univision Deportes and ESPN Announce Agreement to Increase Reach of Mexican Soccer in the U.S." TVBytheNumbers.com. ngày 30 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2013.
- ^ "Mexico's first loss to U.S. at home, on a Mexican American's goal". Los Angeles Times. ngày 16 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014.
- ^ a ă â b Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
- ^ Appearances for Mexico National Team. RSSSF
- ^ "Convocatoria de la Selección Nacional de México". miseleccion.mx. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2016.
Liên kết ngoài
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Mexico Lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2013 tại Wayback Machine trên trang chủ của FIFA