Bước tới nội dung

Shaun Maloney

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Shaun Maloney
Tập tin:Shaun Maloney - Nov2010.jpg
Maloney with Celtic năm 2010
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Shaun Richard Maloney[1]
Ngày sinh 24 tháng 1, 1983 (43 tuổi)
Nơi sinh Miri, Malaysia
Chiều cao 5 ft 7 in (1,70 m)[2]
Vị trí Tiền vệ tấn công, tiền vệ cánh
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1996–99 Albion Boys Club
1999–2001 Celtic
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2001–2007 Celtic 104 (26)
2007–2008 Aston Villa 30 (5)
2008–2011 Celtic 54 (13)
2011–2015 Wigan Athletic 79 (14)
2015 Chicago Fire 14 (3)
2015–2017 Hull City 28 (2)
Tổng cộng 309 (63)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2002–2005 Scotland U21 20 (6)
2007 Scotland B 1 (1)
2005–2016 Scotland 47 (7)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm Đội
2021–2022 Hibernian
2023–2025 Wigan Athletic
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Shaun Richard Maloney (sinh ngày 24 tháng 1 năm 1983) là một huấn luyện viên bóng đá và cựu cầu thủ, hiện là trợ lý huấn luyện viên tạm quyền tại câu lạc bộ Celtic thuộc Scottish Premiership.[3]

Maloney từng thi đấu cho Celtic, Aston Villa, Wigan Athletic, Chicago Fire, Hull Cityđội tuyển quốc gia Scotland ở vị trí tiền vệ tấn công hoặc tiền vệ cánh.

Maloney bắt đầu sự nghiệp tại Celtic, ra sân 215 trận trên mọi đấu trường và giành nhiều danh hiệu, trong đó có năm chức vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland. Ông là cầu thủ đầu tiên giành cả hai giải SPFA Players' Player of the YearCầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của SPFA trong cùng một mùa giải, vào mùa giải 2005–06. Ông có một giai đoạn thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh cho Aston Villa, trước khi trở lại Celtic lần thứ hai. Maloney trở lại bóng đá Anh vào năm 2011 cùng Wigan Athletic, giúp đội bóng giành chiến thắng trong Chung kết Cúp FA 2013. Sau đó, Maloney có giai đoạn ngắn thi đấu tại Major League Soccer cho Chicago Fire. Ông thi đấu cuối cùng cho Hull City trong hai mùa giải, trước khi giải nghệ vì chấn thương vào năm 2017. Maloney ra mắt đội tuyển quốc gia Scotland vào năm 2005 và có tổng cộng 47 lần khoác áo đội tuyển, ghi bảy bàn thắng.

Sau khi giải nghệ cầu thủ, Maloney làm huấn luyện viên tại Celtic và đội tuyển quốc gia Bỉ. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên câu lạc bộ Scotland Hibernian vào tháng 12 năm 2021, nhưng bị sa thải sau bốn tháng. Maloney được bổ nhiệm làm huấn luyện viên Wigan Athletic vào tháng 1 năm 2023. Ông rời câu lạc bộ vào tháng 3 năm 2025.

Cuộc sống ban đầu

Maloney sinh ra trong gia đình có cha là người Anh và mẹ là người Scotland tại Miri, một thành phố ven biển ở đông bắc Sarawak, Malaysia, vào ngày 24 tháng 1 năm 1983.[4] Ông trải qua thời thơ ấu tại Malaysia trong thời gian cha ông, một phi công trực thăng và cựu quân nhân, làm huấn luyện viên bay tại đây. Gia đình trở lại Anh khi Maloney lên năm tuổi, sau khi cha ông nhận công việc tại Aberdeen, Scotland.[4] Trong một cuộc phỏng vấn năm 2014, Maloney nói: "Mặc dù tôi là người Scotland và thi đấu cho Scotland, Malaysia sẽ luôn là một phần đặc biệt trong tôi."[4]

Maloney theo học tại Trường tiểu học St JosephCults AcademyAberdeen.[5]

Năm 10 tuổi, ông gia nhập câu lạc bộ bóng đá đầu tiên của mình, Kincorth Boys' Club.[6] Năm 12 tuổi, ông chuyển đến Culter Boys' Club rồi đến Albion Boys' Club khi 14 tuổi.[7]

Năm 2013, có tiết lộ rằng khi còn nhỏ, Maloney từng thường xuyên chơi quần vợt với người sau này trở thành tay vợt số 1 thế giới, Andy Murray.[8]

Sự nghiệp thi đấu

Celtic

Sau khi gia nhập Celtic với tư cách cầu thủ tập sự vào năm 1999,[9] Maloney ra mắt đội một vào ngày 29 tháng 4 năm 2001 trước Rangers tại Sân vận động Ibrox, trong chiến thắng 3–0 của Celtic.[10] Ông dành vài năm tiếp theo để cố gắng chen chân vào đội một, phần lớn thời gian thi đấu với vai trò dự bị. Dù không ra sân thường xuyên, Maloney tạo được danh tiếng là một chuyên gia sút phạt.[11][12] Maloney có nhiều lần ra sân cho Celtic trong hành trình vào chung kết Cúp UEFA năm 2003, và ghi bàn trong chiến thắng 3–1 trước VfB Stuttgart tại Parkhead ở vòng 16 đội.[13][14]

Tháng 2 năm 2004, Maloney dính chấn thương dây chằng chéo.[15] Ông trở lại sau chấn thương vào cuối mùa giải 2004–05,[16] và chỉ đá chính một trận trong mùa giải đó.[17]

Maloney đạt phong độ cao nhất trong màu áo Celtic ở mùa giải 2005–06, sau khi được huấn luyện viên Gordon Strachan chuyển từ vị trí tiền đạo sang cánh trái hàng tiền vệ.[18][19] Những màn trình diễn của ông nhận được lời khen từ cầu thủ, cổ động viên và truyền thông trong suốt năm,[20][21][22][23] và để ghi nhận mùa giải xuất sắc đó, ông được trao cả giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của SPFA[24]Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm,[9] lần đầu tiên một cầu thủ giành cả hai danh hiệu trong cùng một mùa giải.[9] Ông cũng giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của cổ động viên Celtic và Cầu thủ xuất sắc nhất năm do cầu thủ bình chọn trong mùa giải mà ông ghi 16 bàn và đóng góp 28 pha kiến tạo từ hàng tiền vệ.

Khi hợp đồng của ông hết hạn vào cuối mùa giải 2006–07, Celtic đề nghị Maloney một thỏa thuận mới.[25] Tuy nhiên, các cuộc đàm phán hợp đồng kéo dài nhiều tháng và liên tục đổ vỡ do khác biệt giữa hai bên.[25] Giám đốc điều hành Peter Lawwell khẳng định rằng Celtic "không thể giữ cầu thủ bằng mọi giá",[26] trong khi Maloney cảnh báo rằng "trong những tình huống như thế này, cả hai bên phải hoàn toàn hài lòng với kết quả". Ông cũng hứa rằng các cuộc đàm phán hợp đồng kéo dài sẽ không ảnh hưởng đến bóng đá của mình và ông hi vọng sẽ không phải cân nhắc việc rời câu lạc bộ trong tương lai.[27]

Maloney có thể rời Celtic theo dạng tự do vào mùa hè năm 2007 bằng cách ký thỏa thuận trước hợp đồng với một câu lạc bộ khác. Không có hợp đồng mới nào được thống nhất với Celtic, và sau đó câu lạc bộ đồng ý bán ông cho Aston Villa với mức phí 1 triệu bảng Anh.[28] Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Maloney có tổng cộng 139 lần ra sân cho Hoops trên mọi đấu trường, ghi 37 bàn.[29]

Aston Villa

Ngay trước khi kỳ chuyển nhượng đóng cửa vào ngày 31 tháng 1 năm 2007, Maloney ký thỏa thuận trước hợp đồng với Aston Villa. Tuy nhiên, huấn luyện viên Villa Martin O'Neill, người từng dẫn dắt ông tại Celtic, muốn đưa Maloney đến Villa ngay trong nửa sau mùa giải, và chỉ ít phút trước hạn chót, ông ký hợp đồng với câu lạc bộ vùng Midlands với mức phí được cho là 1 triệu bảng Anh.[30] Ông ra mắt trong thất bại 0–2 trên sân Reading vào ngày 10 tháng 2 năm 2007.[31] Ngày 28 tháng 4 năm 2007, Maloney ghi bàn thắng đầu tiên cho Villa trong chiến thắng trước Man City tại Sân vận động City of Manchester, bằng một cú sút phạt uốn bóng qua hàng rào vào góc thấp bên phải khung thành.[32]

Tập tin:Shaun Maloney Aston Villa v. Chelsea 1.png
Maloney trước một trận đấu của Aston Villa năm 2007

Maloney gặp khó khăn trong việc hòa nhập với câu lạc bộ, nhưng sau khởi đầu có phần mờ nhạt tại Villa, ông bắt đầu thể hiện phong độ tốt nhất. Maloney thừa nhận rằng bóng đá của ông đã bị ảnh hưởng nhưng vẫn lạc quan về tương lai tại câu lạc bộ: "Nỗi nhớ nhà đã ảnh hưởng đến phong độ của tôi. Tôi chưa chơi đủ tốt để được ra sân trong đội hình, và tôi nghĩ điều đó đã thể hiện rõ, vì vậy hi vọng từ giờ mọi thứ có thể thay đổi."[33] Cả O'Neill và đồng đội Stiliyan Petrov, những người từng cùng Maloney ở Celtic, đều bày tỏ mong muốn Maloney ở lại câu lạc bộ, bất chấp những thông tin liên hệ ông với khả năng trở lại Scotland.[34][35]

Maloney lập cú đúp cho Aston Villa trong trận hòa 4–4 với Chelsea tại Stamford Bridge vào Boxing Day năm 2007.[36] Tuy nhiên, sau đó Maloney không thi đấu nhiều trận, khi một nửa số lần ra sân của ông trong mùa giải cuối cùng là từ ghế dự bị; ông cũng nói rằng một ngày nào đó mình muốn trở lại thi đấu tại Scotland.[37]

Trở lại Celtic

Tập tin:1-Shaun Maloney.jpg
Maloney thi đấu cho Celtic năm 2009

Ngày 22 tháng 8 năm 2008, Celtic thông báo ký hợp đồng bốn năm với Maloney[38] với mức phí 3 triệu bảng Anh.[39] Maloney đánh dấu sự trở lại bằng màn trình diễn Cầu thủ xuất sắc nhất trận và hai pha kiến tạo trong trận đầu tiên, sau khi vào sân từ ghế dự bị thay Jan Vennegoor of Hesselink trong chiến thắng 3–0 trước Falkirk tại Celtic Park.[40] Maloney ghi bàn thắng đầu tiên sau khi trở lại Celtic trong chiến thắng 4–2 trên sân Motherwell,[41] và ghi bàn thứ hai vào tuần tiếp theo trong chiến thắng 3–1 trên sân Kilmarnock.[42] Ông kết thúc mùa giải với năm bàn thắng, nâng tổng số bàn thắng của ông cho Celtic lên 42.[43]

Dưới thời huấn luyện viên mới Tony Mowbray, Maloney thi đấu 17 trong 18 trận đầu tiên của Celtic ở mùa giải 2009–10.[44][45] Tuy nhiên, ông bắt đầu gặp vấn đề ở gân Achilles sau thất bại 1–2 trước Rangers vào ngày 4 tháng 10 năm 2009.[46] Sau đó, Maloney thi đấu thêm bốn trận, nhưng bị thay ra sau hiệp một trong thất bại của Celtic trước Hearts tại League Cup. Có thông tin cho biết ông bị viêm gân Achilles,[47] và ông không thi đấu thêm trận nào trong mùa giải đó.[45]

Maloney khởi đầu mùa giải 2010–11 với phong độ tốt, ghi bàn vào lưới St Mirren,[48] Hearts[49] và lập cú đúp trước Hamilton.[50] Sau chuỗi phong độ này, Maloney được trao băng đội trưởng ngắn hạn của Celtic trong thời gian Scott Brown vắng mặt vì chấn thương.[51] Tuy nhiên, các vấn đề thể trạng của Maloney lại tái phát vào tháng 11 năm 2010, khi ông dính chấn thương mắt cá trong một trận đấu tại giải vô địch quốc gia với Inverness Caledonian Thistle.[52] Ông phải phẫu thuật mắt cá vào tháng 12,[52] và không trở lại đội một cho đến tháng 4 năm 2011.[53] Maloney góp mặt trong tám trận còn lại của Celtic; ghi bàn vào lưới Aberdeen ở bán kết Cúp Scotland và sau đó ghi bàn trước Motherwell trong trận đấu cuối cùng của mùa giải vô địch quốc gia.[54]

Wigan Athletic

Tập tin:Shaun Maloney Wigan 2013.jpg
Maloney thi đấu cho Wigan vào tháng 5 năm 2013, trong trận đấu chứng kiến đội bóng xuống hạng khỏi Premier League

Maloney gia nhập Wigan Athletic tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh vào ngày 31 tháng 8 năm 2011 với mức phí 850.000 bảng Anh, ký hợp đồng ba năm.[55] Ông ra mắt vào ngày 13 tháng 9 năm 2011 trong thất bại 1–2 trước Crystal Palace tại Cúp Liên đoàn.[56] Ông gặp khó khăn trong việc chen chân vào đội một, chỉ có ba lần vào sân thay người trong nửa đầu mùa giải 2011–12.[57] Maloney thừa nhận thể lực của ông "còn hơi thiếu một chút" khi gia nhập câu lạc bộ,[58] và huấn luyện viên Roberto Martínez cho rằng Maloney cần thêm thời gian để hòa nhập.[57] Ngày 11 tháng 3 năm 2012, ông có lần ra sân đầu tiên tại Premier League sau gần năm tháng, khi vào sân thay người trong trận gặp Norwich City.[59] Màn trình diễn của ông được mô tả là "xuất sắc",[60] và ông được trao trận đá chính đầu tiên tại giải vô địch quốc gia cho câu lạc bộ ở trận kế tiếp gặp West Bromwich Albion.[61] Ngày 24 tháng 3 năm 2012, ông ghi bàn từ chấm phạt đền vào lưới Liverpool tại Anfield trong chiến thắng 2–1 của Wigan – bàn thắng đầu tiên của ông cho câu lạc bộ.[62] Maloney tiếp nối màn trình diễn này bằng một bàn thắng uốn bóng đẹp mắt vào lưới Manchester United ngày 11 tháng 4, giúp đội bóng thoát khỏi nhóm xuống hạng lần đầu tiên kể từ tháng 10 bằng chiến thắng 1–0.[63] Sau đó, vào ngày 28 tháng 4 năm 2012, Maloney ghi bàn thắng thứ ba cho Wigan trong chiến thắng đậm 4–0 trên sân nhà trước đội xếp thứ tư Newcastle.[64]

Ngày 17 tháng 1 năm 2013, có thông báo rằng Maloney ký hợp đồng mới với Wigan Athletic, giữ ông ở lại câu lạc bộ đến năm 2015.[65]

Ngày 7 tháng 4 năm 2013, Maloney ghi bàn từ cú sút phạt ở phút 94, chỉ vài giây trước khi trận đấu với QPR tại Loftus Road kết thúc, giúp Wigan Athletic giành một điểm quý giá trong cuộc đua một lần nữa thoát khỏi việc xuống hạng khỏi Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Sáu ngày sau, ngày 13 tháng 4 năm 2013, Maloney ghi bàn đầu tiên cho Wigan Athletic trong trận bán kết Cúp FA tại Wembley trước Millwall, bằng một cú vô-lê ở phút 25, và được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận, giúp Wigan Athletic lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào chung kết Cúp FA. Ngày 11 tháng 5 năm 2013, Maloney giành Cúp FA cùng Wigan, thi đấu trọn trận và kiến tạo bàn thắng duy nhất trong chiến thắng bất ngờ 1–0 trước Manchester City.[66] Tuy nhiên, chỉ ba ngày sau, Wigan xuống hạng khỏi Premier League sau thất bại 1–4 trước Arsenal tại Sân vận động Emirates.[67]

Chicago Fire

Ngày 25 tháng 1 năm 2015, Maloney ký hợp đồng với đội bóng Major League Soccer Chicago Fire với mức phí không được tiết lộ.[68] Ông được ký hợp đồng với tư cách một trong các Cầu thủ chỉ định của đội bóng.[69] Ngày 4 tháng 4 năm 2015, Maloney ghi bàn thắng đầu tiên cho Fire trong chiến thắng 3–2 trước Toronto tại Toyota Park,[70] và sau đó giành danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất tuần của MLS.[71]

Hull City

Sau chỉ tám tháng ở Chicago, Maloney ký hợp đồng hai năm với Hull City vào ngày 27 tháng 8 năm 2015.[72] Maloney được chuyển nhượng với mức phí không được tiết lộ.[73]

Ông ra mắt vào ngày 29 tháng 8 năm 2015 trong trận sân nhà gặp Preston North End, trận đấu City thắng 2–0.[74] Maloney vào sân từ ghế dự bị và ghi bàn thắng đầu tiên vào ngày 21 tháng 11 năm 2015, trong trận hòa 1–1 trên sân Bristol City.[75]

Hợp đồng của ông với Hull hết hạn sau mùa giải 2016–17.[76] Maloney đã thảo luận các điều khoản với Aberdeen, nhưng chấn thương thoát vị khiến ông không thể ký hợp đồng.[76] Sau đó, ông cho huấn luyện viên Aberdeen Derek McInnes biết rằng ông có thể giải nghệ và trở thành huấn luyện viên.[76]

Quốc tế

Maloney có 20 lần ra sân và ghi sáu bàn cho U-21 Scotland.[9]

Maloney có trận ra mắt đội tuyển quốc gia khi vào sân thay người sau giờ nghỉ trong thất bại 0–1 của Scotland trước Belarus tại Hampden Park vào ngày 8 tháng 10 năm 2005.[9] Ông ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên, một cú sút phạt tại Sân vận động Svangaskarð, trong chiến thắng 2–0 trước Quần đảo Faroe vào tháng 6 năm 2007.[77]

Maloney ghi năm bàn tại Bảng D vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016, bao gồm bàn thắng quyết định trong trận sân nhà của Scotland trước Cộng hòa Ireland.[78]

Sự nghiệp huấn luyện

Celtic bổ nhiệm Maloney vào một vai trò huấn luyện trong đội phát triển U-20 của câu lạc bộ vào tháng 8 năm 2017.[79][80] Maloney được bổ sung vào ban huấn luyện của đội tuyển quốc gia Bỉ vào tháng 9 năm 2018.[81] Cuối tháng đó, ông rời Celtic để đảm nhận vị trí tại Bỉ theo diện toàn thời gian.[82] Maloney làm việc cho đội tuyển Bỉ trong giải đấu UEFA Euro 2020 bị hoãn,[83] nơi đội bóng thua Ý, đội sau đó vô địch, ở tứ kết.

Hibernian

Maloney được bổ nhiệm làm huấn luyện viên câu lạc bộ Scotland Hibernian vào tháng 12 năm 2021.[84] Đội bóng thắng hai trận đầu tiên của ông trên cương vị huấn luyện viên, nhưng chuỗi một chiến thắng trong 13 trận giải vô địch quốc gia khiến họ rơi xuống nửa dưới bảng xếp hạng Scottish Premiership 2021–22 khi giải chia nhóm sau 33 trận.[85] Maloney bị Hibs sa thải vào ngày 19 tháng 4 năm 2022, vài ngày sau khi đội thua 1–2 trước đối thủ derby Edinburgh Heartsbán kết Cúp Scotland.[85]

Trong tháng 5 năm 2022, Dundee bước vào đàm phán với Maloney nhằm đưa ông trở thành huấn luyện viên của đội bóng, nhưng hai bên không đạt được thỏa thuận.[86]

Wigan Athletic

Maloney trở lại Wigan Athletic vào ngày 28 tháng 1 năm 2023 trên cương vị huấn luyện viên.[87][88]

Ngày 2 tháng 3 năm 2025, sau khi giúp câu lạc bộ duy trì vị trí ở hạng ba bất chấp án trừ tám điểm, Maloney bị sa thải sau thất bại 1–2 trên sân nhà trước Reading.[89][90] Kết quả này khiến câu lạc bộ đứng ở vị trí thứ 15, chỉ hơn nhóm xuống hạng sáu điểm.

Huấn luyện viên Celtic

Maloney trở lại Celtic vào tháng 6 năm 2025 trên cương vị quản lý lộ trình cầu thủ của câu lạc bộ.[91] Sau khi huấn luyện viên đội một Brendan Rodgers rời câu lạc bộ vào tháng 10 năm 2025, Maloney được bổ nhiệm làm trợ lý huấn luyện viên tạm quyền dưới quyền O'Neill. Ông rời câu lạc bộ cùng O'Neill vào tháng 12, nhưng trở lại sau khi Wilfred Nancy bị sa thải chỉ một tháng sau đó, cũng cùng với O'Neill.[92]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu[93]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Celtic 2000–01 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 4 0 4 0
2001–02 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 16 5 2 1 1 4 1 0 20 10
2002–03 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 20 3 3 0 3 1 4 1 30 5
2003–04 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 17 5 1 0 2 0 3 1 23 6
2004–05 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 2 0 1 0 0 0 0 0 3 0
2005–06 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 36 13 1 0 4 3 2 0 43 16
2006–07 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 9 0 0 0 1 0 5 0 15 0
Tổng cộng 104 26 8 1 11 8 15 2 138 37
Aston Villa 2006–07 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 8 1 8 1
2007–08 Premier League 22 4 1 0 2 2 25 6
Tổng cộng 30 5 1 0 2 2 0 0 33 7
Celtic 2008–09 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 21 4 1 0 2 0 6 1 30 5
2009–10 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 9 4 0 0 1 0 7 0 17 4
2010–11 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 21 5 1 1 1 0 3 0 26 6
2011–12 Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland 3 0 0 0 0 0 1 0 4 0
Tổng cộng 54 13 2 1 4 0 17 1 77 15
Wigan Athletic 2011–12 Premier League 13 3 1 0 1 0 15 3
2012–13 Premier League 36 6 4 1 1 0 41 7
2013–14 Championship 10 3 0 0 0 0 3 0 13 3
2014–15 Championship 20 2 1 0 1 0 0 0 22 2
Tổng cộng 79 14 6 1 3 0 3 0 91 15
Chicago Fire 2015 Major League Soccer 14 3 3 0 17 3
Hull City 2015–16 Championship 20 1 1 0 2 0 23 1
2016–17 Premier League 10 1 1 0 4 0 15 1
Tổng cộng 30 2 2 0 6 0 0 0 38 2
Tổng cộng sự nghiệp 311 63 21 3 26 10 35 3 394 79

Quốc tế

Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Scotland 2005 2 0
2007 7 1
2008 6 0
2009 2 0
2010 2 0
2012 5 0
2013 7 1
2014 6 2
2015 8 3
2016 2 0
Tổng cộng 47 7
Tỉ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Scotland trước; cột tỉ số cho biết tỉ số sau mỗi bàn thắng của Maloney.
Danh sách bàn thắng quốc tế ghi bởi Shaun Maloney
Thứ tự Ngày Địa điểm Đối thủ Tỉ số Kết quả Giải đấu
1 6 tháng 6 năm 2007[94] Svangaskard, Toftir, Quần đảo Faroe  Quần đảo Faroe 1–0 2–0 Vòng loại UEFA Euro 2008
2 10 tháng 9 năm 2013[95] Philip II Arena, Skopje, Cộng hòa Macedonia  Bắc Macedonia 2–1 2–1 Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014
3 14 tháng 10 năm 2014[96] Stadion Narodowy, Warszawa, Ba Lan  Ba Lan 1–1 2–2 Vòng loại UEFA Euro 2016
4 14 tháng 11 năm 2014[78] Celtic Park, Glasgow, Scotland Tập tin:Flag of Ireland.svg Cộng hòa Ireland 1–0 1–0 Vòng loại UEFA Euro 2016
5 29 tháng 3 năm 2015[97] Hampden Park, Glasgow, Scotland  Gibraltar 1–0 6–1 Vòng loại UEFA Euro 2016
6 3–1
7 11 tháng 10 năm 2015[98] Estádio Algarve, Faro, Bồ Đào Nha  Gibraltar 2–0 6–0 Vòng loại UEFA Euro 2016

Thống kê huấn luyện

Tính đến 1 tháng 3 năm 2025
Thành tích huấn luyện theo đội bóng và nhiệm kỳ
Đội bóng Từ Đến Thành tích Tham khảo
St T H B % Thắng
Hibernian 20 tháng 12 năm 2021 19 tháng 4 năm 2022 &000000000000001900000019 &00000000000000060000006 &00000000000000060000006 &00000000000000070000007 0&000000000000003160000031,6 [99]
Wigan Athletic 28 tháng 1 năm 2023 2 tháng 3 năm 2025 &0000000000000115000000115 &000000000000004200000042 &000000000000003300000033 &000000000000004000000040 0&000000000000003650000036,5 [99]
Tổng cộng &0000000000000134000000134 &000000000000004800000048 &000000000000003900000039 &000000000000004700000047 0&000000000000003579999935,8

Danh hiệu

Celtic

Wigan Athletic

Hull City

Cá nhân

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ "Shaun Maloney". Barry Hugman's Footballers.
  2. ^ "Player Profile". Wigan Athletic. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2013.
  3. ^ "Celtic: Brendan Rodgers resigns as manager amid Dermot Desmond criticism; Martin O'Neill returns". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2025.
  4. ^ a b c "Maloney: I play for Scotland but Malaysia will always be a special part of me". FourFourTwo.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2015.
  5. ^ "CHICAGO FIRE KEEN ON SCOTLAND STAR SHAUN MALONEY". Evening Express. ngày 21 tháng 11 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2017.
  6. ^ "Maloney, Shaun – Aston Villa Player Database". astonvilliaplayerdatabase.com. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2017.
  7. ^ McDermott, Scott (ngày 27 tháng 12 năm 2009). "Grassroots 2010: Albion Boys Club boss Brian Winton determined to find more stars of the future". Scotland: Daily Record.
  8. ^ "Andy Murray: 'I used to play tennis against Shaun Maloney'". sportsmole.co.uk. ngày 13 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2017.
  9. ^ a b c d e Shaun Maloney tại Hiệp hội bóng đá ScotlandLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
  10. ^ "Celtic crush Rangers". BBC Sport. ngày 29 tháng 4 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2003. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  11. ^ Spiers, Graham (ngày 10 tháng 2 năm 2003). "Maloney can be silver lining as Larsson cloud falls on Celtic Stand-in shows he is ready to take over". The Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2014.
  12. ^ "Lubomir the master is key to Maloney's free-kick sorcery". Liverpool Echo. ngày 12 tháng 2 năm 2003. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2014.
  13. ^ "Petrov sinks Stuttgart". BBC Sport. ngày 21 tháng 2 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2014. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  14. ^ "Shaun Maloney – 2002/03". Fitba Stats. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2014.
  15. ^ "O'Neill promises Czechs payback". Irish Examiner. ngày 26 tháng 2 năm 2004. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  16. ^ "Celtic 1–3 Hibernian". BBC Sport. ngày 30 tháng 4 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  17. ^ "Shaun Maloney". ESPN Soccernet. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2006.
  18. ^ "Celtic 2 Falkirk 1 (AET)". Sporting Life. ngày 21 tháng 9 năm 2005.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  19. ^ "Livingston 0 Celtic 5". Sporting Life. ngày 1 tháng 10 năm 2005.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  20. ^ "Strachan hails Celtic work ethic". BBC Sport. ngày 9 tháng 11 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  21. ^ "Zurawski pounds Dunfermline with pieces of eight". The Guardian. ngày 20 tháng 2 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  22. ^ "Maloney's trickery completes fitting tribute to Johnstone". The Guardian. ngày 20 tháng 3 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  23. ^ "Strachan feels strain as he nears first league title as manager". The Guardian. ngày 27 tháng 3 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  24. ^ "Scottish football briefing – 28 April". The Scotsman. ngày 28 tháng 4 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  25. ^ a b Maloney handed contract warning Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine Football.co.uk, 26 tháng 10 năm 2006
  26. ^ "Celtic warning over Maloney deal". BBC Sport. ngày 26 tháng 10 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010.
  27. ^ "Maloney contract talks in limbo". BBC Sport. ngày 15 tháng 10 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010.
  28. ^ "Wee man Maloney has some big boots to fill". The Herald. Glasgow. ngày 8 tháng 9 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  29. ^ "Shaun Maloney profile". Aston Villa FC. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015.
  30. ^ "Villa beat clock to sign Maloney". BBC Sport. ngày 31 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010.
  31. ^ "Reading v Aston Villa – Tactical formation". Football-Lineups.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2007.
  32. ^ "Man City 0–2 Aston Villa". BBC Sport. ngày 28 tháng 4 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010.
  33. ^ "Maloney wants future sorted". Sky Sports. ngày 26 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2007.
  34. ^ "O'Neill cools Maloney Celtic link". BBC Sport. ngày 27 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010.
  35. ^ "Maloney gets Petrov backing". Sky Sports. ngày 6 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007.
  36. ^ "Chelsea 4–4 Aston Villa". BBC Sport. ngày 26 tháng 12 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  37. ^ "Maloney admits Villa frustration". BBC Sport. ngày 29 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2008.
  38. ^ Murray, Ewan (ngày 21 tháng 8 năm 2008). "Shaun Maloney makes Celtic return". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2008.
  39. ^ "Maloney Completes Return". Aston Villa FC. ngày 22 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2008.
  40. ^ Esplin, Ronnie (ngày 25 tháng 8 năm 2008). "Celtic 3 Falkirk 0: Maloney makes hero's return to Parkhead". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010.
  41. ^ McDaid, David (ngày 13 tháng 9 năm 2008). "Motherwell 2–4 Celtic". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010.
  42. ^ "Kilmarnock 1–3 Celtic". The Scotsman. ngày 21 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010.
  43. ^ "Shaun Maloney career stats". Soccerbase. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2011.
  44. ^ "Results for season 2009/10 in all competitions". FibaStats. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014.
  45. ^ a b "Maloney, Shaun – season 2009/10". Fitbastats. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014.
  46. ^ "Mowbray rues injury woes". Sky Sports. ngày 5 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014.
  47. ^ "Tony Mowbray loses Scott Brown and Shaun Maloney for another two months". The Scotsman. ngày 27 tháng 11 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014.
  48. ^ "Celtic 4 – 0 St Mirren". BBC Sport. ngày 22 tháng 8 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  49. ^ "Celtic 3 – 0 Hearts". BBC Sport. ngày 11 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010.
  50. ^ "Celtic 3 – 1 Hamilton". BBC Sport. ngày 2 tháng 10 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010.
  51. ^ Wright, Angus (ngày 20 tháng 10 năm 2010). "Shaun Maloney will stay captain, says Neil Lennon". The Scotsman. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010.
  52. ^ a b "New injury blow for Celtic as Shaun Maloney is ruled out until March". Daily Record. ngày 17 tháng 12 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014.
  53. ^ MacFarlane, Iain (ngày 9 tháng 4 năm 2011). "Shaun Maloney Celts' jokers". Scottish Express. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014.
  54. ^ "Maloney, Shaun – season 2010/11". Fitbastats. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014.
  55. ^ "Shaun Maloney completes Wigan Athletic move". STV Sport. ngày 31 tháng 8 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2011.
  56. ^ Rej, Arindam (ngày 13 tháng 9 năm 2011). "Crystal Palace 2–1 Wigan". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2012.
  57. ^ a b "Wigan-Fulham preview: Ruiz ready to justify £10m fee says Jol". Mirror Football. ngày 28 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2012.
  58. ^ "Maloney eyes regular role". Sky Sports. ngày 3 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2012.
  59. ^ "Maloney glad to be back". Sky Sports. ngày 13 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2012.
  60. ^ "Caldwell – Maloney's our secret weapon". Wigan Today. Johnston Publishing. ngày 16 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2012.
  61. ^ "Wigan Athletic 1 West Bromwich Albion 1". ngày 17 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2012.
  62. ^ Sheringham, Sam (ngày 24 tháng 3 năm 2012). "Liverpool 1–2 Wigan Athletic". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2012.
  63. ^ "Wigan Athletic vs. Manchester United – Football Match Report – April 11, 2012". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017.
  64. ^ Ornstein, David (ngày 28 tháng 4 năm 2012). "Wigan 4–0 Newcastle". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2012.
  65. ^ "Scotland international commits future to Latics". Wigan Athletic Official Website. ngày 17 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  66. ^ McNulty, Phil (ngày 11 tháng 5 năm 2013). "Man City 0 – 1 Wigan". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2013.
  67. ^ McKenna, Chris (ngày 14 tháng 5 năm 2013). "Arsenal 4 – 1 Wigan". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2013.
  68. ^ "Shaun Maloney: Wigan winger joins MLS side Chicago Fire". BBC Sport. ngày 25 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015.
  69. ^ "Chicago Fire Sign Shaun Maloney as a Designated Player". Chicago Fire Soccer Club. ngày 25 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015.
  70. ^ "Chicago Fire vs. Toronto FC". US Soccerway. ngày 4 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015.
  71. ^ "Shaun Maloney Voted MLS Player of the Week". Chicago Fire. ngày 7 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2015.
  72. ^ "Shaun Maloney: Scots midfielder joins Hull from Chicago Fire". BBC Sport. ngày 27 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  73. ^ "Chicago Fire Transfer Midfielder Shaun Maloney to Hull City A.F.C." Chicago Fire. ngày 27 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2015.
  74. ^ "Hull Preston". BBC Sport. ngày 29 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  75. ^ "Bristol City 1–1 Hull". BBC Sport. ngày 21 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  76. ^ a b c Davie, Scott (ngày 2 tháng 8 năm 2017). "Aberdeen: Derek McInnes believes signing target Shaun Maloney is set to retire". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2017. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  77. ^ "Maloney sets Scotland Euro target". BBC Sport. ngày 7 tháng 6 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010.
  78. ^ a b Lamont, Alasdair (ngày 14 tháng 11 năm 2014). "Scotland 1–0 R. of Ireland". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  79. ^ "Shaun Maloney returns to Paradise in a coaching role". Celtic FC. ngày 10 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2017.
  80. ^ "Shaun Maloney takes coaching role at Celtic after ending playing career". BBC Sport. ngày 10 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2017. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  81. ^ "Shaun Maloney: Former Celtic & Scotland player joins Belgium coaching staff". BBC Sport. ngày 31 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  82. ^ "Celtic: Shaun Maloney exits for full-time Belgium job". BBC Sport. ngày 28 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2018. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  83. ^ English, Tom (ngày 2 tháng 7 năm 2021). "Shaun Maloney: A little bit of Scotland remains at Euro 2020 to help steer Belgium". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2021.
  84. ^ "Shaun Maloney appointed Hibernian manager with Gary Caldwell assistant". BBC Sport. ngày 20 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2021. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  85. ^ a b McLauchlin, Brian (ngày 19 tháng 4 năm 2022). "Hibernian: Shaun Maloney sacked as manager after four months". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2022. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  86. ^ McLauchlin, Brian (ngày 2 tháng 6 năm 2022). "Shaun Maloney: Former Hibs boss will not be Dundee's new manager". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2022. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  87. ^ Stone, Simon (ngày 27 tháng 1 năm 2023). "Shaun Maloney: Ex-Wigan Athletic midfielder set to replace Kolo Toure as Latics boss". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2023. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  88. ^ "Shaun Maloney: Wigan Athletic appoint former winger as manager". BBC Sport. ngày 28 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2023. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  89. ^ "Club Statement | Shaun Maloney". wiganathletic.com. ngày 2 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2025.
  90. ^ "Guardian news article | Shaun Maloney". theguardian.com. ngày 2 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2025.
  91. ^ "Celtic welcomes Shaun Maloney to important role". celticfc.com. Celtic FC. ngày 25 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2025.
  92. ^ "Celtic manager job not on Maloney's mind". www.rte.ie. RTE. ngày 28 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2025.
  93. ^ "S. MALONEY". Soccerway. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2016.
  94. ^ Taylor, Julian (ngày 6 tháng 6 năm 2007). "Faroe Islands 0–2 Scotland". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  95. ^ "Macedonia 1–2 Scotland". BBC Sport. ngày 10 tháng 9 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  96. ^ Lamont, Alasdair (ngày 14 tháng 10 năm 2014). "Poland 2–2 Scotland". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  97. ^ Lamont, Alasdair (ngày 29 tháng 3 năm 2015). "Scotland 6–1 Gibraltar". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  98. ^ "Scotland ease past Gibraltar to end on a high". UEFA. ngày 11 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
  99. ^ a b "Huấn luyện viên: Shaun Maloney". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  100. ^ "Porto end Celtic's Uefa dream" (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 5 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2020.
  101. ^ McNulty, Phil (ngày 11 tháng 5 năm 2013). "Man City 0–1 Wigan". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  102. ^ Williams, Adam (ngày 28 tháng 5 năm 2016). "Hull City 1–0 Sheffield Wednesday". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)

Liên kết ngoài

  • Shaun Maloney tại Hiệp hội bóng đá ScotlandLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
  • Shaun Maloney tại SoccerbaseLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).