Kenny Sansom
|
Tập tin:Kenny Sansom April 2011 TB.jpg Sansom năm 2011 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Kenneth Graham Sansom | ||
| Ngày sinh | 26 tháng 9, 1958 | ||
| Nơi sinh | Camberwell, Luân Đôn, Anh | ||
| Chiều cao | 1,73 m[1] | ||
| Vị trí | Hậu vệ biên trái | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| Crystal Palace | |||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1975–1980 | Crystal Palace | 172 | (3) |
| 1980–1988 | Arsenal | 314 | (6) |
| 1988–1989 | Newcastle United | 20 | (0) |
| 1989–1991 | Queens Park Rangers | 64 | (0) |
| 1991–1993 | Coventry City | 51 | (0) |
| 1993 | Everton | 7 | (1) |
| 1993 | Brentford | 8 | (0) |
| 1994 | Watford | 1 | (0) |
| Tổng cộng | 637 | (10) | |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1974 | Học sinh Anh | 7 | (0) |
| 1977 | Trẻ Anh | 5 | (0) |
| 1978–1980 | Anh | 8 | (0) |
| 1978–1979 | Anh B | 2 | (0) |
| 1979–1988 | Anh | 86 | (1) |
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | |||
Kenneth Graham Sansom (sinh ngày 26 tháng 9 năm 1958) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, từng thi đấu ở vị trí hậu vệ biên trái. Là một tuyển thủ Anh, ông từng khoác áo các câu lạc bộ như Crystal Palace, Arsenal, Newcastle United, Coventry City, Queens Park Rangers, Everton và Watford.
Ông là hậu vệ biên có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia Anh nhiều thứ hai, với 86 lần ra sân cho đội tuyển từ năm 1979 đến năm 1988.[2][3]
Sự nghiệp câu lạc bộ
Kenneth Graham Sansom sinh tại Camberwell, Luân Đôn vào ngày 26 tháng 9 năm 1958; ông là con áp út trong gia đình có năm người con.[4] Cha ông, George, là một người sống lang bạt và rời khỏi gia đình không lâu sau khi người con út chào đời.[5] Mẹ ông, Rose, làm nghề dọn dẹp và đưa gia đình chuyển đến Tulse Hill vào năm 1960.[6] Những năm đầu, ông tự xem mình là một thủ môn, nhưng khi thi đấu cho một đội trẻ tên Spring Park Wolves, ông thay thế một đồng đội bị chấn thương ở vị trí hậu vệ trái và giữ vai trò hậu vệ biên trong phần còn lại của sự nghiệp.[7] Ông theo học tại Beaufoy Secondary School và từng khoác áo đội học sinh Anh.[8]
Crystal Palace
Sansom được Arsenal, Queens Park Rangers và Tottenham Hotspur theo dõi, nhưng sau đó gia nhập đội trẻ của Crystal Palace.[9][10] Ông có trận ra mắt giải vô địch trước Tranmere Rovers vào ngày 7 tháng 5 năm 1975.
Năm 1977, ông làm đội trưởng đội trẻ Palace giành FA Youth Cup, đồng thời cũng là đội trưởng đội trẻ Anh ở cùng cấp độ, và nhận giải "Cầu thủ xuất sắc nhất năm" của Palace ngay trong mùa giải đầu tiên.[11]
Nhanh nhẹn, điềm tĩnh, mạnh mẽ trong tranh chấp và tạt bóng xuất sắc, Sansom chỉ bỏ lỡ một trận tại giải vô địch trong chuỗi 156 trận liên tiếp, bắt đầu từ năm 1976, khi Palace còn thi đấu tại Third Division. Trong mùa giải 1978–79, Crystal Palace giành chức vô địch Second Division với Sansom là nhân tố quan trọng trong một đội hình trẻ. Họ nhanh chóng được gọi là "Đội bóng của thập niên 80",[10][12] và từng có thời gian ngắn dẫn đầu First Division ở đầu mùa giải 1979–80, dù cuối cùng chỉ kết thúc ở vị trí thứ 13.[10]
Arsenal
Arsenal đưa ra lời đề nghị 1 triệu bảng cho Sansom vào mùa hè năm 1980, với tiền đạo Clive Allen đi theo chiều ngược lại; đây là một thương vụ bất thường, vì Allen cũng là một cầu thủ trẻ rất được đánh giá cao và mới gia nhập Arsenal từ QPR vài tuần trước đó, thậm chí chưa thi đấu trận chính thức nào cho Gunners. Palace chấp nhận đề nghị và Sansom chuyển đến Highbury.[13]
Sansom ra mắt Arsenal trước West Bromwich Albion vào ngày 16 tháng 8 năm 1980 và thi đấu toàn bộ mùa giải đó cũng như mùa kế tiếp, đồng thời gần như luôn hiện diện ở vị trí hậu vệ trái của câu lạc bộ Bắc Luân Đôn. Ông được vinh danh là Cầu thủ Arsenal xuất sắc nhất mùa năm 1981.[14] Dù vị trí thứ ba giúp câu lạc bộ trở lại đấu trường châu Âu, một cuộc đua vô địch thực sự vẫn chưa xuất hiện. Hai mùa giải tiếp theo chứng kiến Arsenal kết thúc trong tốp năm vào năm 1982, rồi đứng thứ mười đáng thất vọng vào năm 1983, khi tình hình càng không khá hơn do thất bại ở bán kết cả hai cúp quốc nội trước Manchester United. Terry Neill bị sa thải vào tháng 12 năm 1983 và Don Howe lên thay. Arsenal kết thúc thứ sáu và thứ bảy dưới thời Howe, và dù thường được kỳ vọng cạnh tranh danh hiệu, đội bóng thường không đáp ứng được kỳ vọng. Tuy vậy, Sansom vẫn thi đấu cực kỳ ổn định và gần như luôn có mặt. Thực tế, sau sáu mùa giải, Sansom chỉ bỏ lỡ bảy trận trên mọi đấu trường. Ông là một trong số ít cầu thủ có thể ngẩng cao đầu trong giai đoạn đội bóng thi đấu dưới kỳ vọng.[15] Trong khi đó, danh hiệu vẫn lẩn tránh cả Sansom lẫn Arsenal. Tháng 5 năm 1986, huấn luyện viên Millwall George Graham, cựu thành viên đội hình Arsenal giành cú đúp, được bổ nhiệm làm người kế nhiệm dài hạn của Howe, mở ra một kỷ nguyên thành công mới tại Highbury. Phong độ của Arsenal lập tức cải thiện, đến mức câu lạc bộ dẫn đầu giải vô địch vào Giáng sinh năm 1986.[16]
Sansom cuối cùng giành danh hiệu quốc nội vào năm 1987, khi làm đội trưởng Arsenal trong chiến thắng ở chung kết Cúp Liên đoàn trước Liverpool tại Wembley; Arsenal lội ngược dòng từ thế bị dẫn để thắng 2–1, trong đó Sansom là người khởi đầu pha bóng dẫn đến bàn thắng muộn quyết định của Arsenal do Charlie Nicholas ghi.[13]
Mùa giải tiếp theo, mối quan hệ giữa Sansom và huấn luyện viên Arsenal Graham trở nên xấu đi, và ông bị hậu vệ trẻ Tony Adams, khi đó mới 21 tuổi, thay thế ở vai trò đội trưởng. Tuy vậy, Sansom vẫn giữ được vị trí trong đội hình; dù Graham vừa ký hợp đồng với người thay thế dài hạn là Nigel Winterburn. Winterburn được bố trí đá hậu vệ phải thay vì cánh trái trong mùa giải đầu tiên tại câu lạc bộ. Arsenal lại vào chung kết League Cup ở mùa giải 1987–88, nhưng thua Luton Town 3–2 trong một trận đấu kịch tính và hấp dẫn.[13] Trận gặp Everton trên sân Goodison Park ngày 7 tháng 5 năm 1988 là lần cuối Sansom khoác áo đỏ trắng.
Sansom rời Arsenal vào tháng 12 năm 1988, sau khi không thi đấu trận nào cho đội một trong bốn tháng đầu mùa giải 1988–89; Graham đã ký hợp đồng với Lee Dixon và tái cấu trúc đội hình, với Dixon đá hậu vệ phải còn Winterburn đá cánh trái, thay thế Sansom. Tổng cộng, Sansom thi đấu 394 trận cho Arsenal và ghi sáu bàn.[13]
Sự nghiệp sau này
Arsenal bán Sansom cho Newcastle United với giá 300.000 bảng vào tháng 12 năm 1988. Mùa giải 1988–89 là mùa giải có vận mệnh trái ngược giữa hai câu lạc bộ, khi Arsenal giành chức vô địch quốc gia còn câu lạc bộ mới của Sansom kết thúc cuối bảng First Division. Sansom chuyển đến QPR vào mùa hè năm 1989 với giá 300.000 bảng và ghi bàn vào lưới Arsenal trong chiến thắng 2–0 ở trận đá lại vòng Bốn Cúp FA tại Loftus Road.[17] Sau khi có 64 lần ra sân tại giải vô địch cho QPR, ông chuyển đến Coventry City với giá 100.000 bảng vào tháng 3 năm 1991 và có 51 lần ra sân tại giải cho The Sky Blues. Sansom sau đó có các giai đoạn ngắn tại Everton — bảy lần ra sân tại giải và một bàn trước Tottenham Hotspur[18] — nơi ông gia nhập theo dạng chuyển nhượng tự do vào tháng 2 năm 1993, và đội First Division Brentford — tám lần ra sân — nơi ông gia nhập theo dạng chuyển nhượng tự do một tháng sau đó, vào tháng 3 năm 1993, nhưng không thể giúp The Bees tránh xuống hạng. Sau khi thi đấu bóng đá ngoài hạng đấu cho Chertsey Town, Sansom trở lại bóng đá giải vô địch khi gia nhập Glenn Roeder tại đội First Division Watford, với vai trò cầu thủ kiêm huấn luyện viên đội một.[19][20] Sansom có một lần ra sân tại giải cho Watford trước khi giải nghệ bóng đá đỉnh cao, dù ông vẫn tiếp tục thi đấu cho các câu lạc bộ ngoài hạng đấu như Croydon F.C. và Slough Town. Kể từ khi giải nghệ, ông thường xuyên xuất hiện trên Sky Sports với vai trò chuyên gia phân tích bóng đá.[21][22]
Sự nghiệp quốc tế
Ngày 23 tháng 5 năm 1979, Sansom ra mắt đội tuyển Anh trong trận hòa không bàn thắng trước Wales. Năm sau, ông thi đấu nổi bật cho Anh tại Euro 1980 ở Ý, dù Anh không vượt qua vòng bảng. Sansom là cầu thủ thường xuyên đá chính tại World Cup 1982 ở Tây Ban Nha, nơi Anh bị loại ở vòng bảng thứ hai. Ông vẫn là hậu vệ trái lựa chọn số một tại World Cup 1986 ở México, thi đấu trong tất cả các trận cho đến thất bại ở tứ kết trước Argentina, trận đấu mà ông là một trong các cầu thủ Anh bị Diego Maradona bỏ lại phía sau khi cầu thủ Argentina bứt phá từ phần sân nhà để ghi bàn solo, bàn thắng thứ hai của ông trong trận.[23]
Sansom chỉ bỏ lỡ một số ít trận đấu của Anh trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1988; kỷ lục 37 lần ra sân liên tiếp của ông từ tháng 5 năm 1984 đến tháng 4 năm 1987 chỉ bị vượt qua bởi Billy Wright và Ron Flowers. Đôi khi ông được cho nghỉ trong các trận giao hữu để các huấn luyện viên Ron Greenwood rồi sau đó là Bobby Robson kiểm tra các phương án thay thế tiềm năng như Derek Statham, Alan Kennedy, Nick Pickering và Stuart Pearce, phòng trường hợp Sansom vắng mặt vì chấn thương nặng hoặc sa sút phong độ kéo dài. Tuy nhiên, Sansom vẫn là hậu vệ trái thường xuyên trong chiến dịch vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1988 của Anh.[23]
Mùa hè năm đó, Sansom là hậu vệ trái lựa chọn số một của Robson tại Giải vô địch châu Âu, nhưng Anh thua cả ba trận vòng bảng, bắt đầu bằng thất bại bất ngờ 1–0 trước Cộng hòa Ireland trong trận đầu tiên của họ tại một vòng chung kết, sau khi đội này vượt qua vòng loại dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên người Anh và nhà vô địch World Cup Jack Charlton.[23]
Sansom mắc lỗi dẫn đến bàn thắng duy nhất của trận đấu, khi phá bóng không tốt khiến bóng bay cao lên không trung và tạo áp lực cho các đồng đội phòng ngự; từ tình huống đó, John Aldridge thắng pha không chiến để Ray Houghton đánh đầu đưa bóng vượt qua Peter Shilton. Sansom thi đấu trong hai trận còn lại của vòng bảng, nhưng sau giải đấu, Stuart Pearce thay thế ông ở vị trí hậu vệ trái số một của Anh. Sau chín năm liên tiếp, sự nghiệp quốc tế của Sansom đang đi đến hồi kết, chỉ vài tháng trước sinh nhật thứ 30 của ông. Ông được triệu tập trở lại trong thời gian ngắn vào năm 1989 với vai trò dự phòng khi Pearce chấn thương, nhưng không thi đấu. Tổng cộng, Sansom có 86 lần khoác áo đội tuyển và ghi một bàn, bàn thắng đến trong trận vòng loại World Cup năm 1984 gặp Phần Lan.[23]
Sansom là hậu vệ biên có số lần khoác áo đội tuyển Anh nhiều thứ hai, và chỉ có mười một cầu thủ từng ra sân cho Anh nhiều hơn ông. Trong số đó có David Beckham, Bobby Moore, Steven Gerrard, Bobby Charlton, Bryan Robson, Frank Lampard, Michael Owen, Wayne Rooney và Peter Shilton. Cùng với Shilton, Sansom cũng giữ kỷ lục về số lần khoác áo đội tuyển Anh nhiều nhất trong thập niên 1980, với tổng cộng 84 lần.[23]
Đời tư
Sau khi giải nghệ cầu thủ, Sansom phải chống chọi với nghiện cờ bạc và nghiện rượu, đồng thời từng rơi vào cảnh vô gia cư.[24][25]
Sansom trở lại bóng đá với tư cách cầu thủ trong các giải cựu cầu thủ. Ông thường được mời làm chuyên gia bình luận để nhận xét về trận đấu, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến Crystal Palace hoặc Arsenal. Ông cũng thỉnh thoảng xuất hiện qua vệ tinh trên chương trình bóng đá Úc Fox Sports FC. Ngoài ra, ông từng là hướng dẫn viên trong "Legend's Tour" tại sân Emirates của Arsenal.
Ông là đồng dẫn chương trình bóng đá chiều thứ Bảy trên đài LBC. Sansom được bầu vào Đội hình thế kỷ của Palace.
Ngày 7 tháng 2 năm 2014, Sansom ra hầu tòa tại tòa sơ thẩm ở Bromley, sau khi bị cáo buộc hành hung trong một sự việc được cho là xảy ra tại nhà của bạn đời cũ. Ông được xóa mọi cáo buộc.[26]
Năm 2016, Sansom là khách mời trong chương trình "Thursday Focus" trên kênh truyền hình nội bộ của Manchester United, MUTV, nơi ông thảo luận về sự nghiệp và cuộc sống sau bóng đá.
Tháng 5 năm 2020, có thông tin ông phải nhập viện vì một bệnh lý không được tiết lộ.[27] Sáu tháng sau, ông được xác nhận chẩn đoán mắc hội chứng Wernicke–Korsakoff, một dạng sa sút trí tuệ.[28]
Cha của Sansom là George và chú của ông là Terry từng bị điều tra nhưng không bị buộc tội với tư cách nghi phạm trong Vụ cướp tàu hỏa lớn. Sansom nói rằng ông tin họ vô tội, nhưng người chú Freddie của ông, một tên cướp có vũ trang nổi tiếng, nhiều khả năng là thành viên của băng nhóm thực hiện vụ án.[29]
Thống kê sự nghiệp
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp FA | Khác | Tổng cộng | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Crystal Palace | 1974–75 | Third Division 1974–75 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 |
| 1975–76 | Third Division | 6 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 6 | 0 | |
| 1976–77 | Third Division | 46 | 0 | 6 | 0 | 3 | 0 | 55 | 0 | |
| 1977–78 | Second Division 1975–76 | 41 | 2 | 1 | 0 | 4 | 0 | 46 | 2 | |
| 1978–79 | Second Division | 42 | 0 | 4 | 1 | 4 | 0 | 50 | 1 | |
| 1979–80 | First Division 1978–79 | 36 | 1 | 0 | 0 | 3 | 0 | 39 | 1 | |
| Tổng cộng | 172 | 3 | 11 | 1 | 14 | 0 | 197 | 4 | ||
| Arsenal | 1980–81 | First Division | 42 | 3 | 1 | 0 | 4 | 0 | 47 | 3 |
| 1981–82 | First Division | 42 | 0 | 1 | 0 | 9 | 0 | 52 | 0 | |
| 1982–83 | First Division | 40 | 0 | 8 | 0 | 10 | 0 | 58 | 0 | |
| 1983–84 | First Division | 40 | 1 | 1 | 0 | 4 | 0 | 45 | 1 | |
| 1984–85 | First Division | 39 | 1 | 2 | 0 | 3 | 0 | 44 | 1 | |
| 1985–86 | First Division | 42 | 0 | 5 | 0 | 7 | 0 | 54 | 0 | |
| 1986–87 | First Division | 35 | 0 | 4 | 0 | 9 | 0 | 48 | 0 | |
| 1987–88 | First Division | 34 | 1 | 4 | 0 | 8 | 0 | 46 | 1 | |
| Tổng cộng | 314 | 6 | 26 | 0 | 54 | 0 | 394 | 6 | ||
| Newcastle United | 1988–89 | First Division | 20 | 0 | 4 | 0 | 0 | 0 | 24 | 0 |
| Queens Park Rangers | Queens Park Rangers F.C. mùa giải 1989–90 | First Division | 36 | 0 | 9 | 2 | 3 | 0 | 48 | 2 |
| 1990–91 | First Division | 28 | 0 | 1 | 0 | 5 | 0 | 34 | 0 | |
| Tổng cộng | 64 | 0 | 10 | 2 | 8 | 0 | 82 | 2 | ||
| Coventry City 1989–90 | 1990–91 | First Division | 9 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 9 | 0 |
| 1991–92 | First Division | 21 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 23 | 0 | |
| 1992–93 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 21 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 23 | 0 | |
| Tổng cộng | 51 | 0 | 2 | 0 | 2 | 0 | 55 | 0 | ||
| Everton | 1992–93 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 7 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 7 | 1 |
| Brentford | 1992–93 | First Division | 8 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 8 | 0 |
| Watford | 1994–95 | First Division | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 |
| Tổng cộng sự nghiệp | 637 | 10 | 53 | 3 | 78 | 0 | 768 | 13 | ||
Danh hiệu
Crystal Palace
Arsenal[13]
Anh
Cá nhân
- Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Crystal Palace: 1977, 1979[11]
- Cầu thủ Arsenal xuất sắc nhất mùa: 1980−81[14]
- Đội hình tiêu biểu Third Division của PFA: 1976–77[2]
- Đội hình tiêu biểu Second Division của PFA: 1977–78, 1978–79[2]
- Đội hình tiêu biểu First Division của PFA (8): 1979–80, 1980–81, 1981–82, 1982–83, 1983–84, 1984–85, 1985–86, 1986–87[2]
Tham khảo
- Chung
- Sansom, Kenny; Wright, Rita (2008), To Cap It All... My Story, John Blake, ISBN 978-1-84454-567-4
- Cụ thể
- ^ Sansom & Wright 2008, tr. 5
- ^ a b c d "Kenny Sansom". England Football Online.com.
- ^ "Sam Wallace: Ashley Cole deserves applause, not abuse – but some". The Independent. ngày 7 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016.
- ^ Sansom & Wright 2008, tr. 1
- ^ Sansom & Wright 2008, tr. 2
- ^ Sansom & Wright 2008, tr. 3
- ^ Sansom & Wright 2008, tr. 15
- ^ Sansom & Wright 2008, tr. 16
- ^ Sansom & Wright 2008, tr. 29
- ^ a b c "Kenny Sansom: Crystal Palace". Holmesdale.net.
- ^ a b "Player of the Year". CPFC.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2016.
- ^ "Venables back at the Palace once again". BBC Sport. ngày 14 tháng 2 năm 2003. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016.
- ^ a b c d e "Kenny Sansom: Profile". Arsenal F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2016.
- ^ a b Maidment, Jem (2006). The Official Arsenal Encyclopedia (bằng tiếng Anh). London: Hamlyn. tr. 148. ISBN 9780600615491.
- ^ Spurling, Jon (2001). All Guns Blazing. Aureus Publishing Ltd. tr. 108.
- ^ To Cap it All...My Story Kenny Sansom. John Blake Publishing Ltd. 2008.
- ^ "kenny-sansom-haunts-arsenal-with-fa-cup-screamer--". ngày 20 tháng 1 năm 2023.
- ^ "allen-s-hook-stuns-everton-". Independent.co.uk. ngày 18 tháng 2 năm 2023.
- ^ "oldwatford". ngày 20 tháng 1 năm 2023.
- ^ "kevin-phillips-reveals-how-kenny-sansom-stopped-him-quitting-football/". ngày 20 tháng 1 năm 2023.
- ^ To Cap it All...My Story. John Blake Publishing Ltd. 2008.
- ^ "Kenny-Sansom". ngày 6 tháng 11 năm 2022.
- ^ a b c d e "Kenny Sansom: England Profile". Sporting-Heroes.net.
- ^ "Kenny Sansom sees 'light at end of tunnel' after alcoholism". BBC Sport. ngày 23 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Kenny Sansom: PFA to help with alcoholism & gambling addictions". BBC Sport. ngày 8 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Palace legend Kenny Sansom cleared of assault". Croydon Guardian. ngày 7 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016.
- ^ "Ex-England defender Sansom in hospital". BBC Sport.
- ^ "Sansom diagnosed with form of dementia". BBC Sport.
- ^ Evans, Martin (ngày 3 tháng 8 năm 2019). "True identity of the Great Train Robber known as 'The Ulsterman' finally revealed". The Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2023.
- ^ Kenny Sansom tại Cơ quan Lưu trữ Bóng đá Quốc gia Anh (ENFA) (cần đăng ký mua)
- ^ Guy Oliver (1992). The Guinness Record of World Soccer. Guinness. ISBN 0-85112-954-4.
Liên kết ngoài
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Trang chứa liên kết với nội dung chỉ dành cho người đăng ký mua
- Trang có lỗi kịch bản
- Bài có mô tả ngắn
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Trang sử dụng infobox3cols có các tham số không có tài liệu
- Sinh năm 1958
- Nhân vật còn sống
- Cầu thủ bóng đá Khu Southwark của Luân Đôn
- Người Camberwell
- Cầu thủ bóng đá nam Anh
- Hậu vệ bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá Crystal Palace F.C.
- Cầu thủ bóng đá Arsenal F.C.
- Cầu thủ bóng đá Newcastle United F.C.
- Cầu thủ bóng đá Queens Park Rangers F.C.
- Cầu thủ bóng đá Coventry City F.C.
- Cầu thủ bóng đá Everton F.C.
- Cầu thủ bóng đá Brentford F.C.
- Cầu thủ bóng đá Watford F.C.
- Cầu thủ bóng đá English Football League
- Cầu thủ bóng đá Premier League
- Cầu thủ bóng đá England men's schools international
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-21 nam quốc gia Anh
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá nam B quốc gia Anh
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Anh
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá châu Âu 1980
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 1982
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 1986
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá châu Âu 1988
- Cầu thủ bóng đá Croydon F.C.
- Nam vận động viên Anh thế kỷ 20