Lê Đỉnh (chữ Hán: 黎挺) hay Lê Đình Đỉnh (黎廷挺; 1847 – 2 tháng 3 năm 1933) là một học giả và quan lại dưới triều Nguyễn. Ông là cha của Lê Đình Dương và bác sĩ, cư sĩ Lê Đình Thám.

Lê Đỉnh
Tập tin:Portrait of Mr. Lê Đĩnh (黎挺).jpg
Tên khácLê Đình Đỉnh
Thông tin cá nhân
Sinh
Ngày sinh
1847
Nơi sinh
Làng Thạnh Mỹ, tổng Phú Khương Thượng, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Đại Nam
Mất
Ngày mất
2 tháng 3, 1933(1933-03-02) (85–86 tuổi)
Gia quyến
Thân phụ
Lê Đình Thức
Thân mẫu
Phan Thị Nại
Phu nhân
Nguyễn Thị Gia (chánh thất)
Huỳnh Thị Bá (thứ thất)
Phan Thị Hiệu (kế thất)
Hậu duệ
xem bên dưới
Học vấn
Học vị
Cử nhân
Nghề nghiệpQuan chức
Quốc tịchnhà Nguyễn
x • t • s

Tiểu sử

Thân thế

Lê Đình Đỉnh sinh năm 1840, quê làng Thạnh Mỹ, Đông Mỹ (sau đổi là Na Kham), tổng Phú Khương Thượng (Gò Nổi – Phù Kỳ), huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).[1] Ông xuất thân trong gia đình khoa bảng, là cháu 8 đời của nhà tiền hiền Lê Đình Lang (hay Lê Lang); dòng tộc ông nhiều đời làm quan to.[1] Lê Đỉnh là con thứ sáu của quan Tam phẩm Thái hầu Tự khanh Lê Đình Thức và bà chánh thất Phan Thị Nại (còn có tên Phan Thị Đảnh), thuộc dòng dõi khoa bảng họ Phan ở Xuân Đài. Các anh ông là Lê Đình Liêm, Lê Đình Diễm, Lê Đình Diệu (mất sớm), Lê Đình Danh và Lê Đình Thụy; còn các em là Lê Đình Quang, Lê Thị Ngân, Lê Đình Trạc và Lê Đình Trân. Cháu gọi ông bằng chú là Triều Liệt Đại phu Thị giảng Học sĩ Lê Đình Hưng (con ông Lê Đình Thụy).[1]

Sự nghiệp

Ông vốn thông minh từ bé, lại ham học, siêng năng, được theo học Tú thất khoa Phan Thế Huân, sau này làm nhạc phụ của ông. Ông là khóa sinh ưu tú của trường Đốc Quảng Nam. Năm Tự Đức 23 (1870), Lê Đĩnh đỗ Cử nhân khoa thi Hương năm Canh Ngọ, xếp hạng 19/29 cử nhân trúng cách.[2]

Lê Đỉnh từng kinh qua các chức vụ quan trọng như Biện lý Bộ Công, Phó chủ khảo trường thi Hương Nghệ An khoa Nhâm Ngọ (1882), Binh Bộ Thượng thư sung Đông Các Đại Học Sĩ, Tổng đốc Hà Yên (Hà Nội - Hưng Yên), Hữu đô Ngự sử sung Cơ mật viện Đại thần.[2] Năm 1881, ông phụng mệnh vua đi sứ Hương Cảng (Hồng Kông), sau đó ông đến các nước khác như Indonesia, Malaysia, Myanmar.[3] Cùng năm đó về triều, ông dâng biểu cho rằng "Các nước Thái Tây mà phú cường là chỉ cốt ở việc binh và việc buôn bán", cho rằng nước nhà cũng nên làm theo để giữ được độc lập. Nhưng do có quan Hàn lâm viện Tu Soạn là Phan Liêm làm sớ mật tâu về việc mở sự buôn bán, sự chung vốn lập hội, và xin cho người đi học nghề khai mỏ; các quan cho rằng việc buôn bán không tiện, còn việc khác thì sau xét lại. Năm 1882, ông lại phụng chiếu đi sứ Singapore và cũng làm sớ tấu trình những phương hướng canh tân đất nước nhưng bị vua và đình thần quan lại phớt lờ.[1][2][3]

Năm 1882, quân Pháp đem quân đánh thành Hà Nội, Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội - Ninh Bình) là Hoàng Diệu tuẫn tiết. Vì triều Nguyễn muốn nghị hoà, nên lần lượt cử 2 người khác là Trần Đình Túc rồi đến Nguyễn Hữu Độ lên làm Tổng đốc nhưng vẫn không ổn định được tình hình. Dân chúng Bắc Kỳ nổi dậy chống Pháp, còn triều đình Huế đệ trình các khoản thương thuyết đạt được với đại tá Pháp Henri Rivière. Thượng thư bộ HộPhạm Phú Thứ, vốn là đồng hương với Lê Đĩnh, liền tiến cử ông ra Bắc làm Tổng đốc Hà Ninh và được triều đình ưng thuận. Đồng thời được thăng chức Binh Bộ Thượng thư, Hữu Đô ngự sử sung Cơ mật viện Đại thần hàm nhị phẩm, nên ông thường được người dân gọi là cụ Thượng Na Kham.[1]

Năm 1883, sau khi vua Tự Đức băng hà, trước áp lực của quân đội viễn chinh Pháp, hai quyền thần phụ chính là Nguyễn Văn TườngTôn Thất Thuyết ngày càng chuyên chế, hạ sát phụ chính Trần Tiễn Thành, tự ý phế lập, bức tử vua Hiệp Hoà và vua Kiến Phúc, rồi tôn lập vua Hàm Nghi, em ruột vua Kiến Phúc mới 13 tuổi lên ngôi vua. Lợi dụng tình hình này, quân Pháp nã pháo tấn công cửa biển Thuận An, buộc triều đình Huế phải ký hòa ước Giáp Thân (1884).[1] Trước tình hình đó, mùa xuân năm 1884, Lê Đỉnh xin từ quan, lấy cớ phụng dưỡng cha mẹ già, khi mới 37 tuổi. Ông về quê nhà mở trường dạy học, đào tạo được nhiều học sinh tài giỏi, trong đó có những tiến sĩ nhóm Ngũ Phụng Tề Phi.[2] Năm Thành Thái thứ 2 (1890), vua sắc chỉ triệu ông về kinh giữ chức Binh Bộ Thượng Thư trở lại, nhưng ông lấy cớ chăm sóc cha mẹ già để từ chối.[1]

Qua đời

Lê Đỉnh qua đời vào ngày 2 tháng 3 năm 1933, ở tuổi 86.[1] Nguồn khác chép rằng ông qua đời vào năm 1920.[2][4]

Gia đình

Lê Đỉnh kết duyên với bà chánh thất Nguyễn Thị Gia, bà thứ thất Huỳnh Thị Bá, bà kế thất Phan Thị Hiệu (con gái út của cụ tú Phan Thế Huân và bà kế thất Tăng Thị Hiệp). Các con của ông là Lê Đình Côn, Lê Đình Diện, Lê Đình Đính, Lê Đình Dương, Lê Đình Thám, Lê Đình Nhiếp, Lê Đình Kiền, Lê Đình Cũng, Lê Thị Nhàn, Lê Thị Kiến, Lê Đình Quỵ, Lê Thị Túy, Lê Thị Cảnh, Lê Thị Cử (vợ quan tiến sĩ Hồng Lô Tự Khanh Phạm Tuấn), Lê Thị Xử (vợ Phó bảng tri phủ Phan Trân), Lê Thị Đắc, Lê Thị Sách, Lê Thị Bích (vợ cửu phẩm Huỳnh Thản), Lê Thị Diêu (vợ Tú Quyền), Lê Thị Lam (vợ tham tá Phan Lưu), Lê Thị Toại (vợ Phán sự Nguyễn Đình Tín) và Lê Thị Hành.[1]

Trong đó nổi bật nhất là Lê Đình Thám, bác sĩ, cư sĩ. Một người con khác là Lê Đình Dương (1894–1919) tham gia cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội năm 1916 do Thái PhiênTrần Cao Vân lãnh đạo, với cương vị là Tổng trấn Nam Ngãi và Cố vấn về Ngoại giao của phong trào. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị bắt đày lên Buôn Ma Thuột. Không chịu đựng sự hà khắc của tên Công sứ Pháp, Lê Đình Dương đã uống độc dược tuẫn tiết.[5]

Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h i Phùng Tấn Đông (2000). "LÊ ĐỈNH (1840 -1933) NHÀ KHOA BẢNG THỨC THỜI". Cổng thông tin điện tử UBND thị xã Điện Bàn. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2023.
  2. ^ a b c d e CHÂU YẾN LOAN (ngày 4 tháng 7 năm 2021). "Lê Đỉnh - nhân tài sinh bất phùng thời". BÁO QUẢNG NAM ONLINE. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2023.
  3. ^ a b "Lê Đỉnh (1847 - 1920)". Cổng Thông tin Điện tử Thành phố Đà Nẵng. ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2026.
  4. ^ LÊ THÍ (ngày 2 tháng 4 năm 2017). "Một người Quảng thức thời". BÁO QUẢNG NAM ONLINE. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2023.
  5. ^ UBND Điện Bàn (ngày 18 tháng 2 năm 2013). "LÊ ĐÌNH DƯƠNG (1894-1919)". Cổng thông tin điện tử UBND thị xã Điện Bàn. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2023.