Bước tới nội dung

Lư phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thanh Văn Tông Lư phi
清文宗璷妃
Hàm Phong Đế Phi
Thông tin chung
Sinh(1841-02-12)12 tháng 2, 1841
Mất21 tháng 4, 1895(1895-04-21) (54 tuổi)
An tángPhi viên tẩm của Định lăng (景陵)
Phối ngẫuThanh Văn Tông
Hàm Phong Hoàng đế
Tước hiệuLư Quý nhân (璷贵人)
Hoàng khảo Lư tần (皇考璷嫔)
Hoàng khảo Lư phi (皇考璷妃)
Thân phụToàn Như

Lư phi Na Lạp thị (chữ Hán: 璷妃那拉氏, 12 tháng 2 năm 1841 - 21 tháng 4 năm 1895), cũng phiên thành Phu phi, là một phi tần của Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế. Bà là một trong Tứ Xuân nương nương (四春娘娘) trong hậu cung Hàm Phong với phong hiệu là Võ Lăng Xuân (武陵春).

Thân thế

Lư phi Na Lạp thị sinh vào giờ Tỵ ngày 12 tháng 2 năm Đạo Quang thứ 21 (1841), xuất thân Mãn Châu Chính Bạch kỳ, là con gái của Chủ sự Toàn Như (全如). Hiện nay vẫn chưa phát hiện được tư liệu cụ thể về gia hệ của Lư phi, cho nên đối với bối cảnh gia tộc và tình hình gia đình xuất thân của Lư phi cũng không hiểu rõ lắm[1].

Đại Thanh tần phi

Nhập cung

Căn cứ theo hồ sơ: “Ngày mồng 10 tháng 2 năm Hàm Phong thứ 5, phong Lư Quý nhân”[2]. Lại căn cứ việc năm Hàm Phong thứ 5 (1855) là năm đến kỳ tuyển tú, có thể biết Lư phi tham gia Bát kỳ tuyển tú vào tháng 2 năm Hàm Phong thứ 5, cũng chính là trúng tuyển trong đợt tuyển tú thứ hai của triều Hàm Phong, được chỉ định làm Lư Quý nhân (璷贵人) để vào cung. Phong hiệu (璷) cũng được phiên thành Phu.

Hàm Phong đã đặc biệt ban cho bà phong hiệu Võ Lăng Xuân (武陵春), Cát Quý nhân là Mẫu Đơn Xuân (牡丹春), Hi Quý nhân là Hải Đường Xuân (海棠春), và Khánh Quý nhân là Hạnh Hoa Xuân (杏花春) tạo thành một nhóm các phi tần sống ở Viên Minh Viên, đương thời gọi Tứ Xuân nương nương (四春娘娘).

Vào năm Hàm Phong thứ 5, Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị đang ở ngôi Hoàng hậu, các hậu cung chủ vị bên trong đều chưa sinh dục, chỉ có Lệ tần khi đó đang mang thai, có thể nói cục diện hậu cung vẫn chưa ổn định. Trong đợt Bát kỳ tuyển tú năm này có hai vị Tú nữ trúng tuyển, đều lấy vị phận Quý nhân để vào cung, đó chính là Lư phi và Thục tần.

Cuộc sống trong cung

Lư phi sau khi vào cung, trú tại Trữ Tú cung[3], và có khả năng vẫn luôn ở tại Trữ Tú cung cho đến khi Hàm Phong băng hà[4]. Chủ vị của Trữ Tú cung khi đó là Ý tần (chính là Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu sau này).

Căn cứ theo hồ sơ: “Ngày 24 tháng 2 năm Hàm Phong thứ 8, Tổng quản Sử Tiến Trung đẳng phụng chỉ: Lư Quý nhân cách khứ Tần hàm, Khâm thử”[5]. Có thể biết sau khi Lư phi vào cung năm Hàm Phong thứ 5, trước tháng 2 năm Hàm Phong thứ 8 (1858), đã từng nhận được Tần hàm, đây có thể là một bước tiền trạm để chuẩn bị thăng lên Tần vị. Hiện nay vẫn chưa biết Lư phi cụ thể nhận được Tần hàm vào thời gian nào.

Tham khảo các động thái đã biết trong giai đoạn này, vào ngày 25 tháng 5 năm Hàm Phong thứ 6 (1856), Hàm Phong đã tấn phong một cấp cho các chủ vị cấp thấp đang tại vị khi đó là Minh Am Đáp ứng, Y Đáp ứng, Từ Quan nữ tử[6], ngày mồng 9 tháng 6 cùng năm, một dòng đương án mà các học giả trích dẫn có ghi: “Kính Sự phòng truyền chỉ: Lư Quý nhân ở trước Hi Quý nhân”[7]. Bởi vì Hi Quý nhân trong hậu cung của Hàm Phong mãi đến ngày 11 tháng 4 năm Hàm Phong thứ 9 (1859) mới được thụ phong, cho nên dòng đương án này có thể là do sao chép bị sai, nhưng ít nhất có thể chứng minh vị thứ của Lư Quý nhân khi đó đã phát sinh biến hóa.

Tham khảo hồ sơ cung phân do Thanh cung lưu giữ, vào tháng 12 năm Hàm Phong thứ 5, Lư Quý nhân xếp sau Hi Quý nhân và Dung Quý nhân, đứng ở vị trí cuối cùng trong ba vị Quý nhân khi đó[8]. Vào tháng 12 năm Hàm Phong thứ 7 (1857), Lư Quý nhân xếp trước Dung Quý nhân, Mân Quý nhân, Thục Quý nhân, đứng đầu trong bốn vị Quý nhân khi đó[9]. Vào tháng 12 năm Hàm Phong thứ 8, Lư Quý nhân xếp trước Dung Quý nhân, Thục Quý nhân, Ngọc Quý nhân, đứng đầu trong bốn vị Quý nhân khi đó[10], tháng 2 năm Hàm Phong thứ 9 cũng giống như vậy[11]. Đặc biệt là vào tháng 12 năm Hàm Phong thứ 7.

Căn cứ theo ghi chép về cung phân, phân lệ năm đó của Lệ phi, Uyển tần“Biểu lý ngũ thập thất” (表里五十匹), phân lệ của Lư Quý nhân là “Biểu lý tam thập thất” (表里三十匹), còn Dung Quý nhân và Mân Quý nhân là “Biểu lý nhị thập thất” (表里二十匹), chiếu theo tắc lệ mà xem, vị phận Quý nhân lẽ ra là 20 xấp, mà Tần vị lẽ ra là 30 xấp, có thể biết khi đó Lư Phi đích xác hưởng thụ đãi ngộ của Tần phi[12]. Mà sau khi bị cách khứ Tần hàm vào ngày 24 tháng 2 năm Hàm Phong thứ 8, phân lệ chi cấp theo đúng 20 xấp của bản thân vị phận Quý nhân[13].

Từ đó suy đoán, Lư phi có thể đã nhận được Tần hàm vào ngày 25 tháng 5 hoặc ngày mồng 9 tháng 6 năm Hàm Phong thứ 6, từ đó đứng đầu trong các vị Quý nhân, hưởng thụ đãi ngộ của Tần vị. Sau khi bị cách khứ Tần hàm vào ngày 24 tháng 2 năm Hàm Phong thứ 8, đã quay về đãi ngộ của Quý nhân, nhưng vẫn xếp hàng đầu trong các Quý nhân.

Cuối đời

Tháng 7 năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Hàm Phong Đế băng hà, Hoàng thái tử Tải Thuần đăng cơ trở thành Hoàng đế thứ 10 của nhà Thanh, sử gọi [Đồng Trị Đế]. Ngày mồng 10 tháng 10 cùng năm, phụng ý chỉ của Lưỡng cung Hoàng thái hậu, tấn tôn Lư Quý nhân Na Lạp thị làm Hoàng khảo Lư tần (皇考璷嫔), đồng thời thăng phong cho ba vị còn lại của Tứ Xuân nương nương bậc Tần. Phong hiệu cũng được giải nghĩa, theo Hồng xương thông dụng (鸿称通用), phong hiệu “Lư” (璷) có Mãn văn là 「nilgiyangga」, ý là “Quang nhuận”.

Lư phi khi đó 21 tuổi bắt đầu cuộc sống quả cư đằng đẵng. Vào những năm đầu Đồng Trị bà từng trú tại Cảnh Nhân cung[14], khoảng tháng 8, tháng 9 năm Đồng Trị thứ 8 (1869), bởi vì Đồng Trị chuẩn bị đại hôn, hậu cung của Hàm Phong dần dần chuyển sang Thọ Khang cung, Lư phi thì chuyển sang Thọ Tam sở cư trú[15].

Căn cứ theo ghi chép của Thanh cung y án (清宫医案), Lư phi sau khi quả cư sức khỏe vẫn luôn không tốt, từng mắc chứng âm hư lao khái, về già lại mắc chứng hạng sinh, đây có thể là một loại lao hạch bạch huyết[16]. Năm Đồng Trị thứ 14 (1875), Đồng Trị Đế băng hà, Hoàng thân Tải Điềm kế vị, sử gọi [Quang Tự Đế]. Ngày 16 tháng 11, Tân đế thừa dụ Lưỡng cung Hoàng thái hậu, tôn phong Lư tần Na Lạp thị lên tước Phi, toàn gọi Hoàng khảo Lư phi (皇考璷妃), đối với ba vị còn lại của Tứ Xuân nương nương cũng đãi ngộ tương đương.

Cuối cùng hoăng thệ vào giờ Dậu ngày 21 tháng 4 năm Quang Tự thứ 21 (1895), kim quan tạm an ở Phi viên tẩm của Định lăng. Sau khi bà hoăng thệ, Đức Tông hạ chỉ: “Lư phi vu bản nguyệt nhị thập nhất nhật Dậu khắc khạp thệ (Lư phi vào giờ Dậu ngày 21 tháng này khạp thệ)... sở hữu ứng hành dự bị, nhất thiết sự nghi, trứ chiếu Quý phi lệ, kính cẩn dự bị, Khâm thử (tất cả những việc cần chuẩn bị, mọi sự nghi, trứ chiếu theo lệ Quý phi, kính cẩn chuẩn bị, Khâm thử).”[17]

Qua ghi chép về tang lễ, có thể thấy Lư phi Na Lạp thị lấy lễ theo nghi tước Quý phi mà an táng. Điều này thể hiện sự ưu ái đặc biệt của Hoàng thất dành cho Lư phi. Thần vị của bà sau đó được thờ cúng tại Định lăng.

Tham khảo

  1. ^ 王冕森.(2022).《清代后妃杂识》.上海社会科学院出版社.(第546页).
  2. ^ 《宫中杂件》,中国第一历史档案馆藏,转引自王佩环:《清宫后妃》,第37页。
  3. ^ 《呈为储秀宫交出女子因病情形事》,咸丰五年五月初七日,档案号:05-0782-083,中国第一历史档案馆藏。
  4. ^ 谨按,根据档案,至迟在咸丰七年,璷妃依然住在储秀宫。之后是否随着其获得嫔衔移动过居处尚不清楚,可参见《奏为储秀宫交出女子因病情形事》,咸丰七年正月二十二日,档案号:05-0789-013,中国第一历史档案馆藏。
  5. ^ 《为传知璷贵人革去嫔衔每日所食吃食分例煤炭蜡烛俱照贵人例得给事》,咸丰八年二月二十四日,档案号:05-13-002-000755-0114,中国第一历史档案馆藏。
  6. ^ 《为传知伊答应等著封为玶常在等其吃食分例煤炭蜡烛照常在例得给事》,咸丰六年五月二十五日,档案号:05-13-002-000203-0064,中国第一历史档案馆藏。
  7. ^ 《嬷嬷妈妈里女子口分档》,中国第一历史档案馆藏,转引自于善浦:《清代帝后的归宿》,北京:紫禁城出版社,2006年,第205页。
  8. ^ 《呈为恭进宫分清单》,咸丰五年十二月初二日,档案号:05-0785-002,中国第一历史档案馆藏。
  9. ^ 《奏为进皇后内廷主位宫分及女子等分例缎匹等项事折》,咸丰七年十二月初十日,中国第一历史档案馆、故宫博物院编:《清宫内务府奏销档》,第240册,第407—410页。
  10. ^ 《呈为宫分数目清单》,咸丰八年十二月十三日,档案号:05-0798-085,中国第一历史档案馆藏。
  11. ^ 《为请领办买承应皇后等位分例咸丰八年八月至九年三月份应交内外膳房各色菜蔬用过银两事》,咸丰九年二月二十四日,档案号:05-08-009-000384-0020,中国第一历史档案馆藏。
  12. ^ 《奏为进皇后内廷主位宫分及女子等分例缎匹等项事折》,咸丰七年十二月初十日,中国第一历史档案馆、故宫博物院编:《清宫内务府奏销档》,第240册,第408页。
  13. ^ 《呈为宫分数目清单》,咸丰八年十二月十三日,档案号:05-0798-085,中国第一历史档案馆藏。
  14. ^ 《奏为景仁宫交出女子因病情形事》,同治三年四月初七日,档案号:05-0823-055,中国第一历史档案馆藏。
  15. ^ 《奏为敬事房交出寿三所长春宫因病女子各一名分别在璷嫔慈禧皇太后位下当差素无过失令家属领去事》,同治十三年七月十六日,档案号:05-0877-060,中国第一历史档案馆藏。
  16. ^ 陈可冀主编:《清宫医案研究》,第3册,第1163—1181页。
  17. ^ 《为璷妃溘逝著派乾清宫总管禹禄等在金棺前穿孝所有应行预备一切事宜著照贵妃例预备事》,光绪二十一年四月二十一日,档案号:05-13-002-000312-0116,中国第一历史档案馆藏。