Câu lạc bộ bóng đá Oxford United (tiếng Anh: Oxford United Football Club) (/ˈɒksfərd/) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Oxford, Anh. Đội bóng hiện thi đấu tại EFL Championship, hạng đấu thứ hai của bóng đá Anh. Được thành lập với tên gọi Headington Football Club vào năm 1893, câu lạc bộ đổi sang tên hiện tại vào năm 1960. Có biệt danh là The U's, đội bóng đã chơi các trận sân nhà tại Sân vận động Kassam, thay thế sân cũ là Manor Ground từ năm 2001.
Câu lạc bộ gia nhập Football League vào năm 1962 sau khi vô địch Southern Football League, và vươn tới Second Division vào năm 1968.[3] Sau khi xuống hạng năm 1976, trong giai đoạn từ năm 1984 đến năm 1986, đội bóng giành hai lần thăng hạng liên tiếp lên First Division, đồng thời đoạt Cúp Liên đoàn bóng đá Anh năm 1986.[4] Tuy nhiên, Oxford không thể dự Cúp UEFA năm 1987 do lệnh cấm của UEFA đối với các câu lạc bộ Anh tham dự cúp châu Âu.[5] Việc rớt khỏi hạng đấu cao nhất năm 1988 mở đầu cho giai đoạn sa sút kéo dài 18 năm, kết thúc bằng việc câu lạc bộ rớt xuống Conference vào năm 2006, qua đó trở thành đội đầu tiên từng vô địch một danh hiệu lớn nhưng lại bị rớt khỏi Football League. Sau bốn mùa giải, Oxford trở lại League Two vào năm 2010 thông qua play-off, và sáu mùa sau tiếp tục thăng hạng lên League One sau khi đứng thứ hai tại League Two năm 2016. Năm 2024, đội bóng giành quyền lên EFL Championship thông qua play-off.[6]
Một số cầu thủ nổi bật của câu lạc bộ gồm Ron Atkinson, người giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất trên mọi đấu trường (560); John Shuker, người giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất tại Football League (478);[7] và người em quá cố của Ron là Graham Atkinson, người giữ kỉ lục số bàn thắng nhiều nhất (107).[8] Tính tổng cộng, đã có 19 cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia trong thời gian chơi cho câu lạc bộ.[9]
Màu trang phục truyền thống của đội là áo vàng, đi cùng quần đùi và tất màu xanh hải quân.[10] Biểu trưng của đội có hình một con bò đực, tượng trưng cho cả tên gọi lẫn bối cảnh lịch sử của thành phố, vốn ban đầu hình thành như một thị trấn chợ buôn gia súc nằm cạnh một chỗ cạn trên River Isis.[11] Oxford có mối kình địch lâu đời và rất quyết liệt với Swindon Town, hai đội gặp nhau trong trận A420 derby.[12]
Lịch sử
1893-1960: Từ Headington F.C. tới Headington United
Oxford United được thành lập vào ngày 27 tháng 10 năm 1893 với tên gọi Headington Football Club tại quán Britannia Inn, Headington, trong một cuộc họp do bác sĩ địa phương Robert Hitchings triệu tập, như một cách để các thành viên của Headington Cricket Club duy trì thể lực trong quãng nghỉ mùa đông. Người đồng sáng lập còn lại là Mục sư John Scott-Tucker, cha xứ tại Nhà thờ St. Andrew, người được bổ nhiệm làm chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ.[1] Hậu tố United được thêm vào năm 1911 sau khi sáp nhập với Headington Quarry.[13] Câu lạc bộ không có sân nhà cố định cho tới năm 1913, khi mua được Wootten's Field trên đường London Road, nhưng khu đất này được tái phát triển vào năm 1920, buộc đội bóng phải chuyển đi.[13] Một sân nhà lâu dài được tìm thấy vào năm 1925, khi đội mua địa điểm của Manor Ground trên đường London Road.[13] Cơ sở này được dùng làm sân cricket vào mùa hè và sân bóng đá vào mùa đông. Năm 1899, sáu năm sau khi thành lập, Headington United gia nhập Oxfordshire District League Second Division, nơi đội thi đấu cho tới khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ; Second Division được đổi tên thành Oxfordshire Junior League sau khi bóng đá trở lại vào năm 1919. Năm 1921, câu lạc bộ được nhận vào Oxon Senior League.[5] Mùa giải đầu tiên tại đây có một chiến thắng 9-0, trong đó P. Drewitt ghi tám bàn. Đây vẫn là kỉ lục về số bàn thắng nhiều nhất do một cầu thủ Oxford ghi trong một trận của đội một.[8] Vào thời điểm đó, một mối kình địch nhỏ đã tồn tại với Cowley F.C., đội có trụ sở cách Headington vài dặm về phía nam. Trong một trận đấu thuộc giải vào May Day, trọng tài cho Cowley hưởng hai quả phạt đền; khán giả đã tràn qua hàng rào an ninh và cầu thủ, dẫn đến việc trọng tài bị "quấy phá công khai".[6] Trận Cúp FA đầu tiên của đội diễn ra vào năm 1931, gặp Hounslow F.C. tại vòng sơ loại, và kết thúc với thất bại 2-8 của Headington.[9] United thi đấu hai mùa giải tại Spartan League vào các năm 1947 và 1948, lần lượt đứng thứ năm và thứ tư. Cũng vào khoảng thời gian này, đội cricket rời Manor và chuyển tới một địa điểm mới gần Cowley Barracks.
1948-1960: Bóng đá chuyên nghiệp
Việc chuyển sang bóng đá chuyên nghiệp lần đầu tiên được cân nhắc trong mùa giải 1948-49. Vic Couling, chủ tịch khi đó, đã nộp đơn xin cho Headington trở thành thành viên của một hạng Nhì mới trong Southern League.[14] Các đội khác nộp đơn còn có Weymouth, Kettering Town và đội sau này lên Football League là Cambridge United. Dù kế hoạch bị hoãn lại, First Division vẫn được mở rộng thêm hai câu lạc bộ; Weymouth và Headington được bầu chọn. Sau đó người ta phát hiện ra rằng Llanelli chỉ kém Headington đúng một phiếu bầu.[14] Mùa giải đầu tiên của Oxford tại Southern League diễn ra בשנת 1949, cũng là năm đội chính thức chuyển sang chuyên nghiệp.[1] Cựu tiền đạo của First Division là Harry Thompson được bổ nhiệm làm nhà quản lí. Năm 1950, Headington United trở thành câu lạc bộ chuyên nghiệp đầu tiên tại Anh lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng,[15] và sử dụng chúng vào ngày 18 tháng 12 trong trận gặp Banbury Spencer.[16] Ban đầu đội mặc áo màu cam và xanh dương, nhưng chuyển sang áo sân nhà màu vàng từ mùa giải 1957-58.[17] Lí do của sự thay đổi này hiện không rõ.
1960-1985: Oxford United và bước thăng tiến tại Football League
Năm 1960, Headington United đổi tên thành Oxford United nhằm giúp câu lạc bộ có vị thế nổi bật hơn.[1] Hai năm sau, vào năm 1962, đội vô địch Southern Football League mùa thứ hai liên tiếp và được bầu vào Football League Fourth Division,[3] tiếp quản vị trí bỏ trống do Accrington Stanley phá sản. Sau đó là hai mùa giải liên tiếp đứng thứ 18,[18][19] trước khi giành quyền thăng hạng lên Third Division vào năm 1965.[20] Một năm trước lần thăng hạng đó, Oxford trở thành câu lạc bộ đầu tiên của Fourth Division lọt vào vòng Sáu của Cúp FA,[21][22] nhưng kể từ đó chưa từng tiến xa đến vậy trong giải đấu này. Oxford vô địch Third Division ở mùa giải 1967-68,[23] tức mùa giải thứ sáu của đội trong tư cách một câu lạc bộ Football League, nhưng sau tám năm tương đối ổn định, đội đã rớt khỏi Second Division ở mùa giải 1975-76.[24]
Năm 1982, với tư cách là một đội bóng thuộc Third Division mùa 1981-82, Oxford United đứng trước nguy cơ giải thể vì không thể thanh toán các khoản nợ owed to Barclays Bank,[25] nhưng đã được cứu khi doanh nhân Robert Maxwell tiếp quản câu lạc bộ.[1] Tháng 4 năm 1983, Maxwell đề xuất sáp nhập United với đội láng giềng Reading để tạo thành một câu lạc bộ mới mang tên Thames Valley Royals,[26] đặt sân tại Didcot. Jim Smith sẽ làm nhà quản lí, với sự hỗ trợ của huấn luyện viên Reading là Maurice Evans. Thương vụ sáp nhập bị hủy bỏ do sự phản đối từ người hâm mộ của cả hai câu lạc bộ. Hơn nữa, chủ tịch của Reading từ chức và được thay bằng một người phản đối việc sáp nhập.[27] Maxwell cũng từng đe dọa sẽ giải thể câu lạc bộ nếu việc sáp nhập không được thông qua.[28] Oxford vô địch Third Division sau mùa giải 1983-84 dưới sự dẫn dắt của Jim Smith,[29] người sau đó tiếp tục giúp đội vô địch Second Division ở mùa giải kế tiếp.[30] Điều đó đồng nghĩa Oxford United sẽ thi đấu tại First Division ở mùa giải 1985-86, đúng 23 năm sau khi gia nhập Football League. Smith chuyển tới Queens Park Rangers ngay sau thành công thăng hạng,[31] nhường chỗ cho trưởng bộ phận tuyển trạch Maurice Evans, người vài mùa trước đó từng vô địch Fourth Division cùng Reading.[29]
Oxford United kết thúc mùa giải First Division 1985-86 ở vị trí thứ 18, trụ hạng thành công ở ngày cuối cùng sau khi đánh bại Arsenal 3-0.[32] Đội cũng giành được Cúp Liên đoàn bóng đá Anh, khi ấy mang tên Milk Cup theo thỏa thuận tài trợ. Với tư cách nhà vô địch, Oxford lẽ ra đã giành quyền dự Cúp UEFA mùa sau, nếu không có lệnh cấm các đội bóng Anh sau thảm họa Heysel năm trước đó.[33] Sau khi đánh bại đội cùng thuộc First Division là Aston Villa với tổng tỉ số 4-3 ở bán kết,[34] Oxford gặp Queens Park Rangers trong trận chung kết, diễn ra tại Sân vận động Wembley ngày 20 tháng 4 năm 1986. Trận đấu kết thúc với tỉ số 3-0 nhờ các bàn thắng của Trevor Hebberd, Ray Houghton và Jeremy Charles. Sau trận, nhà vật lí trị liệu gắn bó lâu năm với đội là Ken Fish, 72 tuổi, đã nhận một trong những huy chương của đội vô địch thay cho huấn luyện viên Maurice Evans. Evans cho rằng Fish xứng đáng với tấm huy chương ấy vì sự phục vụ của ông cho câu lạc bộ, nên đã trao lại huy chương của mình, trong một hành động được xem là "chưa từng có tiền lệ".[35] Đây cũng là lần cuối cùng League Cup được tổ chức dưới tên Milk Cup, khi nhà tài trợ Littlewoods tiếp quản từ mùa sau.[36]John Aldridge ghi 23 bàn trong cả mùa giải, trong khi thành công trụ hạng còn được hỗ trợ bởi sự xuất hiện của lão tướng Steve Perryman từ Tottenham.
Mùa giải 1986-87 chứng kiến Oxford United suýt nữa lại phải rớt hạng nhưng cuối cùng vẫn trụ lại First Division. Perryman rời đội để trở thành cầu thủ kiêm nhà quản lí của Brentford, còn Aldridge ghi 15 bàn trong 25 trận tại giải vô địch rồi được bán cho Liverpool giữa mùa với giá 750.000 bảng, trong khi Dean Saunders gia nhập từ Brighton với giá 60.000 bảng và Martin Foyle được mua từ Aldershot với giá 140.000 bảng. Robert Maxwell từ chức chủ tịch vào tháng 5 năm 1987 để tiếp quản Derby County, giao câu lạc bộ lại cho con trai mình là Kevin Maxwell.[37] Tuy nhiên, đội hình từng vô địch cúp tiếp tục tan rã, khi đội trưởng Malcolm Shotton bị bán cho Portsmouth, Kevin Brock gia nhập QPR của cựu huấn luyện viên Jim Smith, còn tuyển thủ xứ Wales Charles buộc phải giải nghệ vì chấn thương. Oxford khởi đầu mùa giải khá tốt và dành phần lớn giai đoạn đầu ở khu vực quanh tốp 10, dù Houghton sau đó cũng theo chân Aldridge tới Liverpool với giá 825.000 bảng. Tuy nhiên, sau tháng 11, đội không thắng thêm trận nào nữa và Maurice Evans bị sa thải vào tháng 3 năm 1988 khi Oxford đang đứng cuối bảng First Division. Cựu hậu vệ Liverpool là Mark Lawrenson được bổ nhiệm làm nhà quản lí mới của Oxford, nhưng không thể ngăn đội rớt xuống Second Division. Ông bị sa thải chỉ ba tháng sau khi chiến dịch Second Division 1988-89 bắt đầu, בעקבות tranh cãi với chủ tịch về vụ bán tiền đạo Dean Saunders cho Derby County với giá 1 triệu bảng;[38] Derby khi đó thuộc sở hữu của Robert Maxwell, cha của chủ tịch Oxford United lúc bấy giờ là Kevin Maxwell. Sau cái chết của Robert Maxwell vào năm 1991, tài sản cá nhân của ông, bao gồm cả câu lạc bộ, rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.[39] Sau một quá trình dài tìm kiếm chủ sở hữu mới, trong đó BioMass Recycling Ltd tiếp quản đội bóng, Brian Horton được bổ nhiệm làm nhà quản lí mới của Oxford. Ông tại vị đến tháng 9 năm 1993, khi chuyển sang Manchester City tại FA Premier League mới được thành lập. Horton giúp United có những mùa giải đứng giữa bảng xếp hạng trong thời gian cầm quân, ngoại trừ vị trí thứ 21 ở cuối mùa giải 1991-92. Chiến thắng 2-1 trước Tranmere Rovers, cộng với việc Blackburn Rovers thắng Plymouth Argyle, giúp United trụ hạng với khoảng cách hai điểm. Oxford, lúc này đang chơi ở giải đã được đổi tên thành Football League Division One, trong thời gian ngắn đã đưa Maurice Evans trở lại ghế huấn luyện trước khi chuyển sang lựa chọn huấn luyện viên Bristol City là Denis Smith. Bất chấp nỗ lực của Smith, Oxford vẫn rớt xuống Division Two vào cuối mùa giải 1993-94, sau khi chỉ thắng bốn trong mười một trận cuối cùng.[40]
Oxford United không có sân nhà cố định cho tới năm 1913, liên tục chuyển đổi giữa Quarry Recreation Ground, Wootten's Field (nay là Stephen Road), Sandy Lane (nay là Osler Road) và Britannia Field (nay là đầu trên của Lime Walk), tất cả đều nằm ở Headington.[41] Năm 1913, họ có thể mua Wootten's Field trên đường London Road, tuy nhiên khu đất này lại được tái phát triển vào năm 1920 trước khi một sân vận động có thể được xây dựng. Sau khi mua được địa điểm Sandy Lane, câu lạc bộ đã phát triển và thi đấu tại Manor Ground trong giai đoạn từ năm 1925 đến năm 2001. Ban đầu sân được dùng chung với Headington Cricket Club cho tới năm 1949, khi đội cricket chuyển tới Cowley Barracks.[42] Sức chứa của sân khi đóng cửa là 9.500, nhưng từng đón lượng khán giả kỉ lục của United là 22.750 người trong trận vòng Sáu Cúp FA gặp Preston North End ngày 29 tháng 2 năm 1964.[1] Bốn khán đài của sân được đặt tên theo những con đường nơi chúng tọa lạc: các khán đài Bắc, Đông, Nam và Tây lần lượt được gọi là Cuckoo Lane, Osler Road, London Road và Beech Road.
Trong thập niên 1990, Taylor Report được công bố, kêu gọi cải thiện các sân vận động bóng đá. Các khu khán đài đứng của Manor Ground dần trở nên lỗi thời và chi phí tái phát triển sân quá đắt đỏ, vì thế câu lạc bộ quyết định chuyển tới một sân vận động mới được xây dựng chuyên biệt, toàn bộ ghế ngồi, ở vùng ven thành phố, với chi phí vào khoảng 15 triệu bảng.[43] Việc xây dựng bắt đầu vào đầu năm 1997, nhưng bị đình lại ngay trong năm đó do những khó khăn tài chính của câu lạc bộ.[44] Công việc xây dựng sân mới được tiếp tục vào năm 1999 sau một thương vụ tiếp quản, và trận đấu cuối cùng tại Manor ở giải vô địch ngày 1 tháng 5 năm 2001 khép lại với tỉ số hòa 1-1 trước Port Vale. Khu đất được bán với giá 12 triệu bảng và sân sau đó bị phá dỡ. Hiện nay khu vực đó là nơi đặt một bệnh viện tư nhân.[45]
Kể từ năm 2001, Oxford United chơi tại Sân vận động Kassam.[46] Sân vận động toàn bộ ghế ngồi này có sức chứa 12.500 chỗ và chỉ có ba khán đài thay vì bốn như thông thường; khi mới được lên kế hoạch vào năm 1995, sân vốn dự kiến có 16.000 chỗ ngồi, nhưng tới lúc khánh thành thì Oxford đang thi đấu ở một hạng thấp hơn, nên mức sức chứa nhỏ hơn được cho là phù hợp. Khả năng xây dựng khán đài thứ tư hiện không được dự đoán sẽ xảy ra, khi câu lạc bộ tập trung vào kế hoạch xây một sân vận động mới thay vào đó, dù từng có lúc điều này dường như khả thi, bởi phần móng đã được đặt sẵn.[47] Kỉ lục khán giả là 12.243 người, được thiết lập trong trận cuối cùng của mùa giải 2005-06, khi thất bại trước Leyton Orient khiến đội bị rớt khỏi Football League. Lượng khán giả trung bình ở mùa giải trước đó là 7.415 người, cao thứ hai tại League Two và cao thứ 34 trong toàn bộ Football League.[48] Oxford có lượng khán giả trung bình cao nhất tại Conference trong hai trong bốn năm đội bóng chơi ở hạng này, còn ở hai năm còn lại thì đứng thứ hai, sau Exeter City và Cambridge United tương ứng.[49] Sân vận động này cũng từng tổ chức các trận rugby union, một trận đấu bóng đá quốc tế nữ (Anh gặp Thụy Điển), một giải bóng đá quốc tế cấp U-17 và các buổi hòa nhạc.[50]
Năm 2021,[51] câu lạc bộ đã tiếp cận Oxfordshire County Council (OCC) và đề nghị cơ quan này chuyển giao khoảng 18 hecta (44,48 mẫu Anh) đất để phát triển một sân vận động bóng đá mới có sức chứa 18.000 chỗ, kèm theo các cơ sở giải trí và thương mại phụ trợ, bao gồm khách sạn, bán lẻ, hội nghị, cùng sân tập/cơ sở cộng đồng trên khu đất Oxford Green Belt tại Stratfield Brake gần Kidlington.[52] Ngày 18 tháng 1 năm 2022, OCC khuyến nghị nên tiến hành trước một đợt tham vấn để thu thập ý kiến phản hồi từ cộng đồng địa phương.[53] Cuộc khảo sát được Oxvox quảng bá mạnh mẽ, với những người trả lời tham gia từ cả những nơi như quần đảo Orkney.[54] Trong số cư dân địa phương, 38 phần trăm ủng hộ, trong khi 58 phần trăm phản đối.[55]
Tháng 1 năm 2023, nội các của hội đồng hạt đồng ý bước vào đàm phán về kế hoạch xây sân vận động tại một địa điểm khác ở Kidlington, gọi là Triangle, nằm giữa Frieze Way và Oxford Road, ở phía nam vòng xuyến Kidlington và phía đông khu Stratfield Brake ban đầu. Nội các OCC đồng ý cho câu lạc bộ thuê khu đất được đề xuất, và vào tháng 2 năm 2024, Oxford United công bố các kế hoạch xây một sân vận động mới hoàn toàn chạy điện, có sức chứa 16.000 chỗ, tại địa điểm này, với lối đi bộ dự kiến từ Oxford Parkway railway station,[56] và dự kiến mở cửa vào năm 2026.[57] Đơn vị kiến trúc của câu lạc bộ là AFL đã nộp hồ sơ xin phép quy hoạch đầy đủ cho dự án này vào ngày 1 tháng 3 năm 2024,[58] với chi phí xây dựng sân mới có thể lên tới 150 triệu bảng.[59] Vào tháng 6 năm 2024, quyết định بشأن hồ sơ xin phép bị lùi sang đầu năm 2025 כדי cho phép hoàn thiện thêm các đề xuất nhằm "làm rõ hơn" cho ủy ban quy hoạch. Vì vậy, câu lạc bộ có thể phải tìm một sân nhà tạm thời sau khi hợp đồng thuê tại Kassam hết hạn.[60] Vào tháng 5 năm 2025, một thỏa thuận gia hạn ngắn hạn đã được ký giữa câu lạc bộ và Firoka Group để cho phép đội tiếp tục thi đấu tại sân này đến năm 2028, với điều kiện giấy phép quy hoạch cho sân vận động mới được đề xuất phải được cấp (Cherwell District Council sẽ chưa đưa ra quyết định về kế hoạch này sớm hơn tháng 6 năm 2025).[61][62] Vào tháng 7 năm 2025, những nghi vấn được đặt ra לגבי địa điểm Triangle sau khi một khu vực lân cận ban đầu được xác định là rừng cổ.[63] Ngày 6 tháng 8 năm 2025, sau một đơn kháng nghị gửi tới Natural England cho rằng khu rừng được nhắc tới không thể được xem là "rừng cổ" một cách chính xác vì không xuất hiện trên các bản đồ đương thời, Cherwell District Council khuyến nghị nên phê duyệt địa điểm này,[64] và giấy phép quy hoạch đã được cấp vào ngày 14 tháng 8 năm 2025.[65] Sự phê duyệt cuối cùng đối với các kế hoạch của câu lạc bộ được hoàn tất vào tháng 2 năm 2026.[66]
Oxford có một số hội cổ động viên và nhóm độc lập như OxVox (Quỹ người hâm mộ Oxford United), hiện có hơn 400 thành viên, và Oxford United Exiles.[67][68] OxVox được thành lập vào năm 2002 để thay thế nhóm FOUL đã giải thể, sau khi tương lai trước mắt của câu lạc bộ được bảo đảm.[69] Đây là quỹ người hâm mộ thứ 50 được lập ra dưới mô hình Supporters' trust. Bản thân câu lạc bộ cũng điều hành một hội dành cho thiếu niên, hướng tới người hâm mộ trẻ tuổi và mang lại nhiều quyền lợi cho thành viên như thiệp sinh nhật và áo thun miễn phí.[70] Chương trình ngày thi đấu chính thức cho các trận sân nhà có giá 4 bảng và đã được bình chọn là chương trình hay nhất của Conference Premier ở mùa giải 2007-08.[71] Một số bài hát được hát trong các trận sân nhà, chẳng hạn như "Yellow Submarine" (với lời được sửa lại) và những bài hát liên quan đến sân Manor Ground cũ.
Câu lạc bộ có nhiều người hâm mộ nổi tiếng, bao gồm Timmy Mallett,[72]Tim Henman[73] và Jim Rosenthal.[74] Linh vật của câu lạc bộ là Ollie the Ox.[75] United là câu lạc bộ có lượng người hâm mộ đông nhất tại Conference National trước khi Luton Town gia nhập giải đấu,[76][77] và trận sân nhà giữa Oxford và Luton, thu hút 10.600 khán giả, đã được dùng để làm nổi bật niềm đam mê với bóng đá Anh trong hồ sơ đăng cai World Cup 2018.[78] Năm 2009, một "quỹ cầu thủ thứ 12" được một nhóm cổ động viên lập ra nhằm cung cấp thêm nguồn tiền chuyển nhượng cho câu lạc bộ. Kết quả là chiếc áo số 12 đã được treo lại vào đầu mùa giải 2009-10 (dù được đưa vào sử dụng trở lại ở mùa giải 2018-19). Quỹ này đã huy động được hơn 40.000 bảng và góp phần giúp đội kí hợp đồng với Mehdi Kerrouche (theo dạng cho mượn) và Jamie Cook, cùng một số cầu thủ khác.[79][80]
Mối kình địch dữ dội nhất của Oxford United là với Swindon Town; các trận đấu giữa hai đội được gọi là A420 derby, theo tên tuyến đường chính nối hai thành phố, vốn chỉ cách nhau 30 dặm (48 km).[81][82] Ngoài ra còn tồn tại một mối kình địch giữa Oxford và Reading.[83][84] Bên cạnh đó, Wycombe Wanderers, Luton Town và Northampton Town cũng được xem là những đối thủ của Oxford. Mối kình địch với Swindon bắt nguồn từ khoảng cách địa lí gần nhau giữa hai đội, cũng như thực tế rằng họ đã gặp nhau 55 lần kể từ năm 1962. Oxford và Swindon từng gặp nhau vài lần trong các trận không chính thức trước năm 1962. Trận sớm nhất được ghi nhận là một trận giao hữu ở mùa giải 1950-51 tại Headington. Hai đội cũng gặp nhau cả sân nhà lẫn sân khách ở mùa giải 1954-55, và tại Headington trong mùa giải 1958-59. Tất cả các chương trình ngày thi đấu của những trận đó đều khá hiếm, trong đó tờ một mặt phát hành tại Swindon là cực kì hiếm. Trận năm 1962-63 là một trận tri ân, còn những lần gặp nhau đầu tiên tại giải vô địch diễn ra vào mùa giải 1965-66.[85][86][87]
Trong thời kì đỉnh cao của nạn hooligan bóng đá, tình trạng hỗn loạn giữa hai nhóm cổ động viên nhiều lần bùng phát. Năm 1998, trong một trận đấu tại County Ground, có 19 cổ động viên Swindon bị bắt giữ,[88] trong khi năm 2002 đã xảy ra một vụ việc giữa các cổ động viên sau khi người hâm mộ Oxford trở về từ một trận sân khách.[89] Năm 2011, những kẻ phá hoại đã đốt chữ viết tắt STFC lên mặt cỏ tại Kassam Stadium.[90] Cổ động viên Oxford thường gọi các đối thủ Swindon là moonrakers, ám chỉ truyền thuyết cho rằng người dân vùng đó từng cố cào ánh trăng phản chiếu khỏi một cái ao.[91] Mối kình địch với Reading trở nên gay gắt hơn trong thời kì Robert Maxwell làm chủ tịch, do mong muốn của ông là sáp nhập hai câu lạc bộ. Điều này bị cả hai nhóm cổ động viên phản đối mạnh mẽ, trong đó người hâm mộ United từng tổ chức một cuộc "ngồi lì" trên mặt sân trước trận gặp Wigan để phản đối.[92] Dù là đội bóng lớn thứ hai trong thành phố, Oxford lại ít có sự kình địch hơn với Oxford City do đối thủ này ở vị thế thấp hơn trong hệ thống kim tự tháp bóng đá Anh (hai đội không có trận đấu chính thức nào tại giải vô địch kể từ năm 1959).[93]
Đối với danh sách mọi cầu thủ có từ 100 lần ra sân trở lên, những người từng khoác áo đội tuyển quốc gia khi còn chơi cho câu lạc bộ hoặc đang nắm giữ kỉ lục câu lạc bộ, xem Danh sách cầu thủ bóng đá Oxford United F.C..
Oxford United Women's Football Club được thành lập với tên gọi Oxford Ladies F.C. ở mùa giải 1991-92. Mùa giải đầu tiên của đội là mùa giải 1991-92,[95] và đội chính thức liên kết với Oxford United F.C. trước khi mùa giải tiếp theo bắt đầu,[96] thời điểm đó tên gọi được đổi thành Oxford United Ladies. Một năm sau, đội lại được đổi tên thành Oxford United Women F.C. Đội bóng áp dụng mô hình kết hợp bán chuyên và chuyên nghiệp từ tháng 6 năm 2025.[97]
Huấn luyện viên đầu tiên được bổ nhiệm là Harry Thompson vào tháng 7 năm 1949, ngay sau khi câu lạc bộ chuyển sang chuyên nghiệp.[101] Trong chín năm dẫn dắt, ông giúp đội vô địch Southern League năm 1953, cùng với Southern League Cup vào các năm 1953 và 1954. Ông được thay thế bởi Arthur Turner vào năm 1958, người sau này trở thành nhà quản lí có thời gian tại vị lâu nhất trong lịch sử câu lạc bộ, với hơn một thập kỉ cầm quân. Turner đưa United tới hai chức vô địch Southern League liên tiếp, trong đó lần thứ hai vào năm 1962 giúp đội được bầu vào the Football League.[3] Sau đó là suất thăng hạng từ Fourth Division năm 1965, rồi chức vô địch Third Division ba năm sau đó.[101] Turner rời câu lạc bộ chín tháng sau thành công ấy. Trong 13 năm tiếp theo, có năm nhà quản lí khác nhau nắm quyền. Ron Saunders chỉ tại vị trong đúng 12 trận trước khi chuyển sang Norwich City vào cuối mùa giải 1968-69. Gerry Summers làm nhà quản lí trong sáu năm trước khi được thay bằng Mick Brown. Trong bốn năm Brown dẫn dắt, United bị xuống hạng trở lại Third Division sau tám năm thi đấu ở Second Division.[24]
Jim Smith bắt đầu nhiệm kì đầu tiên của mình trên cương vị nhà quản lí vào năm 1981, và đưa Oxford lên hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh sau hai lần thăng hạng liên tiếp với tư cách đội vô địch vào các năm 1984 và 1985. Tuy nhiên, ông chuyển sang Queens Park Rangers trước khi mùa giải 1985-86 bắt đầu.[31] Nhà quản lí mới, cựu trưởng bộ phận tuyển trạchMaurice Evans, đã có thành công ngay lập tức khi giành Cúp Liên đoàn bóng đá Anh năm 1986, đánh bại chính câu lạc bộ mới của người tiền nhiệm trong trận chung kết.[102] Trong 24 năm tiếp theo, người duy nhất đưa câu lạc bộ thăng hạng là Denis Smith, người giành quyền thăng hạng từ Second Division vào năm 1996. Ramón Díaz, nhà quản lí đầu tiên không phải người Anh của câu lạc bộ, nắm quyền trong năm tháng từ tháng 12 năm 2004 tới tháng 5 năm 2005. Jim Smith trở lại làm nhà quản lí vào năm 2006, năm mà Oxford United bị rớt xuống Football Conference sau 44 năm có mặt tại Football League. Sau khi lỡ thăng hạng ở mùa giải 2006-07, Smith từ chức và Darren Patterson được đưa lên thay vào ngày 9 tháng 11 năm 2007.[103]
Patterson bị sa thải vào tháng 12 năm 2008 và được thay bằng Chris Wilder,[104] người đã đưa câu lạc bộ trở lại Football League bằng chiến thắng ở trận chung kết play-off Conference năm 2010, rồi tiếp tục gắn bó với đội trong năm năm trước khi từ chức vào tháng 1 năm 2014. Gary Waddock được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng vào tháng 3 năm 2014, nhưng bị sa thải vào tháng 7 sau khi cơ cấu cổ phần của câu lạc bộ thay đổi, và được thay bằng Michael Appleton.[105] Trong ba mùa giải cầm quân, Appleton giúp đội thăng hạng lên League One và vào hai trận chung kết thua ở EFL Trophy, trước khi rời đi để trở thành trợ lí huấn luyện viên tại Leicester City. Người Tây Ban Nha Pep Clotet được bổ nhiệm thay thế nhưng bị sa thải giữa chừng trong mùa giải đầu tiên, sau đó là hai tháng dưới quyền huấn luyện viên tạm quyền Derek Fazackerley trước khi cựu nhà quản lí Charlton là Karl Robinson được bổ nhiệm vào tháng 3 năm 2018.[106] Robinson bị sa thải vào tháng 2 năm 2023 sau chuỗi kết quả nghèo nàn[107] và, sau một giai đoạn ngắn dưới quyền huấn luyện viên tạm quyền cùng một thời gian ngắn do Liam Manning dẫn dắt,[108]Des Buckingham được bổ nhiệm làm nhà quản lí[4][109] và ông đã đưa câu lạc bộ thăng hạng lên Championship sau 25 năm vắng bóng. Buckingham bị sa thải ngày 15 tháng 12 năm 2024 và sau đó được thay bằng cựu nhà quản lí Millwall là Gary Rowett,[110][111] nhưng Rowett cũng bị sa thải sau một năm cầm quân.[112]
Kể từ khi chuyển sang chuyên nghiệp, câu lạc bộ đã có 26 nhà quản lí chính thức, trong đó ba người (Jim Smith, Denis Smith và Darren Patterson) từng đảm nhiệm vị trí này nhiều hơn một lần, cùng 12 giai đoạn do huấn luyện viên tạm quyền phụ trách.
Lượng khán giả sân nhà đông nhất được ghi nhận là trong trận gặp Preston North End ở vòng Sáu Cúp FA, tại Manor Ground, vào ngày 29 tháng 2 năm 1964. Khi đó có 22.750 khán giả đến sân,[113] vượt quá sức chứa của sân, nên phải dựng giàn giáo để tạo các khán đài tạm cho những người ủng hộ bổ sung. Lượng khán giả đông nhất tại Sân vận động Kassam cho một trận bóng đá là 12.243 người, trong trận cuối cùng của mùa giải 2005-06 thuộc League Two gặp Leyton Orient. Tỉ số đậm nhất trong lịch sử Oxford là chiến thắng 9-1 trước Dorchester Town tại vòng Một Cúp FA ngày 11 tháng 11 năm 1995. Ở giải vô địch, chiến thắng đậm nhất của đội là 7-0 trước Barrow tại Division Four. Trận thua đậm nhất của Oxford là 0-7 trên sân Sunderland năm 1998 và trước Wigan Athletic năm 2017. Chuỗi bất bại dài nhất của đội tại giải vô địch là 20 trận vào năm 1984,[114] trong khi chuỗi thắng dài nhất là chín trận ở mùa giải 2020-21.[115]
John Shuker giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất tại giải vô địch với 478 trận trong giai đoạn từ năm 1962 đến năm 1977.[7]John Aldridge giữ kỉ lục số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải vô địch, với 30 bàn ở mùa giải 1984-85.[116]Graham Atkinson nắm giữ kỉ lục số bàn thắng nhiều nhất tại giải vô địch với 77 bàn, đồng thời cũng là người ghi nhiều bàn nhất trên mọi đấu trường với 107 bàn.[117] Cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất là Jim Magilton, với 18 lần ra sân cho đội tuyển Bắc Ireland. Khoản tiền lớn nhất Oxford từng thu được từ việc bán một cầu thủ là khoảng 3.000.000 bảng từ vụ chuyển nhượng Kemar Roofe sang Leeds United vào tháng 7 năm 2016.[118] Mức phí chuyển nhượng lớn nhất mà Oxford từng trả là 470.000 bảng cho Dean Windass từ Aberdeen vào tháng 8 năm 1998,[119] dù khoản phí không được công bố cho Marvin Johnson ở đầu mùa giải 2016-17 được cho là đã vượt con số này.[120] Oxford là đội duy nhất trong lịch sử thăng hạng liên tiếp từ Division Three lên First Division với tư cách đội vô địch.
^"Contact Us". Oxford United F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2023.
^"Club Statement: Board Changes". Oxford United F.C. ngày 27 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2022.
^ abAndy Howland. "Past Managers". Oxford Mail. Newsquest Media Group. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012.
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về [{{fullurle:Commons:Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataIB tại dòng 473: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).|uselang=vi}} Oxford United F.C.].
Không tìm thấy URL. Vui lòng định rõ một URL ở đây hoặc thêm vào trên Wikidata.