Bước tới nội dung

SSG Landers

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
SSG Landers
SSG 랜더스
Tập tin:SSG Landers.png Tập tin:SSG Landers Cap Logo.png
Logo Phù hiệu mũ
Thông tin
GiảiKBO League
Vị tríIncheon
Sân nhàIncheon SSG Landers Field (2002–nay)
Năm thành lập2000; 26 năm trước (2000)
Vô địch league2007, 2008, 2010, 2022
Vô địch Korean Series2007, 2008, 2010, 2018, 2022
Tên cũSK Wyverns (2000–2020)
MàuĐỏ tươi, trắng, vàng
              
Số áo lưu niệm26
Sở hữuShinsegae
Huấn luyện viên trưởngLee Soong-yong
Trang chủwww.ssglanders.com

SSG Landers ( tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; RomajaSSG Laendeoseu ) là một câu lạc bộ bóng chày chuyên nghiệp có trụ sở tại Incheon, Hàn Quốc và là thành viên của giải KBO League. Được thành lập vào năm 2000 với tên gọi SK Wyverns, đội bóng đã đổi tên thành SSG Landers vào năm 2021 sau khi được Shinsegae mua lại từ SK Group. Đội thi đấu trên sân nhà tại sân vận động Incheon SSG Landers Field.

Lịch sử

2000: Thành lập (SK Wyverns)

Vào mùa giải năm 2000, câu lạc bộ Ssangbangwool Raiders đại diện cho vùng Jeollabuk-do từ năm 1990 đã giải thể do tập đoàn mẹ Ssangbangwool phá sản. Suất thành viên của Raiders được giải KBO League thu lại và sau đó trao quyền thành lập mới cho tập đoàn SK. Đội bóng mới mang tên là SK Wyverns, trong đó wyvern là tên một loại rồng. Mặc dù Raiders và Wyverns không có mối liên hệ lịch sử nào, nhưng CLB mới đã dựa chủ yếu trên cơ sở nhân sự cũ của Raiders.

Trong khi đó, Hyundai Unicorns đã rời Incheon. Do mong muốn chuyển đến Seoul đã vấp phải sự phản đối của Doosan BearsLG Twins, Unicorns đã chuyển tới Suwon, và SK Wyverns đã lấp đầy khoảng trống để lại ở Incheon.

2001–2006

Năm 2003 đánh dấu lần đầu tiên Wyverns góp mặt tại Korean Series, nơi họ bị Hyundai Unicorns đánh bại sau bảy ván đấu.

2007

Năm 2007, SK đã đánh bại Doosan Bears trong sáu trận để giành chức vô địch Korean Series lần đầu tiên trong lịch sử đội bóng – sau khi kết thúc mùa giải ở vị trí quán quân. Ngoài ra, họ trở thành đội đầu tiên trong lịch sử KBO giành chiến thắng sau khi thua hai ván đầu tiên. Cầu thủ đánh bóng chủ lực Kim Jae-hyun được bầu là MVP của loạt trận.

Với chức vô địch Korean Series, SK đã đại diện Hàn Quốc tham gia Konami Cup, một giải đấu ngắn ngày giữa nhà vô địch của các giải chuyên nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản (NPB), Đài Loan (CPBL) và Đội tuyển ngôi sao giải Trung Quốc. Vào ngày 8 tháng 11 năm 2007, SK Wyverns đã đánh bại Chunichi Dragons 6–3, thất bại đầu tiên của Chunichi trong lịch sử Konami Cup. Vào ngày 9 tháng 11 năm 2007, SK đã đánh bại Đội tuyển các Ngôi sao Trung Quốc 13–0, khiến trận đấu kết thúc ở hiệp thứ bảy do luật thắng cách biệt. Vào ngày 10 tháng 11 năm 2007, Wyverns lặp lại thành tích hủy diệt, đánh bại Uni-President 7-Eleven Lions của Đài Loan 13–1 sau bảy hiệp. Tại trận tái đấu với Chunichi Dragons tại chung kết vào ngày 11 tháng 11 năm 2007, SK Wyverns đã để thua sít sao với tỷ số 5–6.

Tập tin:Munhak.jpg
Sân vận động Incheon SSG Landers Field, sân nhà của đội SSG Landers

2008

SK có thành tích 83–43–0 trong năm 2008, với tỷ lệ thắng .659 cao nhất trong lịch sử giải KBO vào thời điểm đó. [cần dẫn nguồn] Đội bóng một lần nữa vào tới Korean Series, và đã đánh bại Doosan Bears trong lần tái đấu để giành chức vô địch Hàn Quốc lần thứ hai. Choi Jeong được vinh danh là MVP của loạt trận.

SK một lần nữa đại diện Hàn Quốc tại Cúp Konami. Vào ngày 13 tháng 11 năm 2008, SK Wyverns đã đánh bại Seibu Lions 4–3, đánh dấu năm thứ hai liên tiếp nhà vô địch Hàn Quốc đánh bại nhà vô địch Nhật Bản tại giải đấu này. Vào ngày 14 tháng 11 năm 2008, họ một lần nữa đánh bại đại diện Trung Quốc, Tianjin Lions, trong một trận đấu rút ngắn theo luật thắng cách biệt. Tuy nhiên, vào ngày 15 tháng 11 năm 2008, họ đã thất bại trong trận tái đấu với Uni-President 7-Eleven Lions của Đài Loan với tỷ số 4–10 và không thể tiến vào trận chung kết.

2009–2020

Tuy nhiên, vào năm 2009, SK chỉ giành vị trí á quân tại mùa giải KBO và Korean Series, nơi họ bị KIA Tigers đánh bại sau bảy ván.

SK đã lấy lại phong độ vào năm 2010, thống trị mùa giải thường niên và giành chức vô địch Hàn Quốc với chiến thắng ván áp đảo 4-0 trước Samsung Lions. Đây là lần thứ tư liên tiếp SK tham dự Giải bóng chày Hàn Quốc và là danh hiệu thứ ba của họ trong bốn năm. Wyverns cũng có chuỗi 22 trận thắng liên tiếp, dài nhất trong lịch sử bóng chày Hàn Quốc, kết thúc vào tháng 4 năm 2010.[1]

Năm 2011, huấn luyện viên Kim Sung-keun bị sa thải giữa mùa giải sau một cuộc tranh chấp kéo dài giữa ông và ban lãnh đạo SK. Điều này dẫn đến việc trợ lý huấn luyện viên trưởng lúc bấy giờ là Lee Man-soo tiếp quản vị trí HLV trưởng. Động thái trên đã bị người hâm mộ SK Wyverns phản ứng dữ dội, vì ông Kim đã dẫn dắt SK luôn có mặt tại Korean Series trong thời gian ông nắm quyền.

Cả năm 2011 và 2012, SK đều vào tới Korean Series, nhưng cả hai lần đều bị Samsung Lions đánh bại. SK đã lọt vào Korean Series trong mọi mùa giải từ năm 2007 đến năm 2012 (sáu mùa giải liên tiếp).

Năm 2018, SK lại đối đầu với Doosan Bears tại Giải vô địch Hàn Quốc và giành chức vô địch lần thứ tư, sau khi đánh bại Doosan Bears trong bốn ván.

2021–nay (SSG Landers)

Tháng 1 năm 2021, Shinsegae công bố sẽ mua lại câu lạc bộ SK Wyverns từ SK Telecom với giá 135,2 tỷ won (122 triệu đô la), và CLB sẽ chịu sự quản lý của hãng bán lẻ e-mart trực thuộc Shinsegae, cùng nhận diện mới ra mắt vào tháng 3 mang tên SSG Landers.[2][3] Thỏa thuận được hoàn tất vào ngày 23 tháng 2 năm 2021.[4] Trong mùa giải đầu tiên mang tên Landers, CLB kết thúc ở vị trí thứ sáu, với thành tích 66–64–14. Tuy nhiên, vào mùa giải tiếp theo, SSG Landers đã giành chức vô địch mùa giải chính thứ tư và đầu tiên dưới sự quản lý của Shinsegae, với 88 trận thắng trong số 144 trận.[5] Sau đó, họ đã có lần thứ năm giành chức vô địch Korean Series, sau khi đánh bại Kiwoom Heroes với tỷ số ván 4–2.[6]

Vào ngày 15 tháng 1 năm 2024, trước thềm mùa giải KBO League 2024, Landers đã công bố logo và thiết kế đồng phục mới.[7][8] Trong đó, logo mới được thiết kế với sự hợp tác của các nhà thiết kế logo thể thao người Mỹ Todd Radom và Bill Frederick.[7][8]

Thành tích từng mùa giải

Mùa Sân nhà Hạng Mùa giải chính thức Playoff Giải thưởng
Hạng Trận T B H %T BA HR ERA
SK Wyverns
2000 Sân vận động bóng chày Sungui 8/8 4/4 133 44 86 3 .338 .260 105 5.99 Không giành quyền tham dự Lee Seung-ho (ROTY)
2001 7/8 7/8 133 60 71 2 .458 .260 113 4.41 Không giành quyền tham dự
2002 Sân vận động bóng chày Munhak 6/8 6/8 133 61 69 3 .469 .270 158 4.47 Không giành quyền tham dự
2003 2/8 4/8 133 66 64 3 .508 .272 156 4.44 Won semi-playoff vs. Samsung Lions (2–0)

Won playoff vs. KIA Tigers (3–0)

Lost Korean Series vs. Hyundai Unicorns (3–4)
2004 5/8 5/8 133 61 64 8 .488 .272 138 4.40 Không giành quyền tham dự
2005 3/8 3/8 126 70 50 6 .583 .269 122 3.41 Lost semi-playoff vs. Hanwha Eagles (2–3)
2006 6/8 6/8 126 60 65 1 .480 .254 99 3.80 Không giành quyền tham dự
2007 1/8 1/8 126 73 48 5 .603 .264 112 3.24 Won Korean Series vs. Doosan Bears (4–2)
2008 1/8 1/8 126 83 43 0 .659 .282 89 3.22 Won Korean Series vs. Doosan Bears (4–1) Kim Kwang-hyun (MVP)
2009 2/8 2/8 133 80 47 6 .602 .285 166 3.67 Won playoff vs. Doosan Bears (3–2)

Lost Korean Series vs. KIA Tigers (3–4)
2010 1/8 1/8 133 84 47 2 .641 .274 120 3.71 Won Korean Series vs. Samsung Lions (4–0)
2011 2/8 3/8 133 71 59 3 .546 .263 100 3.59 Won semi-playoff vs. KIA Tigers (3–1)

Won playoff vs. Lotte Giants (3–2)

Lost Korean Series vs. Samsung Lions (1–4)
2012 2/8 2/8 133 71 59 3 .546 .258 108 3.82 Won playoff vs. Lotte Giants (3–2)

Lost Korean Series vs. Samsung Lions (2–4)
2013 6/9 6/9 128 62 63 3 .496 .265 124 4.16 Không giành quyền tham dự
2014 5/9 5/9 128 61 65 2 .484 .291 115 5.51 Không giành quyền tham dự
2015 Incheon SK
Happy Dream Park
5/10 5/10 144 69 73 2 .486 .272 145 4.71 Lost wild card vs. Nexen Heroes (0–1)
2016 6/10 6/10 144 69 75 0 .479 .291 182 4.87 Không giành quyền tham dự
2017 5/10 5/10 144 75 68 1 .524 .271 234 5.02 Lost wild card vs. NC Dinos (0–1)
2018 1/10 2/10 144 78 65 1 .545 .281 233 4.67 Won playoff vs. Nexen Heroes (3–2)

Won Korean Series vs. Doosan Bears (4–2)
2019 3/10 2/10 144 88 55 1 .615 .262 117 3.48 Lost playoff vs. Kiwoom Heroes (0–3)
2020 9/10 9/10 144 51 92 1 .357 .250 143 5.57 Không giành quyền tham dự
SSG Landers
2021 Incheon
SSG Landers Field
6/10 6/10 144 66 64 14 .508 .261 185 4.82 Không giành quyền tham dự
2022 1/10 1/10 144 88 52 4 .629 .254 138 3.87 Won Korean Series vs. Kiwoom Heroes (4–2)
2023 3/10 3/10 144 76 65 3 .539 .260 125 4.37 Lost semi-playoff vs. NC Dinos (0–3)
2024 6/10 6/10 144 72 70 2 .507 .273 152 5.25 Không giành quyền tham dự
2025 3/10 3/10 144 75 65 4 .536 .256 127 3.63 Lost semi-playoff vs. Samsung Lions (1–3)

Huấn luyện viên trưởng

Tài liệu tham khảo

Tổng quan
  • "Complete league history and statistics" (bằng tiếng Korean). Korean Baseball League. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2017.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
Cụ thể
  1. ^ "Kbo리그 최다 22연승…2009~2010년 Sk의 추억". ngày 20 tháng 6 năm 2016.
  2. ^ "Shinsegae acquires pro baseball club from SK Telecom". Yonhap News Agency. ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2021.
  3. ^ Jin, Min-ji (ngày 31 tháng 1 năm 2021). "Buying a ball club is about more than money for Shinsegae". Korea Joongang Daily. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2021.
  4. ^ Yoo, Jee-ho (ngày 1 tháng 2 năm 2021). "SSG Electros? Shinsegae applies for trademark on potential new baseball team name". Yonhap News Agency. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2021.
  5. ^ "SSG Landers win KBO regular season title in league's first wire-to-wire victory". koreajoongangdaily.joins.com (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2022.
  6. ^ "SSG Landers capture Korean Series title". Yonhap News Agency (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2022.
  7. ^ a b "SSG랜더스, 신규 BI 공개 및 팬 페스티벌 개최". ssglanders.com (bằng tiếng Hàn). ngày 15 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2024.
  8. ^ a b "New look Landers". koreajoongangdaily.joins.com (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2024.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:SSG Landers