Bước tới nội dung

Sết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Seth)
Sết
Tập tin:Spas na Ilyine - Patriarch Seth 2 (cropped).jpg
Chi tiết từ bức bích họa của Theophanes từ Hy Lạp, 1378
Đời tư
Sinh3982 TCN
Mất3070 TCN (912 tuổi)
Bạn đờiA-du-ra (đồng thời cũng là em gái)
Con cáiTrong Sáng thế ký: Ê-nót
Trong Ngũ thánh ký: Nô-am (Ngũ thánh 4:13)
Phụ huynh
Người thânTrong Sách Sáng Thế:A-bên (anh trai)
Ca-in (anh trai)
Ê-nốt (con trai)
Kê-nan (cháu trai)
Ma-ha-la-lê (chắt trai)
Giê-rệt (chút trai)
Hê-nóc (chít trai)
Mê-tu-sê-la (cháu cố trai)
Lê-méc (chắt cố trai)
Theo văn bản sau này:
Ác-li-ma (chị gái)
A-du-ra (em gái)

Sết (tiếng Hebrew: שֵׁת Šet hay Šēṯ, tiếng Anh: Seth, tiếng Ả Rập: شِيث Sheeth, nghĩa là 'xếp đặt, chỉ định') là con trai thứ ba của A-đam và Ê-va theo như các tôn giáo khởi nguồn từ Áp-ra-ham. Theo Sáng 4:25,[1] Sết được sinh ra sau khi A-bên bị Ca-in giết hại, và Ê-va tin rằng Thiên Chúa đã xếp đặt ông để thay thế cho A-bên.

Thông tin

Theo như Sáng thế ký, Sết được sinh ra khi A-đam 130 tuổi (theo như Văn bản Masoretic) hay 230 tuổi (theo như Bản Bảy Mươi), "đứa con trai giống về tính cách lẫn bề ngoài". Sáng 5:4-5 ghi rằng A-đam đã có "những con trai và con gái khác" trước khi chết, khi ông 930 tuổi[2]. Theo cùng một tài liệu, Sết qua đời ở tuổi 912 (tức là 14 năm trước khi Nô-ê ra đời)[3].

Gia phả của ông được nhắc lại ở 1 1 Chronicles 1:1–3.

Do Thái giáo

Sết xuất hiện trong các văn bản Kinh Thánh về Cuộc đời của A-đam và Ê-va (Khải Huyền của Mô-sê). Văn bản này thuật lại cuộc đời của A-đamvà Ê-va sau khi bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng cho đến chết. Mặc dù các phiên bản còn tồn tại được biên soạn từ đầu thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 5, các văn bản văn học trong tác phẩm được coi là cổ hơn và chủ yếu có nguồn gốc Do Thái. Tất cả mọi người cho rằng bản gốc được biên soạn bằng ngữ tộc Semit vào thế kỷ thứ nhất trong Công nguyên. Trong các phiên bản tiếng Hy Lạp, Sết và Ê-va đã đi đến cửa Vườn để xin một ít dầu của Cây Thương Xót (tức là Cây Sự Sống). Trên đường đi, Sết bị một con thú hoang tấn công, nhưng con thú đã bỏ đi sau khi Sết ra lệnh. Mi-ca-ên từ chối cho họ dầu, nhưng hứa sẽ cho họ vào tận thế, khi tất cả mọi người được sống lại, những thú vui của thiên đường sẽ được ban cho những người thánh thiện và Chúa sẽ ở giữa họ. Trên đường trở về, A-đam nói với Ê-va: "Mi đã làm gì vậy? Mi đã mang đến cho chúng ta cơn thịnh nộ lớn lao, đó là cái chết." (chương 5–14). Sau đó, chỉ có Sết mới có thể chứng kiến ​​A-đam thăng thiên trong đám tang của ông trên một cỗ xe tiên, đưa ông trở về Vườn Địa Đàng.

Sách Sáng Thế cũng viết rằng Sết là tổ tiên của Nô-ê, cho nên ông cũng chính là cha của nhân loại khi tất cả những người khác đã chết trong trận Đại Hồng Thủy. Có nguồn cho rằng A-đam đã truyền cho Sết những giáo lý bí mật mà sau này trở thành Kabbalah[4]. Zohar viết rằng Sết là "tổ tiên của tất cả các thế hệ người Ai Cập hoặc Tsetsaudim" (tiếng Do Thái: những người công chính). Theo Seder Olam Rabbah, dựa trên cách tính của người Do Thái, ông sinh năm 2130 TCN AM. Theo Aggadah, ông có 2 con trai và nhiều vợ. Theo Seder Olam Rabbah, ông mất năm 1042 AM.

Kitô giáo


Sết
Tập tin:TrinityChurchManhattan2019GraveyardAstorCrossSeth.jpg
Tượng điêu khắc Thánh Sết trên thánh giá Astor trong nhà thờ Trinity
Tổ phụ
Sinhk. 130 AM
Mấtk. 1042 AM
Tôn kínhGiáo hội Công giáo
Chính thống giáo Đông phương
Chính thống giáo Cổ Đông phương
Lễ kính31 Tháng 12 (Giáo hội Công giáo)
Chúa nhật kính các Thánh Tổ phụ (Chính thống giáo Đông phương)

Sách Ngũ thánh, được biên soạn vào thế kỷ thứ 2 TCN, được coi là không chính thống ngoại trừ trong các Chính thống giáo Cổ Đông phương, cũng ghi ngày sinh của ông là 130 AM. Theo đó, vào năm 231 AM, Sết kết hôn với em gái mình, A-du-ra, kém ông bốn tuổi. Vào năm 235 AM, A-du-ra sinh ra Ê-nốt.

Sết được tưởng nhớ như một trong những Thánh Tổ phụ trong Lịch các Thánh của Giáo hội Tông đồ Armenia, cùng với A-đam, A-bên và những người khác, với ngày lễ vào ngày 26 tháng 7. Ông cũng được nhắc đến trong Gia phả của Chúa Giê-su, theo Lu-ca 3:23–38.

Những người theo phái Si-thi-a-ni là một giáo phái Kitô giáo thuộc Thuyết ngộ đạo, có thể đã tồn tại trước cả thời kỳ Kitô giáo. Tư tưởng của họ, mặc dù chủ yếu dựa trên nền tảng Do Thái giáo, nhưng được cho là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chủ nghĩa Platon. Tên gọi Si-thi-a-ni xuất phát từ tập tục thờ thần Sết, được miêu tả trong thần thoại sáng thếhiện thân thần thánh; do đó, con cháu hay "hậu duệ" của Sết được coi là tầng lớp ưu tú được chọn lọc trong xã hội loài người.

Hồi giáo

Šheeṯh
شِيث
Sết
Tập tin:Chester Beatty T 414 fol 74r Shith teaching Anush.jpg
Sheth (bên phải) dạy con trai Anush
Tiên tri Hồi giáo
Tiền nhiệmAdam
Kế nhiệmIdris
Đời tư
SinhŠheeṯh ibn Ādam
(tiếng Ả Rập: شِيث ٱبْن آدم, đã Latinh hoá: Shith ibn adm)
Con cáiAnush
Phụ huynh
Lý do nổi tiếng
  • Là con trai thứ ba của Adam
  • Là nhà tiên tri thứ hai trong đạo Hồi
Người thânQābīl (anh trai), Hābīl (anh trai)
Đời tu
Tôn giáoHồi giáo

Trong truyền thống Hồi giáo, Šheeṯh được tôn thờ với tư cách người con trai thứ ba và chính trực của Adam và Ḥawwā', được xem là món quà ban tặng cho Adam sau cái chết của Hābīl. Học giả và sử gia Ibn Kathir ghi lại trong cuốn sách lịch sử (tarikh) của mình, Al-Bidāya wa-n-nihāya (البداية والنهاية) rằng Šheeṯh, một nhà tiên tri giống như cha mình là Adam, đã truyền lại Luật của Thượng đế cho nhân loại sau cái chết của Adam, và đặt ông vào hàng ngũ các tổ phụ cao quý thời tiền đại hồng thuỷ của thế hệ Adam. Một số nguồn tin cho rằng Šheeṯh là người nhận kinh sách. Những kinh sách này được cho là "kinh sách đầu tiên" được đề cập trong Kinh Qur'an 87:18. Nhà sử học và học giả chú giải thời Trung cổ al-Tabari cùng các học giả khác cho rằng Šheeṯh đã chôn cất Adam và các văn bản bí mật trong lăng mộ của Adam, tức là "Hang Kho Báu".

Văn học Hồi giáo ghi rằng Šheeṯh được sinh ra khi Adam đã hơn 100 tuổi và Adam đã bổ nhiệm Šheeṯh làm người dẫn dắt dân tộc mình. Nhà sử học và dịch giả người Syria thế kỷ 11, Al-Mubashshir ibn Fātik, đã ghi lại những châm ngôn và lời răn dạy của các triết gia cổ đại trong cuốn sách Kitāb mukhtār al-ḥikam wa-maḥāsin al-kalim của ông, trong đó có một chương về Šheeṯh. Trong truyền thống Hồi giáo, Šheeṯh nắm giữ nhiều loại trí tuệ; kiến ​​thức về thời gian, lời tiên tri về trận Đại hồng thủy trong tương lai, và nguồn cảm hứng về phương pháp cầu nguyện ban đêm. Hồi giáo, Do Thái giáo và Kitô giáo đều truy nguồn gốc loài người về Šheeṯh vì Hābīl không có người thừa kế còn con cháu của Hābīl đã bị tiêu diệt bởi trận Đại hồng thủy. Nhiều nghề thủ công truyền thống của Hồi giáo cũng được truy nguồn gốc từ Šheeṯh, chẳng hạn như làm lược sừng. Šheeṯh cũng đóng một vai trò trong Sufi giáo, và Ibn Arabi đã dành một chương trong tác phẩm Những viên ngọc trí tuệ của mình để nói về Šheeṯh, có tựa đề "Sự khôn ngoan của sự diệt trừ trong lời dạy của Šheeṯh".

Một số tín ngưỡng cho rằng lăng mộ của Sết nằm ở làng al-Nabi Shayth (n.đ.'Nhà tiên tri Sết') tại vùng núi phía trên thung lũng BeqaaLi-băng, ở đó cũng có một nhà thờ Hồi giáo được đặt theo tên ông. Lăng mộ này đã được nhà địa lý Ibn Jubayr thế kỷ 12 mô tả. Một tín ngưỡng khác khác, được các nhà địa lý Ả Rập thời trung cổ sau này đề cập đến từ thế kỷ 13 trở đi, cho rằng lăng mộ của Nabi Shith ("Nhà tiên tri Sết") nằm ở làng Bashshit tại Palestine, phía tây nam làng Ramla. Theo Quỹ Khảo cổ Palestine, Bashshit có nghĩa là Beit Shith, tức là "Ngôi nhà của Sết". Ngôi làng đã bị bỏ hoang sau khi Nhà nước Israel thành lập năm 1948, nhưng công trình ba mái vòm được cho là lăng mộ của Sết vẫn còn tồn tại trong khu định cư Aseret của Israel được xây dựng trên địa điểm đó. Một lăng mộ khác ở thành phố Balkh, Afghanistan cũng được xác định là nơi chôn cất của Sết.

Người Hồi giáo địa phương ở Ayodhya, Uttar Pradesh, Ấn Độ tin rằng ngôi mộ dài 3,7 mét trong Thánh đường Hồi giáo Hazrat Shees Jinnati là maqam (nơi an nghỉ) của Hazrat Shees hay Tiên tri Sết. Niềm tin này được đề cập trong tài liệu Ain-i-Akbari' của triều đại Mogul thế kỷ 16 và cũng được nhắc đến trong tác phẩm Ấn Độ thời Aurangzeb của Jadunath Sarkar.

Yazidi giáo

Trong văn học truyền miệng của Yazidi giáo, A-đam và Ê-va mỗi người đặt một hạt giống vào đôi lọ riêng. Hạt giống của Ê-va nảy ra côn trùng, còn hạt giống của A-đam nảy ra Shehid ibn Jerr, tổ tiên của người Yazidi. Do đó, người Yazidi tin rằng họ được tạo ra một cách riêng biệt và khác biệt so với tất cả những người khác (Kreyenbroek 2005: 31).

Cây gia phả

A-đam[a]Ê-va[a]
Ca-in[a]A-bên[b]Sết[c]
Hê-nóc[d]Ê-nót[e]
Y-rát[f]Kê-nan[g]
Mê-hu-da-ên[f]Ma-ha-la-le[h]
Mê-tu-sa-ên[f]Giê-rệt[i]
A-đa[j]Lê-méc[f]Si-la[j]Hê-nóc[k]
Gia-banh[l]Giu-banh[m]Tu-banh-Ca-in[n]Na-a-ma[n]Mê-tu-sê-la[o]
Lê-méc[p]
Nô-ê[q]
Sem[r]Cham[r]Gia-phết[r]
  1. ^ a b c Sáng 4:1
  2. ^ Sáng 4:2
  3. ^ Sáng 4:25; 5:3
  4. ^ Sáng 4:17
  5. ^ Sáng 4:26; 5:6–7
  6. ^ a b c d Sáng 4:18
  7. ^ Sáng 5:9–10
  8. ^ Sáng :12–13
  9. ^ Sáng 5:15–16
  10. ^ a b Sáng 4:19
  11. ^ Sáng 5:18–19
  12. ^ Sáng 4:20
  13. ^ Sáng 4:21
  14. ^ a b Sáng 4:22
  15. ^ Sáng 5:21–22
  16. ^ Sáng 5:25–26
  17. ^ Sáng 5:28–30
  18. ^ a b c Sáng 5:32

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Sáng Thế 4:25, Bản dịch Tin Lành 2011
  2. ^ Genesis 5:4–5
  3. ^ Genesis 5:8
  4. ^ "What is Kabbalah? | Reform Judaism". reformjudaism.org (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2026.

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).