Tái Thượng A
| Tái Thượng A 賽尚阿 | |
|---|---|
| Thông tin chung | |
| Sinh | 1794 |
| Mất | 1875 |
| Hậu duệ | Sùng Khởi Cung Túc Hoàng quý phi |
| Thân phụ | Cảnh Huy (景煇) |
| Thân mẫu | Trương Giai thị |
Tái Thượng A (chữ Hán: 賽尚阿, phiên âm Mãn Châu: Saišangga, 1794 - 1875), biểu tự Hạc Đình (鶴汀), A Lỗ Đặc thị, là một quan viên và ngoại thích nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.
Cuộc đời
Xuất thân
Ông sinh năm Càn Long thứ 59 (1794), xuất thân từ gia tộc A Lỗ Đặc thị (阿魯特氏), thuộc Mông Cổ Chính Lam kỳ[1], địa vị xã hội trong Đại Thanh tương đối không cao lắm. Về sau, nhờ có cháu nội là Hoàng hậu của Đồng Trị Đế, gia tộc của ông cải thành Mãn Châu Tương Hoàng kỳ.
Thủy tổ tên Bá Nhĩ Đặc Y (伯尔特依), từ đó xuống 5 đời đều là bạch thân, tức là thường dân học vụ không có quan chức gì cả. Đến đời thứ 7, có vị tên Cảnh Huy (景辉) ở năm Gia Khánh thứ 7 khảo Phiên dịch Cử nhân, làm quan đến Tứ phẩm, từ đó đem gia tộc liệt vào hàng quan lại nhân gia. Cảnh Huy có hai con trai, đều thi đậu Phiên dịch Cử nhân, cụ thể là hai đợt Phiên dịch giải nguyên Gia Khánh năm thứ 21 và Đạo Quang năm thứ 5, vì thế đem gia tộc vào hạng Khoa cử thế gia, vị này chính là thân phụ của ông.
Hành trạng
Ông đỗ Phiên dịch Cử nhân vào năm Gia Khánh thứ 21 (1817), trong Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất được coi trọng, trao cho chức Hiệp Bạn Đại học sĩ (协办大学士), thuộc hàng trọng yếu đại thần khi đấy. Năm đầu Hàm Phong, thăng Văn Hoa điện Đại học sĩ (文华殿大学士), Quân cơ đại thần, quản lý bộ Hộ, vâng mệnh trấn áp quân Thái Bình Thiên Quốc.
Những năm cuối đời, ông hai lần mang thân phận Khâm sai đại thần chịu trách nhiệm đến Hồ Nam đàn áp quân Thái Bình Thiên Quốc mới khởi nghĩa nhưng binh bại trở về, Hàm Phong Đế giận dữ cách chức ông. Sau khi bình định Thái Bình Thiên Quốc, ông được cho phép chuộc tội lập công, sau lại thăng quan tới chức Phó Đô thống. Năm Quang Tự thứ nhất (1875), ông lâm bệnh mà qua đời[2].
Sinh thời, ông là đại thần người Mông Cổ trải qua 5 triều đại muộn thời nhà Thanh (Gia Khánh, Đạo Quang, Hàm Phong, Đồng Trị, Quang Tự), từng biên soạn hai bộ từ điển 《Mông Văn Hối Thư》, 《Mông Văn Tích Nghĩa》, đồng thời trên cơ sở tác phẩm của phụ thân đã hoàn thành cuốn 《Mông Văn Chỉ Yếu》. Ông cũng tham gia biên soạn bộ quy định hành chính trị lý các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc của triều đình nhà Thanh là 《Khâm Định Lý Phiên Viện Tắc Lệ》.
Gia đình
Tổ tiên
- Tằng tổ phụ: Ô Nhĩ Đồ Na Tô Đồ (烏爾圖那蘇圖)
- Tằng tổ mẫu: Hàn Giai thị (韓佳氏)
- Tổ phụ: Đức Hưng (德興)
- Tổ mẫu: Lý Giai thị (李佳氏)
- Thân phụ: Cảnh Huy (景煇), làm quan đến chức Tứ phẩm. Ông có một em gái, lấy người thuộc họ Qua Nhĩ Giai, chủ động tuyệt thực tự sát sau khi phu quân qua đời nên được triều đình ban Tinh biểu (旌表).
- Thân mẫu: Trương Giai thị (張佳氏)
Thê tử
- Phú Sát thị (富察氏), xuất thân Mãn Châu Tương Bạch kỳ, con gái Hộ quân Tham lĩnh, Đông Lăng Tổng quản Hưng Phúc (興福), chất nữ của Lễ bộ Thượng thư Quý Khánh (貴慶) - con rể Hòa Thân.
- Thị thiếp không rõ tên, sinh Cung Túc Hoàng quý phi.
Hậu duệ
Con trai
- Sùng Hứa (崇緒), Loan nghi vệ Vân huy sứ.
- Thê tử: Ái Tân Giác La thị (愛新覺羅氏), thuộc Mãn Châu Tương Bạch kỳ, con gái Kinh Châu tướng quân Tường Hanh (祥亨), hậu duệ Dụ Hiến Thân vương Phúc Toàn.
- Nữ: Lâm Khang (霖康), gả vào gia tộc họ Khổng, có con gái là Khổng Trân (孔珍) từng tham gia tuyển tú thời Quang Tự.
- Sùng Hi (崇熙), Đầu đẳng Thị vệ, Y Lê Lãnh đội Đại thần, tự sát khi liên quân tám nước tấn công vào Bắc Kinh.
- Sùng Khởi (崇绮), Trạng nguyên Mông Cổ duy nhất của nhà Thanh, Hộ bộ, Lại bộ Thượng thư, tước [Tam đẳng Thừa Ân công; 三等承恩公], thụy Văn Tiết (文节). Toàn bộ gia quyến của ông đều tự sát khi liên quân tám nước tấn công vào Bắc Kinh.
- Thê tử:
- Nguyên phối: Ái Tân Giác La thị (愛新覺羅氏), con gái Trịnh Thân vương Đoan Hoa.
- Kế phối: Ái Tân Giác La thị (愛新覺羅氏), con gái Lý vương phủ Phó Đô thống Tái Diệu (載耀) - Trấn quốc công Dịch Hạo, em gái Đại học sĩ Phúc Côn (福錕).
- Tam kế phối: Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏), con gái Tổng binh Trường Thụy (長瑞), biểu tỷ của Quân cơ đại thần Vinh Lộc – cha của Thuần Thân vương phi Ấu Lan.
- Tử: Bảo Sơ (葆初), Tán trật đại thần, tác giả của 《Hội Cảnh Hiên Độc Họa Ký》. Có hai người vợ đều là tông thất nữ nhà Thanh, nguyên phối là con gái Thượng thư Tung Sâm (嵩森), kế phối là con gái Văn Hoa (文华), hậu duệ Hy Mẫn Bối lặc Hải Thiện.
- Nữ:
- Tam nữ, tức Hiếu Triết Nghị Hoàng hậu của Đồng Trị Đế.
- Ngũ nữ, Kế Phúc tấn của Huệ Quận vương Dịch Tường – con trai của Huệ Thân vương Miên Du.
- Thê tử:
- Sùng Huyễn (崇絢)
- Sùng Cương (崇綱), Viên ngoại lang.
- Tử: Khắc Xương (克昌)
- Tôn nữ: Khắc Liên Trân (克連珍), lấy tông thất Hằng Đồng (恆同), hậu duệ Hòa Thân vương Hoằng Trú. Bà là sinh mẫu của nhà thư pháp nổi tiếng thời hiện đại Khải Công (啓功).
- Nữ: gả cho tông thất Tải Liêm (載濂).
- Tử: Khắc Xương (克昌)
Con gái
- Trưởng nữ, gả cho Trường Cát (長吉) thuộc Mã Giai thị.
- Nhị nữ, gả cho Phúc Tụ (福聚) thuộc Nữu Hỗ Lộc thị, là cháu thừa tự của Phong Thân Ân Đức và Cố Luân Hòa Hiếu công chúa.
- Tam nữ, gả cho Sơn Tuyền (山泉) thuộc Sách Xước Lạc thị, con trai Lễ bộ Thượng thư Cảnh Chiêu (景昭).
- Tứ nữ, gả cho Đề đốc Hiệp Hiền (協賢) thuộc Qua Nhĩ Giai thị.
- Ngũ nữ, tức Cung Túc Hoàng quý phi của Đồng Trị Đế.
- Lục nữ, gả cho tông thất Dịch Chiêu (奕昭), hậu duệ Di Thân vương Hoằng Hiểu.