Bước tới nội dung

Trương Mạn Ngọc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trương Mạn Ngọc
Trương Mạn Ngọc tại Liên hoan phim Quốc tế Thượng Hải 2007
Sinh20 tháng 9, 1964 (61 tuổi)
Hồng Kông thuộc Anh
Dân tộcHán
Tư cách công dânBản mẫu:HK
Trường lớpSt Edmund's School Canterbury
Đại học Edinburgh
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động
Chiều cao1,68 m (5 ft 6 in)
Phối ngẫu
Olivier Assayas
(cưới 1998 – ly dị 2001)
Giải thưởngDanh sách

Trương Mạn Ngọc (tiếng Trung: 張曼玉, tiếng Anh: Maggie Cheung Man-yuk, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1964) là một cựu nữ diễn viên người Hồng Kông.[1] Bà được xem là một trong những nữ diễn viên thành công và có tầm ảnh hưởng quốc tế nhất lịch sử điện ảnh Trung Quốc.[2] Trương Mạn Ngọc là nữ diễn viên người châu Á đầu tiên giành giải nữ diễn viên xuất sắc tại Liên hoan phim Cannes.[3] Bên cạnh đó, bà còn là người giữ kỷ lục về số lần được trao giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông (5 lần) và giải Kim Mã (5 lần), cùng với giải Kim Mã cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất năm 1990. Trên bình diện quốc tế, bà nổi tiếng với giải Gấu Bạc cho Center Stage (1991) và là nữ diễn viên châu Á duy nhất từng giành giải Nữ diễn viên chính tại hai trong ba liên hoan phim lớn của châu Âu.

Trương Mạn Ngọc bắt đầu nổi tiếng vào thập niên 1980, được biết đến rộng rãi thông qua loạt phim Câu chuyện cảnh sát hợp tác với Thành Long. Sau đó, bà nhanh chóng chuyển từ các vai hành động và hài thương mại sang các vai diễn chính kịch, tham gia các bộ phim như Vượng Giác Ca môn (1988), A Phi chính truyện (1990), Irma Vep (1996) và Điềm mật mật (1996). Bước đột phá quốc tế của bà đến từ bộ phim Tâm trạng khi yêu (2000) của Vương Gia Vệ, tác phẩm không chỉ mang lại danh tiếng toàn cầu mà còn nhận được sự tán dương rộng rãi, xếp thứ năm trong danh sách 100 phim vĩ đại nhất lịch sử điện ảnh do tạp chí Sight & Sound công bố năm 2022.[4] Trang Entertainment Weekly từng đưa danh sách “51 màn trình diễn kinh điển bị Oscar bỏ qua” trong lịch sử 86 năm của giải thưởng này, và vai diễn của cô trong Tâm trạng khi yêu là một trong hai màn trình diễn châu Á xuất hiện trong danh sách.[5]

Từ cuối thập niên 2000, Trương Mạn Ngọc dần rút lui khỏi diễn xuất, chỉ thỉnh thoảng xuất hiện tại các liên hoan phim, sự kiện thời trang và các buổi lễ trong ngành công nghiệp điện ảnh. Bên cạnh diễn xuất, bà tham gia một số hoạt động sáng tạo và từ thiện có chọn lọc, bao gồm vai trò đại sứ của UNICEF.

Tiểu sử

Trương Mạn Ngọc sinh tại Hồng Kông trong một gia đình thương gia gốc Thượng Hải. Do gia đình chuyển sang Anh Quốc sinh sống nên thời thơ ấu và niên thiếu của bà trải qua ở nước ngoài.

Năm 1983, Trương Mạn Ngọc trở về Hồng Kông tham gia cuộc thi Hoa hậu Hồng Kông của hãng truyền hình TVB và được trao ngôi Á hậu 1. Sau đó, bà đại diện cho Hồng Kông tại cuộc thi Hoa hậu Thế giới 1983 và dừng chân ở Top 15. Danh hiệu sắc đẹp đã mở ra con đường cho Trương Mạn Ngọc đến với nghệ thuật, bà bắt đầu tham gia các bộ phim truyền hình của hãng TVB, trong đó phải kể tới bộ Tân trát sư huynh (新紮師兄, 1984) đóng cùng Lương Triều VĩLưu Gia Linh.

Trương Mạn Ngọc đóng phim điện ảnh từ năm 1984 và chỉ một năm sau đó bà đã có vai diễn ấn tượng trong phim Câu chuyện cảnh sát (1985), đó là vai A Mỹ, bạn gái của cảnh sát Trần Gia Câu do Thành Long thủ vai. Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp điện ảnh, vai diễn của bà trong các bộ phim thường chỉ là các cô gái xinh đẹp và không đòi hỏi cao về kỹ năng diễn xuất. Năm 1988, Trương Mạn Ngọc thực sự chứng tỏ khả năng diễn xuất của bà với vai diễn đột phá trong phim Vượng Giác Ca môn (1988), một tác phẩm của đạo diễn Vương Gia Vệ. Bà được đề cử giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông và cũng đánh dấu sự cộng tác lâu dài và thành công giữa bà và đạo diễn Vương Gia Vệ.

Sau thành công nghệ thuật đầu tay này, Trương Mạn Ngọc tiếp tục tham gia những bộ phim nghệ thuật và trở thành ngôi sao của điện ảnh Hồng Kông qua các bộ phim có doanh thu cao như Đông phương tam hiệp (1993) hay những phim được giới phê bình đánh giá cao như Đông Tà Tây Độc (1994) và Điềm mật mật (1996).

Sau những thành công với điện ảnh Hồng Kông, Trương tham gia bộ phim nước ngoài đầu tiên vào năm 1996, bộ phim Pháp Irma Vep của đạo diễn Olivier Assayas. Hai người sau đó đã kết hôn năm 1998 và chia tay nhau năm 2001. Năm 2004, Trương Mạn Ngọc và Assayas hợp tác trở lại trong bộ phim Clean, tác phẩm này giúp bà trở thành nữ diễn viên người châu Á đầu tiên giành giải Nữ diễn viên xuất sắc (Prix d'interprétation féminine).

Kể từ năm 2000, Trương Mạn Ngọc tham gia rất ít phim, tuy nhiên hầu như phim nào bà cũng được đánh giá cao. Ngoài vai Vương Nhã Vi trong Clean, Trương còn được đánh giá cao về diễn xuất trong bộ phim của đạo diễn Vương Gia Vệ là Tâm trạng khi yêu (2000), cũng như vai diễn của trong phim Anh hùng (2002) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu. Từ sau năm 2004, bà đã tạm ngừng sự nghiệp cho đến khi trở lại con đường diễn xuất vào năm 2009, rồi sau đó bà giải nghệ vào năm 2013.[1]

Sự nghiệp

1984–1987: Khởi đầu sự nghiệp

Ngay sau khi ra mắt, Trương Mạn Ngọc bắt đầu bước vào ngành điện ảnh khi tham gia bộ phim hài Thanh oa vương tử (1984), tác phẩm đạt thành công phòng vé. Diễn xuất nổi bật của bà đã thu hút sự chú ý của Thành Long, người sau đó chọn bà vào vai May - bạn gái chịu nhiều thiệt thòi, trong bộ phim Câu chuyện cảnh sát (1985). Bộ phim đạt thành công lớn, đưa Trương Mạn Ngọc trở thành ngôi sao chỉ sau một đêm và củng cố mức độ nổi tiếng của bà trên khắp châu Á.[6][7]

1988–1994: Đột phá

Dù đã đạt được thành công, Ngọc nhận thấy mình bị đóng khung vào các vai hài hoặc những nhân vật yếu đuối, vụng về. Nhận ra điều này, bà muốn thoát khỏi hình tượng cũ bằng cách tìm kiếm những vai diễn mang tính chính kịch hơn. Cơ hội đến khi Vương Gia Vệ chọn bà vào Vượng Giác Ca môn (1988), bộ phim đầu tiên trong nhiều lần hợp tác giữa hai người.[6][7]

Trương Mạn Ngọc tại Berlin International Film Festival 1992

Trương mạn Ngọc thường xem bộ phim này là tác phẩm đánh dấu sự khởi đầu thực sự của sự nghiệp diễn xuất nghiêm túc, và bà đã nhận được nhiều lời khen từ giới phê bình. Trong giai đoạn 1989-1990, bà giành giải Nữ diễn viên chính xuất sắc tại Giải Kim MãGiải Kim Tượng cho các vai diễn trong Full Moon in New YorkA Fishy Story. Rolling Red Dust mang về cho bà giải Nữ diễn viên phụ xuất sắc tại Kim Mã.

Năm 1992, bà trở thành nghệ sĩ Trung Quốc đầu tiên giành giải Nữ diễn viên chính tại Liên hoan phim Berlin danh giá với vai diễn trong Center Stage (1991). Đây được xem là một cột mốc mang tính lịch sử đối với điện ảnh Trung Quốc trong các hạng mục diễn xuất.[8] Với bộ phim này, Maggie Cheung tiếp tục giành thêm giải Nữ diễn viên chính tại Giải Kim Mã Đài Loan, Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông, cùng nhiều giải thưởng khác. Sau đó, Cheung chứng minh sự đa dạng trong diễn xuất qua các vai trong phim hành động. Vai diễn của bà trong tác phẩm võ hiệp – khoa học viễn tưởng The Heroic Trio (1992) và phần tiếp theo Executioners (1993) gây ấn tượng với cả giới phê bình lẫn khán giả nhờ khả năng thể hiện các cảnh hành động và võ thuật.[6] Cũng trong giai đoạn này, bà đảm nhận vai phản diện quyến rũ nhưng tàn nhẫn trong New Dragon Gate Inn (1992),[7] Trong Green Snake (1993), bà vào vai một yêu xà hóa thân thành người, vừa thiện vừa ác, khao khát cảm xúc của con người nhưng cũng hoang mang trước chính những cảm xúc đó. Đến Ashes of Time (1994) của Vương Gia Vệ, bà thể hiện một dạng “diễn xuất tĩnh”, gần như gánh vác linh hồn của nhân vật: không cần các xung đột kịch tính rõ rệt, bà truyền tải sự xáo động nội tâm thông qua ánh mắt, cử chỉ và sự im lặng.[9]

Giải thưởng

Giải Thưởng Năm Hạng Mục Tác Phẩm Đề Cử Kết Quả
Liên hoan phim Berlin 1992 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Nguyễn Linh Ngọc Đoạt giải
Liên hoan phim Châu Á - Thái Bình Dương 1997 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Điềm mật mật Đoạt giải
Liên hoan phim Durban 2001 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Tâm trạng khi yêu Đoạt giải
Liên hoan phim Chicago 1992 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Nguyễn Linh Ngọc Đoạt giải
Hiệp hội phê bình phim Hồng Kông 1996 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Điềm mật mật Đoạt giải
Hiệp hội phê bình phim Châu Á 2001 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Tâm trạng khi yêu Đoạt giải
Giải Kim Mã 1989 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Người New York Đoạt giải
1990 Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Cổn cổn hồng trần Đoạt giải
1991 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Nguyễn Linh Ngọc Đoạt giải
1997 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Điềm mật mật Đoạt giải
2000 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Tâm trạng khi yêu Đoạt giải
Giải Kim Tượng 1989 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Vượng Giác Ca môn Đề cử
1990 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Bất thoái miệt đích nhân Đoạt giải
Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Ái tại biệt hương đích quý tiết Đề cử
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Cổn cổn hồng trần Đề cử
1992 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Tân Long Môn khách sạn Đề cử
1993 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Nguyễn Linh Ngọc Đoạt giải
1997 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Điềm mật mật Đoạt giải
1998 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Ba chị em họ Tống Đoạt giải
2001 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Tâm trạng khi yêu Đoạt giải
2002 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Anh hùng Đề cử
Giải Kim Tử Kinh 1997 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Điềm mật mật Đoạt giải
  • Năm 2005, trong cuộc bình chọn nhân kỷ niệm 100 năm nền điện ảnh Trung Hoa, bà đã được bình chọn là "Nữ diễn viên Trung Quốc được yêu thích nhất", cùng với Trương Quốc Vinh ở hạng mục "Nam diễn viên Trung Quốc được yêu thích nhất".
  • Liên hoan phim quốc tế Hawaii
    • Giải thưởng Thành tựu trong diễn xuất (2004)
  • Liên hoan phim thế giới Montreal lần thứ 29
    • Giải đặc biệt cho các đóng góp cho nghệ thuật điện ảnh (2005)
  • Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải lần thứ 10
    • Giải thưởng đóng góp xuất sắc cho điện ảnh Trung Quốc (2007)

Phim đã tham gia

Ngôi sao của Trương Mạn Ngọc trên Đại lộ Ngôi sao, Hồng Kông.

Truyền hình

Năm Tên phim Chữ Hán
1984 Họa xuất hải hồng 畫出彩虹
Tân trát sư huynh 新紮師兄
1985 Võ lâm thế gia 武林世家
Sách đáng phách đáng 拆擋拍擋
Dương gia tướng 楊家將

Điện ảnh

Năm Tên phim Chữ Hán
1984 Thanh oa vương tử 青蛙王子
Duyên phận 緣份
1985 Ma đăng tiên lý kỳ duyên 摩登仙履奇緣
Câu chuyện cảnh sát 警察故事
Thánh đản kỳ ngộ kết lương duyên 聖誕奇遇結良緣
1986 Mân côi đích cố sự 玫瑰的故事
Khai tâm quỷ chàng quỷ 開心鬼撞鬼
Nguyên Chấn Hiệp và Vệ Tư Lý 原振俠與衛斯理
1987 Thiên tứ lương duyên 天賜良緣
Tâm khiêu nhất bách 心跳一百
Tinh trang truy nữ tử 精裝追女仔
Kế hoạch A phần II A計劃續集
1988 Ứng triệu nữ lang 應召女郎
Ái đích đào binh 愛的逃兵
Góa phụ tân nương 過埠新娘
Song phì lâm môn 雙肥臨門
Vượng Giác Ca môn 旺角卡門
Nam Bắc mụ đả 南北媽打
Nguyệt lượng tinh tinh thái dương 月亮星星太陽
Cầu ái cảm tử đội 求愛敢死隊
Câu chuyện cảnh sát 2 警察故事續集
Phì miêu lưu lãng ký 肥貓流浪記
Hoàng sắc cố sự 黃色故事
Lưu kim tuế nguyệt 流金歲月
1989 Tiểu tiểu tiểu cảnh sát 小小小警察
Bất thoái miệt đích nhân 不脫襪的人
Thiếu nữ tâm 少女心
Tái kiến Vương Lão Ngũ 再見王老五
Ngã yếu phú quý 我要富貴
Cầu ái dạ kinh hồn 求愛夜驚魂
Cấp đồng kỳ hiệp 急凍奇俠
Thần dũng song muội 神勇雙妹嘜
1990 Người New York 人在紐約
Tam nhân tân Thế giới 三人新世界
Khách đồ thu hận 客途秋恨
Hồng trường phi long 紅場飛龍
Ái tại biệt hương đích quý tiết 愛在別鄉的季節
Cổn cổn hồng trần 滾滾紅塵
1991 A Phi chính truyện 阿飛正傳
Chí tại xuất vị 志在出位
Hào môn dạ yến 豪門夜宴
Phú quý cát tường 富貴吉祥
Hắc tuyết 黑雪
Song thành cố sự 雙城故事
Nguyễn Linh Ngọc 阮玲玉
1992 Lưỡng cá nữ nhân, nhất cá tịnh, nhất cá ngô tịnh 兩個女人,一個靚,一個唔靚
Bạch mân côi 白玫瑰
Chuyện hỉ trong nhà 家有喜事
Chân đích ái 真的愛妳
Tân Long Môn khách sạn 新龍門客棧
Anh hùng thứ thiệt 嘩! 英雄
Chiến thần truyền thuyết 戰神傳說
Song long hội 雙龍會
Câu chuyện cảnh sát 3: Siêu cảnh sát 警察故事3: 超級警察
1993 Thiên diện thiên vương 千面天王
Xích cước tiểu tử 赤腳小子
Đông phương tam hiệp 東方三俠
Võ hiệp thất công chủ 武俠七公主
Thanh xà 青蛇
Phi việt mê tình 飛越謎情
Xạ điêu anh hùng truyện chi đông thành tây tựu 射鵰英雄傳之東成西就
Thần kinh đao dữ phi thiên miêu 神經刀與飛天貓
Truy nam tử 追男仔
Hiện đại hào hiệp truyện 現代豪俠傳
Liêm chính đệ nhất kích 廉政第一擊
Tế Công 濟公
1994 Tân đồng cư thời đại 新同居時代
Đông tà Tây độc 東邪西毒
1996 Điềm mật mật 甜蜜蜜
Irma Vep (phim Pháp) 女飛賊再現江湖
1997 Ba chị em họ Tống

Three Soong Sisters

宋家皇朝
1998 Chiếc hộp Trung Hoa (phim Mỹ) 中國匣
2000 Nhất kiến chung tình 一見鍾情
Augustin, roi du Kung-fu (phim Pháp) 愛在異鄉的故事
Tâm trạng khi yêu 花樣年華
2002 Anh hùng 英雄
2004 2046 2046
Clean 錯過又如何
2008 Đông Tà Tây Độc, cát bụi thời gian

Ashes of Time Redux

東邪西毒(终极版)
2009 Định mệnh

Inglourious Basterds

惡棍特工
2010 Tòa thành nhiệt luyến

Hot Summer Days

全城热恋
2015 Playtime 游戏时间

Tham khảo

  1. ^ a ă "Trang web của báo The Independent". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2007.
  2. ^ "Vietnamnet". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2007.
  3. ^ "Maggie Cheung wins Cannes Best Actress award". Chinadaily.
  4. ^ "Sight and Sound's Greatest Films of All Time 2022". letterboxd.com (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2026.
  5. ^ "The 54 all-time greatest acting performances… that Oscar ignored". EW.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2026.
  6. ^ a ă â "Hong Kong Actress Maggie Cheung". China.org.cn. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017.
  7. ^ a ă â "Maggie Cheung: A Multi Award-Winning Actress from Hong Kong". Women of China. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017.
  8. ^ Rockwell, John (ngày 25 tháng 2 năm 1992). "'Grand Canyon' Wins The First Prize At Berlin Festival". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2026.
  9. ^ ""I'm proud of being me": Maggie Cheung, from As Tears Go By to Irma Vep". BFI. ngày 3 tháng 9 năm 2024.

Liên kết ngoài