Vịnh Long Island
Vịnh Long Island là vịnh biển và cửa sông thuộc Đại Tây Dương, nằm giữa tiểu bang Connecticut ở phía bắc và Long Island (New York) ở phía nam. Vịnh kéo dài 110 dặm (180 km) từ sông East và cầu Throgs Neck thuộc thành phố New York về phía đông đến vịnh Block Island. Nơi đây cũng là một phần của tuyến đường thủy nội địa.

Vịnh Long Island, nơi hòa trộn giữa nước ngọt từ các sông và nước biển Đại Tây Dương, rộng tối đa 34 km và sâu từ 20 đến 70 m.
Các thành phố ven biển
Các thành phố lớn của Connecticut dọc theo vịnh gồm Stamford, Norwalk, Bridgeport, New Haven và New London. Phía bờ New York có Rye, Glen Cove, New Rochelle, North Hempstead, Oyster Bay, Smithtown, Port Jefferson, Brookhaven, Riverhead, Larchmont, Mamaroneck, cùng một phần quận Queens và Bronx thuộc thành phố New York.
Khí hậu và địa lý
Vịnh Long Island có khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Cfa). Mùa hè tại đây nóng ẩm, thường xuất hiện mưa rào và nắng gắt; mùa đông lạnh giá, thường xuyên có mưa và tuyết rơi.
Lịch sử băng hà
Khoảng 18.000 năm trước, dải băng Wisconsin muộn dày từ 400 đến 1.000 m đã bao phủ toàn bộ Connecticut và đảo Long Island. Đây là thời kỳ băng hà gần nhất trong chuỗi băng hà kéo dài 10 triệu năm qua tại khu vực này. Do lượng nước lớn bị đóng băng, mực nước biển thời kỳ đó thấp hơn hiện nay khoảng 100 m.[2]
Băng hà lục địa từng bào mòn trung bình 20 m vật chất bề mặt từ New England, rồi lắng đọng lượng trầm tích này từ bờ biển Connecticut xuống eo biển, hình thành nên Long Island ngày nay dưới dạng các đống băng tích cuối cùng. Khi băng hà ngừng tiến vào khoảng 18.000 năm trước do lượng tuyết tích tụ cân bằng với lượng tuyết tan ở rìa phía nam, khối lượng lớn trầm tích để lại đã tạo nên Đống băng tích Ronkonkoma chạy dọc phía nam Long Island. Tiếp sau đó, một giai đoạn cân bằng khác hình thành nên Đống băng tích Harbor Hill dọc theo phía bắc hòn đảo. Các đống băng tích thoái lui tiếp theo ở phía bắc, nằm ngay trên và ngoài khơi bờ biển Connecticut, có quy mô nhỏ hơn và không liên tục do kết quả từ những trạng thái cân bằng ngắn hơn. Chúng được chia thành hai nhóm chính là khu vực Norwalk và khu vực Madison - Old Saybrook. Cuối cùng, sự xói mòn và tái lắng đọng của các đống đá vụn này đã tạo ra các đồng bằng cát và bãi biển; trong khi ở phía đông mỗi khu vực, nơi lớp trầm tích mỏng nhất, đá gốc lộ ra ngoài tạo thành các mũi đá có đầm lầy phía sau.[2]
Các đảo ngoài khơi Connecticut có sự khác biệt rõ rệt về cấu trúc địa chất. Quần đảo Captain, quần đảo Norwalk và đảo Falkner là một phần của đồi băng tích thoái trào, trong khi quần đảo Thimble phần lớn là đá gốc lộ thiên với lớp trầm tích mỏng. Những bãi cạn và đảo khác tại khu vực này mang đặc điểm kết hợp giữa hai dạng trên. Ngoài ra, quá trình tan băng cổ đại đã hình thành các đồng bằng bồi tích cát ngoài khơi Bridgeport và New Haven, đồng thời tạo nên đảo Fishers thuộc đồi băng tích Harbor Hill. Phía đông quần đảo Thimble, dọc theo đường bờ biển, hệ thống đồi băng tích nội địa còn bao gồm đồi băng tích Madison và đồi băng tích Old Saybrook.[2]
Trước khi bị sông băng bao phủ, lưu vực vịnh Long Island có thể đã được hình thành bởi các dòng suối. Sau đó, dòng nước tan chảy từ sông băng đã tích tụ một lớp cát sỏi dày (trầm tích bồi tích) và tạo ra hồ nước ngọt Connecticut trong lưu vực này. Ở phía tây, lưu vực được giới hạn bởi sống núi Mattatuck Sill nằm sâu khoảng 20 m dưới mực nước biển hiện tại, với điểm thấp nhất khoảng 24 m. Khoảng 8.000 năm trước, khi mực nước biển dâng cao vượt qua độ sâu 24 m này, nước biển đã tràn vào, biến hồ nước ngọt thành một nhánh biển mặn chịu ảnh hưởng của thủy triều như ngày nay.[2]
Sông
Nhiều con sông đổ ra vịnh, bao gồm:
Connecticut
- Sông Connecticut - Old Saybrook
- Sông Housatonic - Stratford & Milford
- Sông Mianus - Greenwich
- Sông Mill (Connecticut) - New Haven
- Sông Mill (Fairfield) - Fairfield
- Sông Norwalk - Norwalk
- Sông Pequonnock - Bridgeport
- Sông Quinnipiac - New Haven
- Sông Rooster/Ash Creek - Bridgeport & Fairfield
- Sông Rippowam - Stamford
- Sông Saugatuck - Westport
- Sông Thames (Connecticut) - Groton & New London
- Sông West (Connecticut) - West Haven
New York
- Sông Byram - Port Chester
- Sông Hutchinson-The Bronx
- Sông Mamaroneck - Mamaroneck
- Sông Nissequogue - Nissequogue & Ft Salonga
Rhode Island
Thống kê dân số lưu vực
| Lịch sử dân số | |||
|---|---|---|---|
| Thống kê dân số |
Số dân | %± | |
| 1800 | 567.470 | — | |
| 1850 | 1.000.660 | — | |
| 1900 | 2.442.150 | — | |
| 1950 | 6.021.880 | — | |
| 1970 | 8.037.310 | — | |
| 1980 | 7.799.300 | −3,0% | |
| 2000 | 8.626.920 | — | |
| 2010 | 8.934.094 | 3,6% | |
| số lưu vực sông Long Island (dữ liệu lấy từ Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ) | |||
Dân số toàn lưu vực sông là khoảng 8,93 triệu người theo điều tra dân số năm 2010.[3] Do phạm vi của sông Connecticut, nhiều thành phố và thị trấn ven sông nằm trong lưu vực vịnh Long Island. Các thị trấn và thành phố lớn nhất từ nam lên bắc, từ tây sang đông là:[4]
New York
- Huntington
- Oyster Bay
- Smithtown
- Một số khu vực thuộc các quận của thành phố New York:
- Port Chester
- Rye
Connecticut
Rhode Island
Massachusetts
Vermont
New Hampshire
Động thực vật
Hệ thực vật
Rong biển
Rong biển trong vịnh thường mọc nhiều ở vùng đá triều và đá đáy biển. Sự phát triển của rong biển xanh thay đổi rõ rệt theo mùa: Monostroma sinh sản đầu xuân và tàn vào cuối hè, còn Grinnellia chỉ xuất hiện từ tháng 8 rồi biến mất sau hơn một tháng.[5]
Ở vùng triều đá, các loại rong nâu như Fucus và Ascophyllum có bong bóng khí giúp chúng nổi để hấp thụ ánh sáng khi thủy triều dâng. Nơi đây cũng có rong nâu Ectocarpus cùng các loài tảo đỏ như Polysiphonia, Neosiphonia, Porphyra và Chondrus (rêu Ireland).[5]
Ở vùng đầm lầy thủy triều, bạn có thể tìm thấy tóc nàng tiên cá (Cladophora), rau diếp biển (Ulva) và Codium.[5]
Trong vùng cận triều dưới mực nước thấp, tảo đỏ Palmaria palmata cùng hai loại tảo bẹ Laminaria và Chorda sinh sống phổ biến. Tảo bẹ thường dạt vào bờ biển với chiều dài mỗi cá thể từ một đến hai mét. Xuống sâu hơn là địa phận của các loài tảo đỏ trôi nổi tự do như Spermothamnion, Antithamnion và Callithamnion.[5]
Trong các vũng thủy triều, tảo đỏ Phymatolithon (màu đỏ hoặc hồng) thường bám chặt vào đá và vỏ sò. Nơi đây cũng có các loại tảo xanh như Ulothrix, Cladophora và Ulva.[5]
Thực vật đầm lầy vùng triều
Các đầm lầy thủy triều dọc theo vịnh là một trong những hệ sinh thái năng suất nhất thế giới. Hằng năm, chúng tạo ra từ ba đến bảy tấn cỏ muối trên mỗi mẫu Anh. Lượng thực vật phân hủy này sau đó được cuốn vào nước cửa sông, trực tiếp nuôi dưỡng và làm phong phú nguồn cá cùng động vật có vỏ tại đây.[5]
Thực vật đầm lầy nước mặn
Các đầm lầy nước mặn có sự phân hóa thực vật rõ rệt theo mực nước triều. Ở các rãnh và rìa ven biển thường xuyên ngập triều hàng ngày, cỏ lau nước mặn (Spartina alterniflora) sinh trưởng mạnh mẽ. Ngược lại, khu vực ít ngập hơn phía sâu trong đất liền là nơi phát triển của cỏ lau đồng cỏ mặn (Spartina patens) và cỏ gai (Distichlis spicata). Riêng tại các vùng trũng cao, nơi nước biển bốc hơi để lại độ mặn cực kỳ cao, vẫn có thể bắt gặp một dạng biến thể lùn của cỏ lau nước mặn thích nghi và tồn tại.[5]
Các loài thực vật khác ở đầm lầy gồm oải hương biển, cúc đầm lầy, gerardia ven biển và vài loài glasswort. Riêng vùng giáp ranh đất cao có bayberry, groundsel-tree, cỏ switchgrass (chỉ ngập khi bão), lau sậy và elder đầm lầy.
Đầm lầy lau sậy
Các đầm lầy lau sậy thay thế đầm lầy nước mặn ở nơi nước vịnh pha loãng nhiều với nước ngọt từ sông, như dọc bờ các cửa sông lớn gồm sông Connecticut. Nơi đây có nhiều loại cỏ như lúa hoang và các loài cói bao gồm cả cây sậy.
Đồng cỏ lươn
Cỏ lươn (cỏ lươn nước mặn) là một trong số ít thực vật có mạch sống ở môi trường biển, thường mọc thành các đồng cỏ lớn tại vùng nước nông, lợ hoặc mặn của vịnh Long Island. Dù không phải cỏ thật, loài cây này có rễ giúp giữ cát, ổn định trầm tích chống xói mòn, và có lá dài giúp làm chậm dòng chảy để tạo nơi trú ẩn cho động vật không xương sống, đồng thời là nguồn thức ăn cho chim nước như ngỗng brant. Thập niên 1930, dịch bệnh suy giảm cỏ lươn do nấm mốc đã tàn phá phần lớn loài thực vật này tại đây, kéo theo sự suy giảm nghiêm trọng của các quần thể động vật hoang dã. Sau đó, trong khi bờ biển Connecticut ghi nhận sự phục hồi chậm, bờ bắc Long Island lại gặp khó khăn và phải thực hiện các nỗ lực trồng tái canh ở Quận Suffolk. Dù vậy, vịnh Long Island khó có thể phục hồi hoàn toàn do các đợt dịch bệnh vẫn thỉnh thoảng bùng phát trở lại.[5]
Thực vật vùng cát biển và cồn cát
Hệ thống bãi biển và cồn cát nguyên vẹn tại Connecticut hiện rất hiếm, chủ yếu còn lại ở phía đông sông Connecticut. Tại đây, cỏ cồn cát và các loài thực vật thích nghi tốt đóng vai trò cốt lõi giúp hình thành, ổn định cồn cát. Phía hướng biển chịu nhiều sóng gió là nơi sinh trưởng của đậu biển,[6] Dusty Miller,[7] cây hoàng kim ven biển, cùng các loài như orache, cây bụi biển, cây spurge và cà độc dược. Ngược lại, phía đất liền khuất gió được che chở tốt hơn, tạo điều kiện cho mận biển, dâu tây, hoa hồng biển phát triển, cùng một số loài quý hiếm như cốt khí biển và thạch nam giả cát.
Thảm thực vật vùng cao
Dù gần như không bao giờ bị nhiễm mặn, môi trường vùng vịnh vẫn ảnh hưởng lớn đến sự phân bố của nhiều loài sinh vật gần bờ biển Connecticut. Nhờ có vịnh điều hòa khí hậu, giúp kéo dài mùa sinh trưởng và giảm bớt sự khắc nghiệt của mùa đông so với vùng nội địa, nơi đây trở thành giới hạn phía bắc cho các loài ưa ấm như cây bạch đàn (chỉ xuất hiện ở vùng cực tây nam tiểu bang), cây ô rô Mỹ, cây sồi và cây hồng. Đồng thời, dải bờ biển này cũng là giới hạn cực bắc cho nhiều loài cây quen sinh trưởng trên đất cát.[5]
Thảm thực vật vùng cao ven biển Connecticut chủ yếu là rừng gỗ cứng thưa thớt do lộng gió. Các loài cây ưu thế gồm sồi trắng, sồi đen, óc chó pignut và óc chó mockernut, bên cạnh sassafras, black gum và anh đào đen. Do tán cây thưa, ánh sáng mặt trời lọt xuống nhiều giúp các loài dây leo như catbriar, thường xuân độc, bụi gai, bittersweet cùng cây bụi như việt quất, huckleberry, viburnum và phỉ phát triển rậm rạp.[5]
Bên cạnh khí hậu ôn hòa, các cơn bão nhiệt đới ảnh hưởng lớn đến thảm thực vật tại vịnh. Điển hình trong thế kỷ trước là các trận bão năm 1938, 1955, Belle (1976), Gloria (1985), cùng các cơn bão Irene (2011) và Sandy (2012) ở thế kỷ này. Sau bão Belle, muối biển làm lá cây sát bờ bị cháy khô, chuyển nâu và héo rũ. Giông bão cũng quật đổ nhiều cây lớn, tạo ra những khoảng trống trong rừng và kích thích dây leo cùng cây bụi phát triển mạnh mẽ.[5]
Động vật
Cá
Vịnh này có cả cá biển và cá di cư (sống ở đại dương hoặc cửa sông và đẻ trứng tại sông suối ngọt, xem sự di cư của cá)[8]
Các loài cá biển phổ biến ở vùng biển này gồm cá tráp, cá bơ, các loại cá bơn (mùa đông, mùa hè, vảy kính, bốn chấm), cá rô biển phương Bắc và sọc, cá đuối nhỏ, cá mòi, cá trích Đại Tây Dương, cá mú đen, cá đen, cá cunner, cá thu xanh và cá mập chó trơn. Cá ngừ vằn và cá ngừ vây dài giả cũng thường xuyên vào đây và có thể câu được từ bờ hoặc thuyền nhỏ. Tuy nhiên, do đánh bắt quá mức kéo dài nhiều thập kỷ qua, nhiều loài đã suy giảm nghiêm trọng; cá bơn mùa đông hiện chỉ còn những quần thể nhỏ, hiếm hoi, trong khi cá đen và cá bơn mùa hè cũng ít xuất hiện hơn trước. Vùng biển này còn đón nhận các loài di cư như cá mú sọc, cá rô trắng, cá trích Mỹ, cá trích hickory, alewife và lưng xanh. Về cá mập, dù thỉnh thoảng có các loài như cá mập xanh, mako, đầu búa hay đuôi dài ghé qua, nhưng chỉ có bốn loài thường xuyên trú ngụ tại đây là cá mập hổ cát, cá mập cát, cá mập gai và cá mập trơn.[8]
Động vật thân mềm
Các loài động vật thân mềm (chân bụng và hai mảnh vỏ) có thể tìm thấy gồm: ốc gai gần đường triều cao, ốc biển châu Âu, ốc vàng phương bắc, trai xanh, hàu Mỹ, sò dép Đại Tây Dương, nghêu cứng (nghêu quahog), sò điệp vịnh Đại Tây Dương, ốc bùn phương đông, ốc đầm lầy muối, ốc khoan hàu Đại Tây Dương, ốc mặt trăng phương bắc, ốc mặt trăng Đại Tây Dương, ốc có rãnh và ốc có núm.[9]
Động vật giáp xác
Vịnh này có hệ giáp xác đa dạng, nổi bật là các loài cua. Tại vùng nước nông ven bờ đá, như Mũi Millstone, Vịnh Niantic và Vịnh Fishers Island, cua đá Đại Tây Dương định cư với số lượng rất lớn. Vùng nước sâu hơn là địa bàn của cua Jonah, cua đỏ và cua xanh lam. Nơi đây cũng ghi nhận nhiều loài ngoại lai và xâm lấn: cua xanh (phát hiện lần đầu ở Boston năm 1900, chuyên săn nghêu vỏ mềm và hàu phương Đông) và đặc biệt là cua bờ biển Nhật Bản, loài đã trở thành nhóm cua phổ biến nhất tại vịnh từ cuối thập niên 1980. Ngoài ra, khu vực còn có cua cái, cua nhện, cua càng, cua ẩn sĩ, cua đất và tôm, tôm hùm.[10]
Tôm cát và hai loài tôm cỏ xuất hiện nhiều dọc bờ biển vào cuối hè và mùa thu, còn tôm hùm Mỹ được khai thác thương mại.[10]
Động vật có vú, bò sát và lưỡng cư
Phần lớn động vật ở ven vịnh phía Connecticut cũng có mặt trong đất liền, nhưng một số loài tập trung đông đúc hơn hẳn tại các đầm lầy nước mặn ven bờ. Nổi bật là hai loài chuột chù mặt nạ và chuột chù đuôi ngắn Mỹ, cùng một lượng nhỏ chuột chù nhỏ nhất ở phía tây. Các loài gặm nhấm tại đây rất đa dạng, bao gồm chuột chân trắng, chuột nhảy đồng và phổ biến nhất là chuột đồng. Dù bị săn bắt nhiều, chuột xạ hương vẫn duy trì được số lượng lớn. Ngoài ra, các vùng đầm lầy này còn là nơi kiếm ăn thường xuyên của gấu mèo, cáo đỏ, cùng chồn đuôi dài và chồn đuôi ngắn.
Tại vùng biển phía đông Long Island, người ta thỉnh thoảng có thể bắt gặp cá heo, cùng với hải cẩu cảng và hải cẩu xám thường xuất hiện trên các bãi đá ngoài khơi Stonington và Groton. Xa hơn ngoài khơi, cá heo cảng và cá voi hoa tiêu vây dài cũng đôi khi xuất hiện. Đặc biệt, vào năm 1975, một con cá voi lưng vây từng bị mắc cạn tại bờ biển Groton.[11]
Nhiều loài động vật cần môi trường rừng ẩm ven biển để sinh tồn, tiêu biểu là rùa mai kim cương là loài sống ở đầm lầy nước mặn, vùng nước lợ và thường đẻ trứng trên các bãi cát lân cận. Đầu những năm 1900, thịt của loài rùa này trở thành món đặc sản đắt đỏ với giá lên tới 120 USD một tá rùa cái trưởng thành. Sự săn bắt ráo riết này đã khiến chúng suy giảm nghiêm trọng, thậm chí tuyệt chủng cục bộ ở nhiều nơi. May mắn thay, khi nhu cầu ẩm thực này thoái trào, quần thể rùa mai kim cương đã dần phục hồi trở lại.[11]
Rùa biển đôi khi theo dòng Gulf Stream dạt vào các vịnh. Do đó, người ta thỉnh thoảng bắt gặp rùa đầu to, rùa xanh và rùa da dọc bờ biển Connecticut.[11]
Dọc theo rìa đầm lầy nước mặn và các vùng nước lân cận là nơi sinh sống của nhiều loài bò sát và lưỡng cư như ếch xanh, ếch bò, ếch chó, rùa đốm, rùa vẽ, rắn nước phương bắc và rùa ngoạm thông thường. Trong khi đó, các bãi biển và vùng đất cát lại là địa bàn ưa thích của cóc Fowler, cóc Mỹ và rắn mũi lợn là loài chuyên săn mồi cóc Fowler.[11]
Chim
Các môi trường sống của chim tại vịnh Long Island gồm: nước mở, đầm lầy thủy triều, bãi bùn, bãi cát, đảo ngoài khơi và vùng cao nguyên (rừng, đồng ruộng).[12] Tùy theo mùa, các loài chim tại đây được chia thành bốn nhóm: cư trú quanh năm (mòng biển cá trích, mòng biển lưng đen lớn, nhạn thường, chim cốc mào kép); di cư theo mùa (chim choi choi, chim choi choi đá, chim dẽ cát, chim mỏ dài, chim chân vàng);[12] cư trú mùa hè (chim ưng biển, chim sẻ biển, chim sẻ đầm lầy, chim gà nước, vịt trời, vịt đen, cò, diệc đêm mào đen, diệc tuyết, chim nhạn nhỏ, chim choi choi mỏ dài); và chim vùng cao (chim chích vàng, chim vireo mắt đỏ, chim sáo cánh đỏ, chim wren Carolina).[12]
Vào những năm 1970, vịnh West Haven tại Connecticut là nơi trú đông của nhiều đàn chim lớn, nổi bật là khoảng 8.000 con vịt lặn (vịt mỏ rộng). Bên cạnh các loài phong phú như vịt đen, vịt trời và ngỗng Canada, nơi đây còn ghi nhận số lượng đáng kể vịt mòng két ngực đỏ, vịt mắt vàng, vịt đầu trắng, vịt mòng két cánh trắng, vịt mỏ dẹt Mỹ, vịt đuôi dài và thiên nga câm. Một số loài khác cũng xuất hiện với số lượng ít hơn bao gồm vịt mòng két, vịt đuôi nhọn phương Bắc, vịt mòng két cánh xanh, vịt mỏ thìa phương Bắc, vịt đỏ, vịt đầu đỏ, vịt cổ khoang, ngỗng tuyết và ngỗng brant.[12]
Loài quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng
Các loài nguy cấp và đã tuyệt chủng ở vịnh này gồm cả cóc chân xẻng miền đông, loài lưỡng cư giống cóc cực hiếm chưa xuất hiện lại tại đây từ năm 1935. Chúng có màu be hoặc trắng nhạt với các vệt xanh lá và đốm cam nhỏ.
Hiện có khoảng 1.500 cá tầm mũi ngắn nguy cấp sinh sống tại sông Connecticut,[13][14] với gần 900 con ở hạ lưu đập Holyoke.[15] Loài này thường ở lại sông bản địa nhưng vẫn di cư kiếm ăn tại các vùng cửa sông như vịnh Long Island và di chuyển dọc bờ biển Đại Tây Dương, với nhiều cá thể gắn thẻ từng được ghi nhận xuất hiện tại các hệ thống sông khác nhau.
Lịch sử
Vịnh Long Island hình thành khi đê chắn của hồ băng Connecticut bị vỡ, khiến nước biển hòa vào nước ngọt. Trước thời kỳ thuộc địa, khoảng 10.000 đến 15.000 người bản địa đã sinh sống tại đây.[16] Năm 1614, nhà hàng hải người Hà Lan Adriaen Block trở thành người châu Âu đầu tiên ghi nhận sự tồn tại của eo biển này khi di chuyển từ sông East vào.[17] Thời thuộc địa, nơi đây từng được gọi là Vành đai Quỷ, còn các rạn san hô ngang qua eo biển có tên là Đá Bước của Quỷ, nguồn gốc tên gọi của Ngọn hải đăng Stepping Stones sau này.[18]
Khi Cách mạng Công nghiệp phát triển, vịnh Long Island được khai thác mạnh mẽ cho các hoạt động sản xuất, chế tạo như dệt may, mạ kim loại, đánh bắt cá và thu hoạch hàu,[16][19] điều vẫn để lại dấu vết đến ngày nay. Tuy nhiên, sự bùng nổ kinh tế và dân số từ giai đoạn này đã gây ô nhiễm nghiêm trọng.[19] Đến thập niên 1950 - 1960, Chính phủ Mỹ bắt đầu nhận thức rõ tác động tiêu cực của ô nhiễm đến chất lượng nước và sức khỏe người dân vùng ven vịnh. Sau khi Đạo luật Nước sạch liên bang ra đời năm 1972 nhằm bảo vệ nguồn nước toàn quốc, Cơ quan Bảo vệ Môi trường đã hợp tác với New York và Connecticut triển khai Nghiên cứu vịnh Long Island (LISS) vào năm 1985 để thực hiện các dự án làm sạch, phục hồi.[19] Kể từ đó, hai bang này liên tục thiết lập nhiều tiêu chuẩn về bảo tồn sinh cảnh, giám sát ô nhiễm và sức khỏe môi trường nhằm bảo vệ cửa sông này cho tương lai.[20]
Công dụng
Vận tải
Phà Bridgeport & Port Jefferson và Cross Sound kết nối Long Island với Connecticut qua vịnh Long Island, vận chuyển hành khách cùng các phương tiện giao thông.[21]
Câu cá
Vịnh Long Island từng có hoạt động đánh bắt hải sản thương mại và giải trí rất phát triển với nhiều loài như hàu, tôm hùm, sò điệp, cua xanh và các loại cá.[22] Tuy nhiên, thời gian qua, vùng phía tây vịnh này ngày càng suy giảm nghiêm trọng sinh vật biển. Trước thực trạng xuất hiện các vùng nước chết, ngành đánh bắt cá và tôm hùm đang thúc đẩy nỗ lực tìm kiếm nguyên nhân để khắc phục sự cố.[23]
Dù tôm hùm mắc bệnh lạ, hoạt động câu cá giải trí 10 năm qua vẫn khởi sắc nhờ khôi phục cá mòi (bunker), nguồn thức ăn chính của cá vược sọc và các loài cá tầng mặt.[24] Việc cấm đánh bắt cá mòi bị khai thác quá mức cuối thập niên 1990 đã giúp quần thể cá vược sọc tại vịnh Long Island tăng mạnh cả về chất và lượng.[24][25]
Phát triển thêm
Các cáp điện ngầm dưới vịnh Long Island, gồm tuyến Cross Sound từ New Haven đến Shoreham và tuyến cũ từ Rye đến Oyster Bay,[26] từng gây tranh cãi[27] về mức độ an toàn đối với hệ sinh thái biển. Tuy nhiên, các giải pháp như bọc thép bảo vệ quy mô lớn đã giúp giảm thiểu tác động tiêu cực, đồng thời hỗ trợ quá trình tái tạo môi trường sinh thái tại đây.[28]
Nhiều đề xuất xây dựng cầu và đường hầm (kết hợp đường bộ và đường sắt)[29] băng qua vịnh đã được đưa ra nhằm kết nối Long Island với các vùng lân cận như Quận Westchester, Connecticut hay Rhode Island.[30][31] Dù vậy, suốt từ khi cầu Throgs Neck hoàn thành vào đầu thập niên 1960 cho đến nay, chưa có thêm công trình vượt vịnh nào được triển khai xây dựng.[32]
Sự ô nhiễm
Hệ sinh thái vịnh Long Island bị ô nhiễm nghiêm trọng do chất thải công nghiệp, nông nghiệp và đô thị. Các tác nhân gây hại chính gồm kim loại nặng độc hại (như thủy ngân từ các nhà máy làm mũ ở Danbury),[33] mầm bệnh, rác thải cùng lượng lớn nitơ và phốt pho từ phân bón trôi nguồn.[33][34]
Hiện tượng phú dưỡng xảy ra khi các vùng nước, như vịnh Long Island, tiếp nhận lượng chất dinh dưỡng dư thừa (chủ yếu là nitơ), kích thích vi khuẩn lam phát triển quá mức.[35] Quá trình này kích hoạt nạn tảo nở hoa và sự bùng phát của thực vật phù du, làm chặn ánh sáng mặt trời và rút cạn oxy trong nước, khiến các sinh vật biển bị ngạt.[35] Tình trạng ô nhiễm sinh thái này ngày càng nghiêm trọng hơn do nhiệt độ tăng cao và hiện tượng phân tầng cột nước (nước không thể trộn đều theo chiều dọc).[36] Do đó, mục tiêu cốt lõi của các biện pháp xử lý nước tại vịnh Long Island hiện nay là kiểm soát triệt để nguồn chất dinh dưỡng thải ra từ dòng chảy bề mặt và các nhà máy xử lý nước thải.[37]
Đô thị hóa đang đe dọa nghiêm trọng đến nguồn cá và khu vực sinh sản tại Vịnh Long Island. Việc san lấp, nạo vét đã làm mất đi 25–35% diện tích đất ngập nước thủy triều, phá hủy môi trường phát triển của ấu trùng cá. Đồng thời, tình trạng ô nhiễm gây ra hiện tượng phú dưỡng và thiếu oxy (nồng độ oxy hòa tan giảm xuống dưới 4,8 mg/l),[38] làm suy giảm nghiêm trọng khả năng bơi lội, kiếm ăn và sinh sản của nhiều loài cá đặc trưng tại đây, bao gồm: Cá Killi, cá silverside, cá cơm vịnh, lươn, cá menhaden, cá cunner, cá tautog, cá stickleback, cá bơn mùa đông, cá weakfish, cá bluefish, cá tomcod và cá vược sọc.[39]
Sự gia tăng nitơ dư thừa tại vịnh Long Island những thập kỷ qua đã làm suy giảm tảo silic, mắt xích nền tảng của chuỗi thức ăn với lớp vỏ silica đặc trưng. Do thiếu hụt tảo silic, các loài tảo roi và tảo lam (vốn ưa nitơ và không cần silica) đã bùng phát và chiếm ưu thế.[40] Sự thay đổi ở đáy chuỗi thức ăn này dẫn đến hệ quả nghiêm trọng: số lượng sứa tăng mạnh, trong khi các loài cá và động vật có vỏ suy giảm rõ rệt.
Từ những năm 1990, chính quyền bang Connecticut và Cục Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (EPA) đã thiết lập các vùng cấm xả nước thải chưa qua xử lý từ tàu thuyền ra vùng biển ven bờ. Đến năm 2007, lệnh cấm này được mở rộng ra toàn bộ bờ biển của bang, áp dụng cho cả nước thải đã và chưa qua xử lý. Trong khi New Hampshire và Rhode Island cũng áp dụng quy định tương tự, thì các bang lân cận thuộc lưu vực sông đổ về như Massachusetts và New York lại không có lệnh cấm này. Để hỗ trợ người dân chấp hành, số lượng trạm bơm hút nước thải tại các bến du thuyền dọc bờ biển Connecticut đã tăng gấp ba lần (đạt 90 trạm) vào năm 2007. Những trường hợp vi phạm có thể chịu mức phạt hành chính của bang là 250 USD, hoặc phạt dân sự liên bang lên tới 2.000 USD.[41]
Để cải thiện chất lượng nước, EPA đã thành lập Nghiên cứu Vịnh Long Island (LISS) vào năm 1985. Đến năm 1994, LISS ban hành Kế hoạch Quản lý và Bảo tồn Toàn diện (CCMP) nhằm xác định tổng tải trọng nitơ tối đa hàng ngày (TMDL).[19] Kế hoạch này áp dụng các giải pháp đột phá như giao dịch tín dụng nitơ tại Connecticut và cấp phép bong bóng tại New York, giúp giảm rõ rệt lượng nitơ trong vịnh và tiết kiệm chi phí lớn.[34] Năm 1998, chính phủ liên bang cùng hai bang New York và Connecticut thống nhất mục tiêu cắt giảm 58,5% lượng nitơ từ nước thải vào vịnh trước năm 2014.[19] Dù từng rút cam kết ký năm 2001 và bị khởi kiện, Thành phố New York đã đồng ý lại vào đầu năm 2006 với hạn chót hoàn thành mục tiêu giảm thải vào năm 2017. Tính đến năm 2007, 617 triệu USD đã được đầu tư để nâng cấp hệ thống xử lý, trong đó 39 trên 104 nhà máy đã hoàn thành lắp đặt thiết bị khử nitơ.[42]
Theo báo cáo của Chương trình Cửa sông Quốc gia thuộc EPA (công bố tháng 6/2007), chất lượng môi trường phía tây vịnh đang ở mức báo động nhất. Dù chất lượng nước chung được đánh giá ở mức "khá", nhưng tình trạng của cá, động vật đáy và trầm tích đều rất tồi tệ. Cụ thể, các mẫu cá bị nhiễm độc PCB nặng, còn trầm tích chứa lượng lớn thuốc trừ sâu DDT. Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái này là do bùng nổ dân số, ô nhiễm công nghiệp tích tụ từ quá khứ và dòng chảy nước mưa tràn.[43]
Nhờ nỗ lực nâng cấp các nhà máy xử lý nước thải, ô nhiễm nitơ tại vịnh Long Island đã giảm mạnh trong thế kỷ 21. Đến năm 2016, hai bang New York và Connecticut đã hoàn thành mục tiêu cắt giảm 58,5% lượng nitơ theo quy định.[19] Theo báo cáo từ LISS, tính đến năm 2018, lượng nitơ thải ra giảm hơn 50 triệu pound mỗi năm so với thập niên 1990.[19] Dù các nghiên cứu xác nhận vịnh đã sạch và khỏe mạnh hơn trước, khu vực này vẫn đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm và suy giảm môi trường sống.[44] Để duy trì đà phục hồi, việc giải quyết các thách thức hiện tại và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu là vô cùng cấp thiết.[45]
Đổ bỏ trầm tích nạo vét
Trầm tích ô nhiễm từ việc nạo vét các tuyến đường thủy từng được đổ tại bốn vị trí trong vịnh. Đến cuối năm 2007, hai bãi đổ phía đông đã có kế hoạch đóng cửa, trong khi hai vị trí gần Stamford và New Haven (Connecticut) tiếp tục được duy trì vì chi phí thấp hơn đáng kể so với các phương án khác. Nhằm tìm kiếm giải pháp thay thế thân thiện với môi trường hơn, Cục Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (EPA) và Công binh Lục quân đã triển khai một nghiên cứu chuyên sâu trị giá 16 triệu đô la trong giai đoạn từ năm 2007.[46]
Năm 2007, sau khi cơ quan liên bang kết luận trầm tích tại Cảng Bridgeport bị ô nhiễm kim loại nặng và hydrocarbon thơm đa vòng không thể đổ ra vịnh, Sở Bảo vệ Môi trường Connecticut (DEP) đã yêu cầu thành phố Norwalk phải phủ một lớp vật liệu rộng 57.000 m³ lên trên 270.000 m³ bùn đất nạo vét từ dự án cảng địa phương.[46]
Tình trạng pháp lý
Năm 1985, trong vụ kiện United States v. Maine, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ phán quyết vịnh Long Island là một vịnh pháp lý,[47] giải quyết dứt điểm tranh chấp chủ quyền giữa liên bang với hai bang New York và Rhode Island.
Bên cạnh phán quyết về Vịnh Block Island và bang Rhode Island, Tòa án xác định Long Island là phần kéo dài của đất liền chứ không phải một hòn đảo. Quyết định này dựa trên việc sông Đông ở trạng thái tự nhiên quá nông, không thể lưu thông và không phải là "lối ra biển".[47] Do đó, theo các tiêu chí luật định, vịnh Long Island được công nhận là một "vịnh pháp lý".
Vịnh pháp lý là vùng bờ lõm sâu vào đất liền, đủ điều kiện làm vùng nước nội địa theo Điều 7 Công ước 1958 và Điều 10 UNCLOS 1982.[48] Hiểu đơn giản, diện tích vùng nước phía trong phải lớn hơn diện tích bán nguyệt có đường kính là chiều rộng cửa vịnh.[49]
Phán quyết này xác định quyền chủ quyền đối với đáy biển ngoài khơi vịnh Long Island (cách bờ hơn 3 hải lý) thuộc về các tiểu bang liên quan hay chính phủ liên bang. Tòa án đã phán quyết phần thắng thuộc về các tiểu bang.
Đồng nghĩa là đường bờ biển pháp lý của Hoa Kỳ chỉ bao gồm bờ nam Long Island, ngoại trừ bờ bắc đảo này, bờ đông quận Westchester, Bronx, Manhattan và bờ nam Connecticut.[47]
Tài liệu tham khảo
- ^ "Long Island Sound Region at Night: Image of the Day". National Aeronautics and Space Administration. ngày 30 tháng 9 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b c d "Long Island Sound: An Atlas of Natural Resources", booklet"Prepared under the supervision of the Coastal Area Management Program" of the Connecticut Department of Environmental Protection, November 1977, "1. Glacial History" section, page 4
- ^ "Watershed Population « Long Island Sound Study". longislandsoundstudy.net (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2017.
- ^ "The Sound Site - Soundkeeper". soundbook.soundkeeper.org. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2017.
- ^ a b c d e f g h i j k "Long Island Sound: An Atlas of Natural Resources", booklet"Prepared under the supervision of the Coastal Area Management Program" of the "Connecticut Department of Environmental Protection", November 1977, "5. Vegetation" section, pp 17-21
- ^ Turner, J. (2011). Exploring the Other Island: A seasonal guide to nature on Long Island. Harbor Electronic Publishing. ISBN 978-1-932916-34-8. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2020.
- ^ Natural Resources Conservation Service (NRCS). "PLANTS Profile, County Distribution Lychnis coronaria". The PLANTS Database. United States Department of Agriculture. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2008.
- ^ a b "Long Island Sound: An Atlas of Natural Resources", booklet"Prepared under the supervision of the Coastal Area Management Program" of the "Connecticut Department of Environmental Protection", November 1977, "10. Fishes" section, pp 36-39
- ^ "Long Island Sound: An Atlas of Natural Resources", booklet "Prepared under the supervision of the Coastal Area Management Program" of the "Connecticut Department of Environmental Protection", November 1977, "8. Mollusks" section, pp 31-32
- ^ a b "Long Island Sound: An Atlas of Natural Resources", booklet"Prepared under the supervision of the Coastal Area Management Program" of the "Connecticut Department of Environmental Protection", November 1977, "7. Crustacea" section, pp 26-28
- ^ a b c d "Long Island Sound: An Atlas of Natural Resources", booklet"Prepared under the supervision of the Coastal Area Management Program" of the "Connecticut Department of Environmental Protection", November 1977, "12. Mammals, Reptiles and Amphibians" section, pp 43-44
- ^ a b c d "Long Island Sound: An Atlas of Natural Resources", booklet"Prepared under the supervision of the Coastal Area Management Program" of the "Connecticut Department of Environmental Protection", November 1977, "11. Birds" section, page 40
- ^ "Working For Nature Series: Shortnose Sturgeon". Connecticut Department of Environmental Protection. ngày 30 tháng 7 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ Savoy, T (2004). "Population estimate and utilization of the lower Connecticut River by shortnose sturgeon". The Connecticut River Ecological Study (1965–1973) Revisited: Ecology of the Lower Connecticut River. 1973–2003: 345–352.
- ^ Savoy, T; Shake, D (1992). "Sturgeon status in Connecticut waters". Final Report to the National Marine Fisheries Service, Gloucester, Massachusetts.
- ^ a b Anderson, Tom (2002). This fine piece of water: an environmental history of Long Island Sound. New Haven: Yale University Press. ISBN 0-300-08250-9.
- ^ Bancroft, George (1886). History of the United States of America: From the Discovery of the Continent. D. Appleton. tr. 489.
- ^ "Illustrated History of the Moriches Bay Area (excerpts), by Van and Mary Field". Centermoricheslibrary.org. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2021.
- ^ a b c d e f g "History". Long Island Sound Study (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Conservation History of Long Island Sound". Audubon Connecticut (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ The Bridgeport & Port Jefferson Steamboat Company Lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2009 tại Wayback Machine, Cross Sound Ferry, between Orient Point and New London Lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2009 tại Wayback Machine
- ^ "Game Fish". Long Island Sound Study (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ Seara, Tarsila; Owens, Adrien; Pollnac, Richard; Pomeroy, Robert; Dyer, Christopher (ngày 1 tháng 2 năm 2022). "Lessons learned from a natural resource disaster: The long-term impacts of the Long Island Sound lobster die-off on individuals and communities". Marine Policy (bằng tiếng Anh). 136 104943. doi:10.1016/j.marpol.2021.104943. ISSN 0308-597X. S2CID 245606250.
- ^ a b "Cuomo expected to sign bunker fish protection bill". NY State Senate (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ Broatch, Kierran (ngày 30 tháng 7 năm 2012). "Bunker Plentiful in Long Island Sound This Year". Save the Sound (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Long Island Sound Submerged Cable And Pipeline Areas". deepmaps.ct.gov (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ Stowe, Stacey (ngày 24 tháng 8 năm 2003). "Cross-Sound Cable Is Debated Anew". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Ecological Cable Protection in Long Island Sound". Marine Technology News (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Oyster Bay-Rye Bridge (I-287, unbuilt)". www.nycroads.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Eastern Long Island Sound Crossing (I-495, unbuilt)". nycroads.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2007.
- ^ Ritterhoff, Gale (ngày 26 tháng 5 năm 2021). "The History of Trying to Connect Westchester and Long Island". Westchester Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Throgs Neck Bridge (I-295)". www.nycroads.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ a b Varekamp, JC; Buchholtz ten Brink, MR; Mecray, EL; Kreulen, B (Summer 2000). "Mercury in Long Island Sound Sediments". Journal of Coastal Research. 16 (3): 613–626. JSTOR 4300074.
- ^ a b "Total Maximum Daily Load (TMDLs) at Work: New York: Restoring the Long Island Sound While Saving Money". EPA. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
- ^ a b US Department of Commerce, National Oceanic and Atmospheric Administration. "What is a dead zone?". oceanservice.noaa.gov (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ US Department of Commerce, National Oceanic and Atmospheric Administration. "Responding to Hurricanes". oceanservice.noaa.gov (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ Burg, Robert (ngày 9 tháng 10 năm 2014). "Water Quality Improves in Long Island Sound". Long Island Sound Study (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Habitat Restoration Initiative". Long Island Sound Study (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2023.
- ^ Lopez, Glenn; Carey, Drew; Carlton, James T.; Cerrato, Robert; Dam, Hans; DiGiovanni, Rob; Elphick, Chris; Frisk, Michael; Gobler, Christopher (ngày 22 tháng 11 năm 2013). Biology and Ecology of Long Island Sound. Springer Series on Environmental Management. Springer New York. tr. 285–479. doi:10.1007/978-1-4614-6126-5_6. ISBN 978-1-4614-6125-8.
- ^ "Ellen Thomas". Ethomas.faculty.wesleyan.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2021.
- ^ Lockhart, Brian (ngày 27 tháng 7 năm 2007). "State protects coast from boaters' sewage: EPA declares no-discharge area". The Advocate . Stamford, CT. tr. 1, A4.
- ^ Stelloh, Tom (ngày 15 tháng 7 năm 2007). "671M later, no clear picture of Sound's health=". The Advocate. tr. 1, A4.
- ^ [1] Lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2007 tại Wayback Machine EPA Web page for navigation of the National Estuary Program Coastal Protection Report for June 2007; [2] Lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2007 tại Wayback Machine Chapter 3 of the report, "Northeast National Estuary Program Coastal Condition Long Island Sound Study", accessed June 27, 2007
- ^ Long Island Sound Study (2015). "Section 2: Geography, History and Health of the Sound." Lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2018 tại Wayback Machine
- ^ New England Interstate Water Pollution Control Commission; EPA (2006). Sound health, 2006: A report on status and trends in the health of Long Island Sound (Báo cáo). Long Island Sound Study. EPA, Long Island Sound Office. OCLC 68622505.
- ^ a b Two articles by Tim Stelloh in The Advocate of Stamford (Norwalk edition): "Dredge report: Sound disputes aired at hearing", page 1; "Bid to skip dredging cap draws no support", page A7
- ^ a b c "Rhode Island and New York Boundary Case". FindLaw. 1985. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2014.
- ^ Juridicial bay, Glossary, National Oceanic and Atmospheric Administration (NOAA)
- ^ Confirming Sovereignty in Internal Waters, International Federation of Surveyors (FIG)
Liên kết ngoài
- What Makes Long Island Sound So Special? - EPA website
- Soundkeeper - non-profit preservation group
- Long Island Sound Foundation - non-profit preservation group
- Cross-Sound Cable - official CSC website
- Human Nature - New York Times series on Long Island Sound
- Ellen Thomas - Wesleyan University Research on the Eutrophication of Long Island Sound
- SeagrassLI - LIS eelgrass restoration and monitoring
- Fraudwater - Information on Shell Oil Broadwater campaign