World Series 1919
| Tập tin:1919 blacksox.jpg Ảnh chụp tập thể đội hình Chicago White Sox năm 1919 | |
| Đội vô địch | Cincinnati Reds (5) |
|---|---|
| Huấn luyện viên | Pat Moran |
| Đội á quân | Chicago White Sox (3) |
| Huấn luyện viên | Kid Gleason |
| Ngày diễn ra | 1 - 9 tháng 10 |
| Sân vận động | Redland Field (Cincinnati) Comiskey Park (Chicago) |
World Series năm 1919 là lần tổ chức thứ 16 của loạt trận chung kết cùng tên của hệ thống Giải bóng chày Nhà nghề Mỹ (MLB) mùa giải 1919. Đây là cuộc chạm trán giữa nhà vô địch American League (AL) Chicago White Sox và nhà vô địch National League (NL) Cincinnati Reds. Khác với hầu hết các kỳ World Series đều có thể thức bảy ván thắng bốn, năm 1919 lại nằm trong số it các kì World Series áp dụng thể thức chín ván thăng năm (cùng với 1903, 1920 và 1921), trong một nỗ lực của Ủy ban Bóng chày Quốc gia nhằm gia tăng tính phổ biến của môn thể thao này và doanh thu từ tiền bán vé.[1]
Kì World Series năm 1919 thường bị gắn liền với vụ bê bối Black Sox, trong đó một số cầu thủ của đội Chicago đã cấu kết với các con bạc được cho là do nhân vật tội phạm có tổ chức Arnold Rothstein cầm đầu, để dàn xếp kết quả các trận đấu. Điều này đã dẫn đến việc giới chủ sở hữu các đội thành viên bổ nhiệm Kenesaw Mountain Landis làm Ủy viên bóng chày đầu tiên vào năm 1920.
Vào tháng 8 năm 1921, mặc dù được tuyên trắng án hình sự trên tòa, tám cầu thủ của White Sox đã bị cấm tham gia hoạt động bóng chày có hệ thống suốt đời vì hành vi tham gia dàn xếp kết quả hoặc biết về vụ dàn xếp mà không tố giác kịp thời.[2] Trong khi đó, Dickey Kerr, một cầu thủ không liên quan đến vụ bê bối, sau đó đã bị cấm thi đấu do hành vi thi đấu giao hữu cho đội bóng khác trong thời gian đình công đòi tăng lương tại White Sox, nhưng sau đó đã được phép thi đấu trở lại. Chín cầu thủ bị cấm là những cầu thủ chính thức đầu tiên bị cấm thi đấu trong kỷ nguyên hiện đại MLB, cũng như bởi Landis trong suốt nhiệm kỳ ủy viên của ông. Tuy nhiên, các lệnh cấm từng được MLB coi là vĩnh viễn này (của nhóm Black Sox và Dickey Kerr) đã chính thức kết thúc vào ngày 12 tháng 5 năm 2025, sau tuyên bố của ủy viên Rob Manfred rằng những người bị cấm thi đấu không còn là mối đe dọa đối với môn bóng chày sau khi qua đời.[3] Chín cầu thủ từng bị MLB cấm (đáng chú ý nhất là Shoeless Joe Jackson và Eddie Cicotte) hiện được coi là đủ điều kiện để được xét ghi danh vào Đại sảnh Danh vọng Bóng chày sớm nhất là vào năm 2027.[4]
Các đội
Chicago White Sox
Chicago White Sox, hai năm sau chức vô địch World Series gần nhất, đã trở lại loạt đấu chung kết này với chức vô địch giải con American League (AL)[2] cùng đội hình còn hầu hết các cầu thủ đã đánh bại New York Giants tại World Series năm 1917. Theo đó, ngôi quán quân AL năm 1919 được xem là sự trở lại đã được báo trước, sau khi đội tụt xuống vị trí thứ sáu tại AL vào mùa giải 1918 do vắng mặt nhiều trụ cột như Shoeless Joe Jackson trong thời gian thực hiện quân dịch trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Chủ sở hữu của đội là Charles Comiskey đã sa thải huấn luyện viên Pants Rowland thay bằng một William "Kid" Gleason ít kinh nghiệm huấn luyện trước thềm mùa giải. White Sox đã có thành tích 88 thắng 52 bại khi kết thúc mùa giải chính 1919, cách đội xếp sau Cleveland Indians 3+1⁄2 trận.
Hậu vệ Jackson là ngôi sao sáng nhất của White Sox, với tỷ lệ đánh bóng .351 trong mùa giải đó, đứng thứ tư trên toàn giải và nằm trong top 5 AL về tỷ lệ slugging, RBI, tổng chốt lên và số hit. Ngoài Jackson, đội hình White Sox cũng hầu như không có điểm yếu. Đánh mở màn cho họ là cựu ngôi sao của Philadelphia Athletics Eddie Collins, một trong những chốt hai vĩ đại nhất mọi thời đại,[5] vẫn đạt phong độ tốt ở tuổi ngoài ba mươi với tỷ lệ lên chốt .400; hậu vệ phải Nemo Leibold, tỷ lệ đánh bóng .302 và ghi được 81 điểm; chốt một Chick Gandil với tỷ lệ .290, hay chốt ba Buck Weaver tỷ lệ .296. Ngoài ra, trung vệ Oscar "Hap" Felsch đạt tỷ lệ .275 và cùng Jackson dẫn đầu đội với 7 home run ghi được (trong bối cảnh kỷ nguyên bóng chết sắp kết thúc). Ngay cả Ray Schalk, một cầu thủ bắt bóng "tốt thủ dở công" điển hình cũng đạt tỷ lệ đánh bóng .282 trong năm đó, và chặn ngắn Swede Risberg, cũng khó nhằn không kém với tỷ lệ đánh bóng .256 và 38 RBI. Đội hình dự bị của Gleason cũng có hai tay đánh ấn tượng là hậu vệ Shano Collins và tiền vệ Fred McMullin vồn đều đã cùng đội vô địch năm 1917.
Đội hình giao bóng năm 1919 của Chicago cũng bao gồm nhiều tay ném xuất phát như Eddie Cicotte với thành tích 29–7, trong đó dẫn đầu giải đấu về số trận thắng và chỉ kém Walter Johnson về chỉ số ERA; Claude "Lefty" Williams đạt thành tích 23–11 và ERA 2.64; Dickey Kerr đạt thành tích 13–7 với ERA 2.88 trong 17 trận xuất phát, và Urban "Red" Faber với thành tích 11–9 và ERA 3.83 trong 20 lần xuất phát. Tuy nhiên, Faber bị ốm và đã phải vắng mặt tại World Series.
Tuy nhiên, trái ngược với ưu thế trên giấy tờ là sự lục đục trong nội bộ đội White Sox, với mâu thuẫn ngày một leo thang giữa nhiều cầu thủ và ông bầu Comiskey. Hiềm khích này bắt nguồn từ những hành động được cho là thể hiện sự keo kiệt của Comiskey, được biểu hiện trong hai giai thoại được truyền tai: một là việc ông yêu cầu HLV Gleason không cho Cicotte ra sân trong những ngày cuối cùng của mùa giải chính, để ngăn anh ta giành được khoản thưởng 10,000 đô la nếu đạt cột mốc 30 trận thắng; và hai là việc nhiều người chế nhạo White Sox là "Black Sox" vì Comiskey được cho là không chịu chi trả đều đặn tiền giặt là đồng phục của cầu thủ, khiến chúng ngày càng ố đen do mồ hôi và bụi bẩn tích tụ.
Cincinnati Reds
Trái ngược với White Sox, nhà vô địch National League (NL) Cincinnati Reds là một hiện tượng vào năm 1919, khi chưa từng kết thúc mùa giải cao hơn vị trí thứ ba kể từ năm 1900, và xếp trên vị trí trên chỉ hai lần trước đó. Dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên mới Pat Moran, người nổi tiếng dẫn dắt một đội ngựa ô khác bất ngờ vô địch World Series là Philadelphia Phillies vào năm 1915, Reds đã kết thúc mùa giải với thành tích cách đội về nhì Giants (96–44) chín trận và sáu đội còn lại ít nhất 20 trận, với tỷ lệ thắng trận .686.
Ngôi sao sáng nhất bên phía đội Reds là trung vệ Edd Roush, người có tỷ lệ đánh bóng dẫn đầu giải đấu là .321 và nằm trong top 5 của giải con của mình ở hầu hết các hạng mục đánh bóng quan trọng, tương tự như Jackson của đội White Sox. Chốt ba Heinie Groh là một tay đánh bóng xuất sắc khác với tỷ lệ .310, tỷ lệ lên chốt .392 và ghi được 79 điểm. Cầu thủ chốt một từng hai lần vô địch đánh bóng của giải NL Jake Daubert, cũng ghi được 79 điểm và đạt tỷ lệ đánh bóng .276, trong khi cầu thủ bắt bóng Ivey Wingo đạt tỷ lệ .273. Phần còn lại của đội không được đánh giá cao, như chốt hai Morrie Rath với tỷ lệ .264 và tỷ lệ lên chốt tốt nhưng không có uy lực đánh xa, và chặn ngắn Larry Kopf, một người chuyên đánh hit đơn với tỷ lệ .270. Các cầu thủ còn lại của hàng hậu vệ Reds đánh bóng yếu hơn hẳn, với cựu ngôi sao của Phillies là hậu vệ trái Sherry Magee chỉ đạt .215 trong 56 trận và hậu vệ phải Earle "Greasy" Neale chỉ đạt .242 với uy lực đánh rất hạn chế. Điều này đã khiến Moran quyết định cho tân binh Pat Duncan ra sân chính ở vị trí hậu vệ trái tại loạt trận năm 1919.
Bù lại, đội Reds sở hữu dàn giao bóng mạnh hơn hẳn, với ba trụ cột của đội, gồm Hod Eller (20–9, ERA 2.39), Dutch Ruether (19–6, ERA 1.82) và Slim Sallee (21–7, ERA 2.06), đều nằm trong số dẫn đầu giải đấu ở nhiều hạng mục khác nhau. Họ được hỗ trợ bởi ba tay ném khác cũng thành công không kém: Jimmy Ring với thành tích khiêm tốn 10–9 nhưng ERA 2.26, Ray Fisher với thành tích 14–5 và ERA 2.17 cùng năm trận không mất điểm, và tay ném người Cuba Dolf Luque với thành tích 10–3 và ERA 2.63, người sau đó giành chiến thắng tại ván đấu cuối của World Series năm 1933 với tư cách ném cứu thua chủ lực cho New York Giants.
Vụ dàn xếp
Các cầu thủ trong đường dây bán độ trong đội White Sox đã bất ngờ nhận được lợi thế khi Faber bị cúm và không được chọn vào đội hình dự World Series. Thật vậy, nhiều năm sau, cầu thủ bắt bóng Schalk nói rằng nếu Faber khỏe mạnh thì sẽ vụ dàn xếp sẽ không bao giờ được thông qua (vì Faber gần như chắc chắn sẽ được ra sân thay cho Cicotte hoặc Williams).[6] Dù có phong độ hủy diệt trên sân, nội bộ đội Sox vô cùng lục đục, khiến nhiều người quan sát thường quy lý do là từ sự keo kiệt của Comiskey, mặc dù thực tế là quỹ lương của White Sox năm 1919 cao thứ ba ở AL, sau Boston và New York.
Những câu chuyện về vụ bê bối thường nhắc đến Comiskey như phản diện làm nguồn cơn sự việc, và đặc biệt xoáy sâu vào tình tiết cáo buộc ông ta thao túng để quỵt khoản thưởng trị giá 10.000 đô la, trong trường hợp đạt 30 trận thắng, trong hợp đồng của Cicotte. Theo cuốn sách "Eight Men Out" của Eliot Asinof, Cicotte đã bị cho "ra nghỉ" trong hai tuần cuối mùa giải sau khi đạt được chiến thắng thứ 29, được cho là để ngăn anh giành khoản tiền thưởng trên. Nhưng ở hướng ngược lại, thực tế có thể không đơn giản như vậy, khi Cicotte sau khi thắng trận thứ 29 vào ngày 19 tháng 9 đã có một trận ném không hiệu quả vào ngày 24 tháng 9 và bị thay ra sau vài hiệp trong một trận đấu khởi động vào ngày cuối cùng của mùa giải vào ngày 28 tháng 9 (ba ngày trước ván đầu tiên của World Series). Ngoài ra, Cicotte được cho là đã đồng ý tham gia đường dây bán độ ngay trong ngày anh thắng trận thứ 29, trước khi anh có thể thấy bất kỳ nỗ lực nào ngăn chặn việc thắng trận thứ 30.[7] Câu chuyện có lẽ đã thuyết phục hơn khi nói về mùa giải năm 1917, khi Cicotte thắng 28 trận và sau đó đưa White Sox đến chức vô địch.
Mặc dù có những tin đồn lan truyền trong giới cá độ (theo Tom Meany trong chương viết về đội Reds năm 1919 trong cuốn "Những đội hình bóng chày vĩ đại nhất", "người ta đang đổ tiền vào Cincinnati" mặc dù White Sox được đánh giá cao hơn nhiều) và một số tờ báo, hầu hết người hâm mộ và giới quan sát đều kỳ vọng loạt đấu sẽ diễn ra một cách khách quan. Vào ngày 2 tháng 10, ngày diễn ra ván đấu thứ 2, tờ Philadelphia Bulletin đã đăng một bài thơ mà sau này đã trở nên mỉa mai:
- Tuy nhiên, điều đó nào quan trọng.
- Suy cho cùng, vẫn là ai sẽ thắng?
- Ta hướng đến cuộc chơi trong sạch và lành mạnh
- Và chúng ta khẳng định đầy kiêu hãnh
- Để gửi tới mỗi xứ sở gần xa
- Nơi ánh mặt trời thể thao chiếu rọi
- Trong tất cả các môn thể thao trên đời...
- Bóng chày của ta là môn trong sạch nhất!
Các ván đấu
Ván 1
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | R | H | E | |||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chicago | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 6 | 1 | |||||||||||||||||||||
| Cincinnati | 1 | 0 | 0 | 5 | 0 | 0 | 2 | 1 | X | 9 | 14 | 1 | |||||||||||||||||||||
| WP: Walter "Dutch" Ruether (1–0) LP: Eddie Cicotte (0–1) | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Ván đấu đầu tiên bắt đầu lúc 3 giờ chiều tại sân Redland Field của Cincinnati, trước 30.511 khán giả trong tình trạng phé vé chợ đen thu về ít nhất 50 đô la mỗi vé. Chicago đã không ghi được điểm nào ở hiệp đầu tiên. Ở cuối hiệp đấu, Cicotte (người đã được trả 10.000 đô la vào đêm trước khi loạt trận bắt đầu) lên ném xuất phát và ném trúng lưng người đánh bóng đầu tiên và đồng đội cũ là Morrie Rath ngay ở cú thứ hai của mình, một ám hiệu đã được cho là để báo cho Arnold Rothstein rằng đường dây đang vào độ. Mặc dù vậy, trận đấu vẫn diễn ra khá cân bằng trong một khoảng thời gian, một phần nhờ vào khả năng phòng thủ xuất sắc của những kẻ trong đường dây, nhằm che mắt công chúng. Tuy nhiên, ở hiệp thứ tư, Cicotte lại "mất kiểm soát" (một lần nữa theo Meany, op. cit. ) khi để lọt lưới nhiều cú hit liên tiếp, đỉnh điểm là cú hit ba khi đã hai lượt out, giúp Reds ghi được năm điểm vươn lên từ tỷ số hòa 1-1. Cicotte đã bị thay ra vào lúc đó, nhưng là quá muộn và đội Reds tiếp tục ghi thêm ba điểm nữa trong các hiệp sau và giành chiến thắng với tỷ số 9–1.
Các nhà báo thể thao đã đặt tâm điểm khả nghi cho cú ném tệ của Cicotte tới Risberg phá hỏng một pha loại kép ở hiệp thứ tư.[8] Đến tối hôm đó, đã có những dấu hiệu cho thấy đường dây đang diễn ra không suôn sẻ. Chỉ có Cicotte, người đã khéo léo yêu cầu trả trước 10.000 đô la, là được trả tiền. "Sleepy" Bill Burns và Maharg đã đến gặp Abe Attell, cựu vô địch quyền anh thế giới và là trung gian của Rothstein, nhưng y vẫn giữ lại khoản trả tiền bán độ tiếp theo (20.000 đô la) để vào tiếp tại ván đấu tiếp theo. Sáng hôm sau, Gandil lại gặp Attell yêu cầu trả tiền, nhưng vẫn không ăn thua.
Ván 2
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | R | H | E | |||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chicago | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 0 | 2 | 10 | 1 | |||||||||||||||||||||
| Cincinnati | 0 | 0 | 0 | 3 | 0 | 1 | 0 | 0 | X | 4 | 4 | 3 | |||||||||||||||||||||
| WP: Harry "Slim" Sallee (1–0) LP: Lefty Williams (0–1) | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Mặc dù chưa nhận được tiền, các cầu thủ vẫn tiếp tục vào độ tại ván hai. "Lefty" Williams, người giao bóng chính ván này cho Sox, không làm độ lộ liễu như Cicotte. Sau một khởi đầu không mấy suôn sẻ, anh ấy đã ném bóng tốt cho đến hiệp thứ tư, khi anh ấy để đối phương walk ba lần và để thủng ba điểm. Sau đó, anh ấy lại gần như không thể bị đánh trúng, chỉ để thủng lưới thêm một điểm nữa; nhưng việc thiếu những cú đánh quyết định, với Gandil là người đặc biệt có lỗi, đã dẫn đến thất bại 4-2 của White Sox. Attell vẫn không có ý định trả tiền sau đó, nhưng Burns đã xoay sở để có được 10.000 đô la đưa cho Gandil, người đã chia số tiền đó cho các thành viên khác trong đường dây. Các đội di chuyển về sân vận động Comiskey Park ở Chicago cho ván đấu thứ 3 vào ngày hôm sau, trong bối cảnh loạt trận không có quãng nghỉ di chuyển.
Ván 3
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | R | H | E | |||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Cincinnati | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 3 | 1 | |||||||||||||||||||||
| Chicago | 0 | 2 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | X | 3 | 7 | 0 | |||||||||||||||||||||
| WP: Dickey Kerr (1–0) LP: Ray Fisher (0–1) | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Dickey Kerr, cầu thủ giao bóng tân binh không tham gia đường dây, đã xuất phát ván đấu thứ 3 của đội Sox. Kế hoạch ban đầu là để những thành viên đường dây vốn không ưa Kerr cố ý nằm thua ván này, nhưng lúc này sự bất bình giữa các thành viên bị xù tiền đã khiến kế hoạch đổ vỡ. Burns vẫn tin vào kèo độ và gom góp những đồng cuối cùng đặt cược vào Cincinnati, và sau đó trắng tay. Chicago ghi điểm sớm – khi chính Gandil đẩy về hai điểm – và Kerr đã thi đấu xuất sắc, chỉ cho phép đội Reds có ba cú hit trong trận đấu mà họ giành chiến thắng 3-0.
Ván 4
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | R | H | E | |||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Cincinnati | 0 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 2 | 5 | 2 | |||||||||||||||||||||
| Chicago | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 3 | 2 | |||||||||||||||||||||
| WP: Jimmy Ring (1–0) LP: Eddie Cicotte (0–2) | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Cicotte trở lại ra sân ném tại ván đấu thứ 4, và quyết tâm không ném tệ một cách lộ liệu như ở ván một. Trong bốn hiệp đầu, anh và tay ném Jimmy Ring của đội Reds đã giằng co 0-0. Ở hiệp thứ năm, khi đã một out, Cicotte bắt được cú bóng lăn chậm của Pat Duncan nhưng lại ném chuyền thiếu chính xác về phía chốt một, lỗi dẫn đến Duncan lên chốt hai. Người tiếp theo, Larry Kopf, ghi một hit đơn đơn sang trái; Cicotte cắt ngang cú ném của Jackson và làm rơi bóng, cho phép Duncan ghi điểm. Khán giả nhà sững sờ trước sai lầm sơ đẳng của tay ném kỳ cựu này. Sau đó, Cicotte để Greasy Neale ghi hit đôi đẩy Kopf về điểm, nâng tỷ số lên 2-0; đây là lợi thế đủ lớn cho Ring, người đã ném một trận đấu không mất điểm nào và chỉ 3 hit. Reds dẫn ván với tỷ số 3-1.
Sau trận đấu, "Sport" Sullivan cuối đã trao 20.000 đô la cho nhóm bán độ, và Gandil đã chia đều số tiền đó cho Risberg, Felsch và Williams, người dự kiến sẽ ra ném ở ván đấu thứ 5 vào ngày hôm sau.
Ván 5
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | R | H | E | |||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Cincinnati | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 4 | 0 | 0 | 1 | 5 | 4 | 0 | |||||||||||||||||||||
| Chicago | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 3 | 3 | |||||||||||||||||||||
| WP: Hod Eller (1–0) LP: Lefty Williams (0–2) | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Trận 5 bị hoãn một ngày do mưa. Ban đầu, cả giao bóng chính Hod Eller của Cincinnati và Williams đều ném rất xuất sắc, khi không đội nào có người lên được quá chốt một cho đến đầu hiệp thứ sáu, khi chính Eller đánh một cú bóng bổng rơi giữa Felsch và Jackson. Cú ném của Felsch không chính xác, đưa Eller lên tận chốt ba. Cầu thủ đánh mở màn Morrie Rath sau đó ghi hit đơn qua hàng tiền vệ chơi co cụm của Sox, đưa Eller về điểm. Heinie Groh nhận walk trước khi cú hit đôi của Edd Roush - kết hợp với Felsch tiếp tục phòng ngự hớ hênh - mang về thêm hai điểm nữa, và Roush ghi điểm ngay sau đó. Eller đã ném xuất sắc trong phần còn lại của trận đấu (khi ghi tổng cộng chín strikeout, trong đó có kỷ lục World Series là sáu strikeout liên tiếp), và đội Reds chỉ còn cách chức vô địch thế giới đầu tiên của họ một ván thắng nữa.
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | R | H | E | ||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chicago | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 3 | 0 | 0 | 0 | 1 | 5 | 10 | 3 | ||||||||||||||||||||
| Cincinnati | 0 | 0 | 2 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 4 | 11 | 0 | ||||||||||||||||||||
| WP: Dickey Kerr (2–0) LP: Jimmy Ring (1–1) | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Ván đấu thứ 6 đưa loạt trận trở lại Cincinnati. Dickey Kerr, giao bóng xuất phát cho White Sox, đã không tiếp tục thi đấu xuất sắc như ở ván thứ 3. Nhờ ba lỗi của White Sox, Reds đã vươn lên dẫn trước 4-0 trước khi Chicago vùng lên gỡ hòa 4-4 ở hiệp thứ sáu, và tỷ số này được giữ nguyên cho đến hiệp phụ. Ở đầu hiệp thứ mười, Gandil đưa Weaver về ghi điểm, nâng tỷ số lên 5-4, và Kerr đã bảo toàn lợi thế dẫn trước để giành chiến thắng thứ hai cho cả anh và Chicago.
Ván 7
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | R | H | E | |||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chicago | 1 | 0 | 1 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 4 | 10 | 1 | |||||||||||||||||||||
| Cincinnati | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 1 | 7 | 4 | |||||||||||||||||||||
| WP: Eddie Cicotte (1–2) LP: Harry "Slim" Sallee (1–1) | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Bất chấp những tin đồn về phong độ thất thường của Cicotte trong ván 1 và 4, huấn luyện viên Kid Gleason của White Sox vẫn đặt niềm tin vào át chủ bài của mình ở ván 7. Lần này, tay ném bóng xoáy Cicotte đã không làm ông thất vọng. Chicago ghi điểm sớm và, lần này, chính Cincinnati mới là đội liên tục mắc lỗi. Reds chỉ thoáng gây nguy hiểm ở hiệp thứ sáu trước khi thua 4-1, và đột nhiên loạt trận trở nên cân bằng trở lại. Đây là lần duy nhất trong lịch sử World Series mà đội thắng ván 7 không quyết định mà không giành chiến thắng chung cuộc.
Tuy nhiên phong độ "trong sạch" này không qua mặt được Sullivan và Rothstein, khi họ quay ra can thiệp. Trước khi loạt trận bắt đầu, Sox được đánh giá là đội mạnh hơn và ít ai nghi ngờ rằng họ có thể thắng hai trận liên tiếp—trong trường hợp họ thi đấu trong sạch. Dù cho tới lúc này Rothstein đã khôn ngoan khi không đặt cược vào từng ván đấu riêng lẻ, nhưng ông đã đặt 270.000 đô la vào việc Cincinnati sẽ thắng trắng không gỡ. Đêm trước ván đấu thứ 8, Williams—người được lên lịch ra sân chính thức—được cho là đã bị một cộng sự của Sullivan tên là Harry F. ghé thăm. Người này không hề giấu giếm rằng nếu Williams không thể "bán" trận đấu ngay trong hiệp đầu tiên, anh ta và vợ sẽ gặp nguy hiểm.
Cho đến nay, đây là lần duy nhất đội White Sox đấu tới một ván đấu thứ 7.
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | R | H | E | |||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Cincinnati | 4 | 1 | 0 | 0 | 1 | 3 | 0 | 1 | 0 | 10 | 16 | 2 | |||||||||||||||||||||
| Chicago | 0 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 4 | 0 | 5 | 10 | 1 | |||||||||||||||||||||
| WP: Hod Eller (2–0) LP: Lefty Williams (0–3) Số home run: CIN: None CWS: Joe Jackson (1) | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Bất cứ lời lẽ nào gửi tới Williams đã có tác dụng, khi trong hiệp đầu tiên anh chỉ ném những quả bóng nhanh ít hiểm, và để thua bốn cú hit liên tiếp cùng ba điểm khi mới ghi một out trước khi Gleason thay anh ra bằng "Big" Bill James, người đã để cho một trong các chân chạy trên chốt Williams để lại ghi điểm. James tiếp tục trở nên không hiệu quả và, mặc dù Sox đã vùng lên trong hiệp thứ tám, Reds đã giành chiến thắng 10–5 để thắng chung cuộc loạt trận với tỷ số ván 5-3. Jackson đánh cú home run duy nhất tại loạt trận trong hiệp thứ ba sau khi Reds đã dẫn trước 5–0. Ngay sau khi World Series 1919 kết thúc, tin đồn dàn xếp đã lan ra khắp nơi. Nhà báo Hugh Fullerton của tờ Chicago Herald and Examiner, phẫn nộ trước màn thể hiện "sặc mùi bán độ" của White Sox, đã viết rằng World Series không nên tổ chức một lần nào nữa.[9]
Diễn biến sau này
Đội Reds sau năm 1919 phải mất hai thập kỷ để tham dự World Series lần tiếp theo, để rồi bị đội New York Yankees vùi dập không gỡ ván nào, và trở thành bại tướng cuối cùng trong bốn chức vô địch liên tiếp của Yankees từ năm 1936 đến năm 1939. Tuy nhiên họ đã giành chức vô địch tiếp theo ngay vào năm 1940 khi đánh bại đội Detroit Tigers trong bảy ván đấu, cũng chỉ cách thất bại chung cuộc chín lượt out ở ván thứ 7.
Sau thất bại năm 1919, đội White Sox rơi vào cơn khủng hoảng dài. Họ đã không thể trở lại World Series cho tới năm 1959, nhưng đã bị Los Angeles Dodgers đánh bại trong sáu ván. White Sox phải mất 86 năm mới có thể giành chức vô địch một lần nữa vào 2005, với việc đánh bại Houston Astros bốn ván không gỡ.
Tài liệu tham khảo
- ^ "1919 Chicago White Sox". historicbaseball.com. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2007.
- ^ a b "Charles Comiskey and the White Sox". History Files - Chicago Black Sox. ngày 8 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ tháng 10 8, 2014. Truy cập tháng 9 29, 2024. Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; tên "History Files - Chicago Black Sox" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau - ^ "Rose, 'Shoeless' Joe HOF-eligible as MLB lifts ban". ESPN. ngày 13 tháng 5 năm 2025.
- ^ Schoenfield, David (ngày 13 tháng 5 năm 2025). "What to know about MLB lifting ban on Pete Rose, 'Shoeless' Joe Jackson". ESPN.
- ^ James, Bill. The New Bill James Historical Baseball Abstract (2001)
- ^ Purdy, Dennis (2006). The Team-by-Team Encyclopedia of Major League Baseball. New York: Workman. ISBN 0-7611-3943-5.
- ^ Marasco, David. "Cicotte's 29 Wins in 1919". The Diamond Angle. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2008.
- ^ Weschler, Lawrence (ngày 14 tháng 9 năm 2016). "The Discovery, and Remarkable Recovery, of the King Tut's Tomb of Silent-Era Cinema". Vanity Fair (bằng tiếng Anh).
- ^ Payne, Shaun. Hugh Fullerton and the Press's Revealing Coverage of the Black Sox Scandal, 1919–1921. Historic Baseball.
Đọc thêm
- Chicago Historical Society: Black Sox
- Linder, Douglas - Famous American Trials: The Black Sox Trial
- Asinof, Eliot (2000) [1963]. Eight Men Out: The Black Sox and the 1919 World Series. New York: Henry Holt & Co. ISBN 0-8050-6537-7.
- Cohen, Richard M.; Neft, David S. (1990). The World Series: Complete Play-By-Play of Every Game, 1903–1989. New York: St. Martin's Press. tr. 76–81. ISBN 0-312-03960-3.
- Pietrusza, David (1998) Judge and Jury: The Life and Times of Judge Kenesaw Mountain Landis South Bend: Diamond Communications, 2001 ISBN 1888698098
- Pietrusza, David (2003). Rothstein: The Life, Times, and Murder of the Criminal Genius Who Fixed the 1919 World Series. New York: Carroll & Graf. ISBN 0-7867-1250-3.
- Reichler, Joseph (1982). The Baseball Encyclopedia . Macmillan Publishing. tr. 2127. ISBN 0-02-579010-2.
Liên kết ngoài
- 1919 World Series at WorldSeries.com via MLB.com
- World Series 1919 trên Baseball Almanac
- World Series 1919 trên Baseball-Reference.com
- The 1919 Post-Season Games (bảng điểm và tường thuật) trên Retrosheet
- History of the World Series - 1919 at The Sporting News. Archived from the original in May 2006.
- Eight Men Out — Trang IMDb về bộ phim ra mắt năm 1988, do John Sayles đạo diễn dựa trên cuốn sách của Asinof
- Trang có lỗi chú thích
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- World Series
- Mô tả ngắn khác với Wikidata
- Bài có mô tả ngắn
- Bê bối Major League Baseball
- Major League Baseball 1919
- Vòng playoff Cincinnati Reds
- Vòng playoff Chicago White Sox
- Thể thao Hoa Kỳ năm 1919
- Trang có bản dịch chưa được xem lại