Bước tới nội dung

David Batty

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
David Batty
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ David Batty[1]
Ngày sinh 2 tháng 12, 1968 (57 tuổi)[1]
Nơi sinh Leeds, Tây Yorkshire, Anh
Chiều cao 5 ft 8 in (1,73 m)[2]
Vị trí Tiền vệ phòng ngự[1]
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
0000–1987 Leeds United
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1987–1993 Leeds United 211 (4)
1993–1996 Blackburn Rovers 54 (1)
1996–1998 Newcastle United 83 (3)
1998–2004 Leeds United (0)
Tổng cộng 438 (8)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
1988–1989 Anh 7 (1)
1989–1992 Anh B 5 (0)
1991–1999 Anh 42 (0)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

David Batty (sinh ngày 2 tháng 12 năm 1968) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Anh, từng thi đấu ở vị trí tiền vệ phòng ngự.

Batty từng thi đấu cho Leeds United, Blackburn Rovers, Newcastle Unitedđội tuyển Anh. Tổng cộng, ông có 438 lần ra sân tại giải vô địch quốc gia trong sự nghiệp kéo dài 17 năm, ghi tám bàn thắng. Ông cũng có 42 lần khoác áo đội tuyển Anh, đồng thời đại diện cho quốc gia tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1992Giải vô địch bóng đá thế giới 1998.

Khi còn là cầu thủ Leeds, Batty là thành viên đội hình vô địch Football League Second Division cũ và Football League First Division trong mùa giải cuối cùng trước khi Giải bóng đá Ngoại hạng Anh được thành lập. Batty sau đó cũng cùng Blackburn vô địch giải đấu này vào năm 1995, nhưng không nhận huy chương.

Sau khi giải nghệ vào năm 2004, Batty sống kín tiếng, tránh xa sự chú ý của truyền thông và rất hiếm khi trả lời phỏng vấn về sự nghiệp của mình. Một số cựu đồng đội của ông từng công khai rằng Batty không mấy quan tâm đến bóng đá và chỉ đơn thuần xem đó là một công việc ông làm vì giỏi, thay vì vì tình yêu dành cho môn thể thao này.[3][4]

Sự nghiệp câu lạc bộ

Leeds United

Sinh tại Leeds, West Riding of Yorkshire,[5] Batty ra mắt Leeds vào tháng 11 năm 1987 khi mới 18 tuổi, trong chiến thắng 4–2 trước Swindon Town,[6] và nhanh chóng tạo dựng danh tiếng là một tiền vệ giàu tính cạnh tranh, theo hình mẫu huyền thoại Leeds Billy Bremner. Bị cho là hơi mỏng cơm, để tăng cường sức mạnh cho Batty, Bremner thường gọi ông vào văn phòng mỗi sáng để uống sherry pha với trứng sống.[7] Batty là thành viên chủ chốt của đội Leeds giành quyền thăng hạng từ Second Division ở mùa giải 1989–90, và là một phần của hàng tiền vệ gồm Gary Speed, Gary McAllisterGordon Strachan khi Leeds vô địch First Division ở mùa giải 1991–92. Là một cầu thủ tranh chấp bóng bền bỉ và đôi khi quyết liệt, ông gần như không có nhiều đối thủ ngang tầm, nhưng lối chơi của ông không chỉ đơn thuần là phá vỡ các đợt tấn công của đối phương; sau khi giành lại bóng, khả năng phân phối bóng của ông rất tốt, biến ông thành điểm khởi đầu cho nhiều pha phản công. Nếu có một khía cạnh còn thiếu trong lối chơi của ông thì đó là số bàn thắng ít ỏi, thể hiện qua những tiếng hô "sút đi" từ cổ động viên Leeds mỗi khi Batty nhận bóng ở bất kỳ vị trí nào bên phần sân đối phương.

Tháng 10 năm 1993, huấn luyện viên Leeds Howard Wilkinson cần tiền để tái thiết đội hình và miễn cưỡng chấp nhận đề nghị 2,75 triệu bảng dành cho Batty từ Blackburn Rovers, đội khi đó do Kenny Dalglish dẫn dắt. Wilkinson dùng số tiền này để mua Carlton Palmer với giá 2,6 triệu bảng tám tháng sau đó.[8]

Blackburn Rovers

Vào thời điểm này, Blackburn là một thế lực đang nổi trong Giải bóng đá Ngoại hạng Anh mới thành lập, với những cầu thủ như Alan ShearerChris Sutton. Ông bị gãy bàn chân, khiến ông bỏ lỡ phần lớn chiến dịch vô địch của Blackburn ở mùa giải 1994–95, chỉ thi đấu năm trận cho đội trong mùa giải đó. Ông từ chối nhận huy chương vô địch vào cuối mùa, nói rằng đóng góp của mình là rất ít.[9] Đến mùa giải kế tiếp, Batty có thể thi đấu để giúp Blackburn trong chiến dịch Champions League. Tuy nhiên, đội không thể lọt vào các vòng đấu loại trực tiếp giàu giá trị; đóng góp đáng nhớ nhất của Batty trong chiến dịch này là một sự cố liên quan đến ông và đồng đội Graeme Le Saux, khi hai người đánh nhau trong trận Champions League gặp Spartak Moscow.[10]

Năm 1996, Batty yêu cầu được rời Blackburn Rovers và chuyển đến Newcastle United của Kevin Keegan với giá 3,75 triệu bảng.[11]

Newcastle United

Với Batty đem lại sức chiến đấu ở tuyến giữa và sự che chắn cho hàng thủ, Newcastle có thể cạnh tranh với đội bóng thống trị thời điểm đó là Manchester United; Newcastle hai lần kết thúc ở vị trí á quân sau Manchester United tại giải vô địch quốc gia (1995–961996–97). Mùa giải trọn vẹn đầu tiên của ông tại St James' Park chứng kiến sự ra đi của Keegan, với Kenny Dalglish lên thay và dẫn dắt câu lạc bộ giành thêm một vị trí á quân.

Batty đá chính trong Chung kết FA Cup 1998; tuy nhiên, sự xuất hiện của huấn luyện viên mới Ruud Gullit vào tháng 8 năm 1998 đánh dấu khởi đầu của quá trình tái thiết đội hình, và Batty trở lại Leeds United vào tháng 12 năm 1998 với giá 4,4 triệu bảng.

Trở lại Leeds United

Batty tái gia nhập một đội Leeds đang hồi sinh dưới sự dẫn dắt của David O'Leary; O'Leary muốn Batty mang lại sức chiến đấu và kinh nghiệm cho đội hình trẻ của mình. Một chấn thương xương sườn trong trận đầu tiên khiến ông phải ngồi ngoài một thời gian, nhưng đến cuối mùa giải 1998–99, ông đã thường xuyên góp mặt trong đội hình Leeds. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu mùa giải 1999–2000, ông dính chấn thương gân Achilles, và quá trình hồi phục bị kéo dài bởi tác dụng phụ của thuốc mà ông phải dùng cho các vấn đề tim mạch phát sinh từ chấn thương xương sườn trước đó. Điều này khiến ông bỏ lỡ Euro 2000.

Kinh nghiệm của Batty là yếu tố quan trọng giúp Leeds giành quyền dự UEFA Champions League, cũng như vào bán kết cả Cúp UEFA lẫn Champions League; tuy nhiên, khi O'Leary bị Leeds sa thải vào năm 2002, Batty không còn được các huấn luyện viên kế nhiệm trọng dụng. Ông dính chấn thương trong trận gặp câu lạc bộ cũ Newcastle United ngày 7 tháng 1 năm 2004; đó hóa ra là trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp của ông.[12] Ông giải nghệ sau khi được Leeds giải phóng vào tháng 5 năm 2004.[13]

Sự nghiệp quốc tế

Những màn trình diễn của Batty cho Leeds giúp ông ra mắt đội tuyển Anh dưới thời Graham Taylor trong chiến thắng 3–0 trước Liên Xô vào tháng 5 năm 1991, khi 22 tuổi. Tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1998, Batty là một cầu thủ thường xuyên của Anh dưới thời Glenn Hoddle, nhưng chỉ đá chính hạn chế trong bốn trận mà Anh thi đấu; ông được nhớ đến, cùng với Paul Ince, vì đá hỏng luân lưu trước Argentina, khiến đội không thể vào tứ kết.[14] Tổng cộng, Batty có 42 lần khoác áo đội tuyển Anh, lần cuối là trận hòa 0–0 với Ba Lan năm 1999, nơi ông bị truất quyền thi đấu ở phút 84.[15]

Đời tư

Sau khi giải nghệ, Batty từng xuất hiện trong The Match, nơi một đội gồm các cựu cầu thủ chuyên nghiệp đối đầu với một đội gồm những người nổi tiếng trong một trận đấu từ thiện được tổ chức tại sân St James' Park của Newcastle.[16]

Sau khi ông giải nghệ, một số cựu đồng đội của Batty, trong đó có Alan ShearerJeff Kenna, từng nhận xét rằng Batty dường như không thật sự thích bóng đá và không có nhiều hứng thú với môn này, chỉ thi đấu vì ông giỏi. Shearer nói rằng Batty không bao giờ nghiên cứu trận đấu hay xem các trận khác, và ông luôn là người cuối cùng vào sân tập nhưng lại là người đầu tiên rời đi, nhưng bất chấp điều đó, ông là một đối thủ cực kỳ quyết liệt. Sau khi giải nghệ vào năm 2004, Batty tránh xa ánh đèn sân khấu, sống tại Yorkshire, hiếm khi trả lời phỏng vấn và hiếm khi tham dự các sự kiện.[4][17] Do Batty sống kín tiếng với truyền thông, Les Ferdinand từng nhắc lại các tin đồn rằng Batty là nhà vô địch Superbike dưới một cái tên khác hoặc đang sống trong một xe caravanFiley, nhưng nói rằng "thực tế thì bình thường hơn một chút: Batty chỉ đơn giản là tận hưởng cuộc sống hưu trí kín đáo cùng gia đình ở Yorkshire như ông luôn dự định".[3]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu[18]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp FA Cúp Liên đoàn Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Leeds United 1987–88 Second Division 23 1 1 0 0 0 2[a] 0 26 1
1988–89 Second Division 30 0 1 0 3 0 1[a] 0 35 0
1989–90 Second Division 42 0 1 0 2 0 4[a] 0 49 0
1990–91 First Division 37 0 6 0 6 0 4[a] 0 53 0
1991–92 First Division 40 2 0 0 4 0 1[a] 0 45 2
1992–93 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 30 1 3 0 2 0 4[b] 0 1[c] 0 40 1
1993–94 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 9 0 9 0
Tổng cộng 211 4 12 0 17 0 4 0 13 0 257 4
Blackburn Rovers 1993–94 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 26 0 4 0 2 0 32 0
1994–95 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 5 0 0 0 0 0 0 0 0 0 5 0
1995–96 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 23 1 1 0 4 0 5[b] 0 1[c] 0 34 1
Tổng cộng 54 1 5 0 6 0 5 0 1 0 71 1
Newcastle United 1995–96 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 11 1 11 1
1996–97 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 32 1 3 0 2 0 7[d] 0 1[c] 0 45 1
1997–98 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 32 1 6 1 2 0 7[b] 0 47 2
1998–99 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 8 0 2 0 1[e] 0 11 0
Tổng cộng 83 3 9 1 6 0 15 0 1 0 114 4
Leeds United 1998–99 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 10 0 0 0 10 0
1999–2000 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 16 0 0 0 2 0 4[d] 0 22 0
2000–01 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 16 0 2 0 0 0 8[b] 0 26 0
2001–02 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 36 0 1 0 1 0 6[d] 0 44 0
2002–03 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
2003–04 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 12 0 1 0 1 0 14 0
Tổng cộng 90 0 4 0 4 0 18 0 116 0
Tổng cộng sự nghiệp 438 8 30 1 33 0 42 0 15 0 558 9
  1. ^ a b c d e Lần ra sân ở Full Members' Cup
  2. ^ a b c d Lần ra sân ở UEFA Champions League
  3. ^ a b c Lần ra sân ở FA Charity Shield
  4. ^ a b c Lần ra sân ở Cúp UEFA
  5. ^ Lần ra sân ở UEFA Cup Winners' Cup

Quốc tế

Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm[19]
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Anh 1991 7 0
1992 4 0
1993 3 0
1994 1 0
1995 2 0
1996 2 0
1997 8 0
1998 10 0
1999 5 0
Tổng cộng 42 0

Danh hiệu

Leeds United

Newcastle United

Cá nhân

Tham khảo

  1. ^ a b c "David Batty". Barry Hugman's Footballers.
  2. ^ "David Batty: Overview". Premier League. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2021.
  3. ^ a b Ciaran Kelly (ngày 25 tháng 11 năm 2022). "David Batty 'living life to full' and Newcastle and Leeds United favourite's fury at Pizza Hut". Chronicle. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2022.
  4. ^ a b Alex James (ngày 14 tháng 5 năm 2020). "The Blackburn Rovers title winner who didn't like football - the curious case of David Batty". LancsLive. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2022.
  5. ^ "David Batty". 11v11.com. AFS Enterprises. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2021.
  6. ^ "Rewind to the 1980s". Leeds United F.C. ngày 23 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2010.
  7. ^ Swan, Peter; Collomosse, Andrew (2008), Swanny: Confessions of a Lower-League Legend, John Blake, ISBN 978-1-84454-660-2
  8. ^ Guy Hodgson (ngày 25 tháng 3 năm 1994). "Football: Batty effect takes over at Blackburn: Guy Hodgson on the best and worst buys of the season". The Independent. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2010.
  9. ^ Bill Borrows; talkSPORT (ngày 2 tháng 8 năm 2012). The talkSPORT Book of Premier League Legends. Simon and Schuster. tr. 37–. ISBN 978-1-84983-942-6.
  10. ^ "Le Saux and Batty shame Blackburn". The Independent. ngày 23 tháng 11 năm 1995. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014.
  11. ^ Guy Hodgson (ngày 24 tháng 2 năm 1996). "Batty finally set for Newcastle". The Independent. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2010.
  12. ^ "Newcastle 1–0 Leeds". BBC Sport. ngày 7 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011.
  13. ^ Walker, Graham (ngày 14 tháng 5 năm 2004). "Six Departures Confirmed". Leeds United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2020.
  14. ^ David Batty Statistics FIFA. Retrieved 22 tháng 1 năm 2010.
  15. ^ "Archive:David Batty". The Football Association. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2010.
  16. ^ "Sky One:The Match". BSkyB. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2010.
  17. ^ "'Nobody can get hold of him' - what happened to David Batty?". BBC Sport. ngày 7 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2026.
  18. ^ David Batty tại Cơ quan Lưu trữ Bóng đá Quốc gia Anh (ENFA) (cần đăng ký mua)
  19. ^ "David Batty - International Appearances". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation.
  20. ^ Rollin, Jack, biên tập (1992). Rothmans Football Yearbook 1992–93. London: Headline Publishing Group. tr. 282–283, 594. ISBN 978-0-7472-7905-1.
  21. ^ Rollin, Jack, biên tập (1990). Rothmans Football Yearbook 1990–91. London: Queen Anne Press. tr. 302–303, 614. ISBN 978-0-356-17911-7.
  22. ^ Fox, Norman (ngày 8 tháng 8 năm 1992). "Football / Charity Shield: Cantona offers no charity". The Independent. London. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2024.
  23. ^ Moore, Glenn (ngày 18 tháng 5 năm 1998). "Football: Gunners train sights on European glory". The Independent. London. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2021.
  24. ^ Lynch, Tony (1995). The Official P.F.A. Footballers Heroes. London: Random House. tr. 150. ISBN 978-0-09-179135-3.
  25. ^ Hugman, Barry J., biên tập (1997). The 1997–98 Official PFA Footballers Factfile. Harpenden: Queen Anne Press. tr. 317. ISBN 978-1-85291-581-0.
  26. ^ Hugman, Barry J., biên tập (1998). The 1998–99 Official PFA Footballers Factfile. Harpenden: Queen Anne Press. tr. 352. ISBN 978-1-85291-588-9.
  27. ^ "Blackburn Rovers FC Player of the Year Award Winners". myfootballfacts.com. ngày 11 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2026.
  28. ^ Mitchinson, Rory (ngày 16 tháng 5 năm 2022). "Joelinton scoops Newcastle United Player of the Year award". Newcastle United F.C. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2023.

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).