Football League First Division 1991–92
| Mùa giải | 1991–92 |
|---|---|
| Vô địch | Leeds United danh hiệu Anh thứ 3 |
| Xuống hạng | Luton Town Notts County West Ham United |
| Champions League | Leeds United |
| European Cup Winners' Cup | Liverpool |
| Cúp UEFA | Manchester United Sheffield Wednesday |
| Số trận đấu | 462 |
| Số bàn thắng | 1.174 (2,54 bàn mỗi trận) |
| Vua phá lưới | Ian Wright (29 bàn)[1] |
| Chiến thắng sân nhà đậm nhất | Arsenal 7–1 Sheffield Wednesday (15 tháng 2 năm 1992) |
| Chiến thắng sân khách đậm nhất | Sheffield Wednesday 1–6 Leeds United (12 tháng 1 năm 1992) |
| Trận có nhiều bàn thắng nhất | Oldham Athletic 3–6 Manchester United (26 tháng 12 năm 1991) |
| Chuỗi thắng dài nhất | 6 trận Southampton |
| Chuỗi bất bại dài nhất | 17 trận Arsenal |
| Chuỗi thua dài nhất | 6 trận Norwich City |
← 1990–91 | |
Football League First Division 1991–92 là mùa giải thứ 93 trong lịch sử Football League First Division, và là mùa giải cuối cùng của hạng đấu này với tư cách hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh.
Tổng quan
Leeds United giành chức vô địch quốc gia cuối cùng trước khi Premier League ra đời, nhờ đóng góp của các cầu thủ như Gordon Strachan, Lee Chapman, David Batty và Gary McAllister. Ngày 26 tháng 4 năm 1992, Leeds đánh bại Sheffield United 3–2 tại Bramall Lane, và chức vô địch của họ được xác nhận sau thất bại 0–2 của Manchester United trước Liverpool tại Anfield.
Đội mới thăng hạng Sheffield Wednesday kết thúc ở vị trí thứ ba và giành quyền tham dự UEFA Cup.
Đương kim vô địch mùa giải trước Arsenal tụt xuống vị trí thứ 4 và chưa bao giờ tạo ra mối đe dọa thật sự trong cuộc đua bảo vệ danh hiệu. Á quân mùa giải trước Liverpool tụt xuống vị trí thứ 6 trong mùa giải trọn vẹn đầu tiên dưới sự dẫn dắt của Graeme Souness, dù họ giành Cúp FA. Đối thủ vùng Merseyside của Liverpool là Everton kết thúc đáng thất vọng ở vị trí thứ 12 – tụt ba bậc so với vị trí của họ ở mùa giải trước.
Ngày 25 tháng 4 năm 1992, đội mới thăng hạng West Ham United xuống hạng sau thất bại 0–1 trước Coventry City. Chiến thắng này của Coventry cũng khiến Notts County – một đội mới thăng hạng khác – xuống hạng, khiến thất bại 0–2 của họ trước Manchester City cùng ngày chỉ còn mang ý nghĩa thủ tục. Ngày cuối cùng của mùa giải chứng kiến Luton Town mất vị trí ở hạng đấu cao nhất sau mười mùa giải. Họ cần thắng Notts County và Coventry phải thua Aston Villa. Coventry quả thực thua 0–2 tại Villa Park, nhưng đáng tiếc cho Luton, họ thua 1–2, kết quả giúp Coventry trụ hạng và đẩy Luton xuống hạng.
Trong phần lớn mùa giải, tiền đạo 21 tuổi của Southampton, Alan Shearer, là mục tiêu của nhiều đồn đoán trên truyền thông về khả năng chuyển đến một câu lạc bộ hàng đầu First Division. Những đội như Liverpool và Manchester United được liên hệ mạnh mẽ với chữ kí của ông trong mùa thu, nhưng Shearer quyết định ở lại bờ biển phía nam trước khi đưa ra quyết định về tương lai của mình vào cuối mùa giải. Shearer lần đầu được triệu tập vào đội tuyển Anh vào tháng 2 năm 1992, và ghi bàn trong trận ra mắt. Một tiền đạo người Anh khác khẳng định mình là cây ghi bàn hàng đầu ở cấp độ này trong mùa giải đó là tiền đạo David Hirst của Sheffield Wednesday, người ghi những bàn thắng giúp Owls vô địch League Cup và trở lại First Division ngay lập tức trong mùa giải 1990–91, đồng thời nằm trong nhóm cầu thủ ghi bàn hàng đầu First Division ở mùa giải 1991–92.
Cầu thủ chạy cánh tuổi teen của Manchester United, Ryan Giggs, người đã thi đấu hai trận cho đội một ở mùa giải trước, nhận được nhiều lời khen nhờ các màn trình diễn xuất sắc và giành giải PFA Young Player of the Year cũng như huy chương vô địch League Cup, qua đó khẳng định vị trí thường xuyên trước sinh nhật lần thứ 18. Những cầu thủ trẻ khác gây chú ý trong mùa giải này gồm cầu thủ chạy cánh tuổi teen Steve McManaman và tân binh Rob Jones của Liverpool, tiền đạo người Trinidad Dwight Yorke của Aston Villa và tiền vệ Roy Keane của Nottingham Forest.
Khi một làn sóng tên tuổi mới bắt đầu chiếm lĩnh bóng đá Anh, tiền đạo ghi nhiều bàn của Tottenham Hotspur, Gary Lineker, tuyên bố vào tháng 11 rằng ông sẽ rời câu lạc bộ vào cuối mùa giải để kí hợp đồng với đội bóng Nhật Bản Grampus Eight, đồng thời xác nhận quyết định chia tay đội tuyển Anh sau Giải vô địch châu Âu mùa hè năm đó.
Nhân sự và trang phục
(Tính đến tháng 5 năm 1992)
- a.^ Souness vắng mặt trong nhiệm vụ sau khi được chẩn đoán mắc bệnh tim vào ngày 8 tháng 4 năm 1992. Dù Souness vẫn chính thức giữ chức huấn luyện viên đội bóng, Ronnie Moran trên thực tế đảm nhiệm vai trò này trong phần còn lại của mùa giải.[2]
- b.^ Trevor Peake được cho là đội trưởng của đội vào tháng 1, nhưng chưa rõ ông được bổ nhiệm vào thời điểm nào.[3]
Thay đổi huấn luyện viên
| Đội bóng | Huấn luyện viên rời đi | Cách thức rời chức | Ngày bỏ trống vị trí | Vị trí trên bảng xếp hạng | Huấn luyện viên đến | Ngày bổ nhiệm |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Aston Villa | Đồng thuận chấm dứt hợp đồng | 28 tháng 5 năm 1991 | Trước mùa giải | 8 tháng 6 năm 1991 | ||
| Queens Park Rangers | Bị sa thải | 31 tháng 5 năm 1991 | 1 tháng 6 năm 1991 | |||
| Tottenham Hotspur | Trở thành tổng giám đốc | 1 tháng 6 năm 1991 | 1 tháng 6 năm 1991 | |||
| Sheffield Wednesday | Được Aston Villa kí hợp đồng | 8 tháng 6 năm 1991 | 8 tháng 6 năm 1991 | |||
| Luton Town | Bị sa thải | 13 tháng 6 năm 1991 | 15 tháng 6 năm 1991 | |||
| Wimbledon | Từ chức | 7 tháng 10 năm 1991 | Thứ 8 | 10 tháng 10 năm 1991 | ||
| Coventry City | Bị sa thải | 6 tháng 1 năm 1992 | Thứ 17 | 7 tháng 1 năm 1992 | ||
| Wimbledon | 19 tháng 1 năm 1992 | Thứ 19 | 19 tháng 1 năm 1992 | |||
| Norwich City | Từ chức | 1 tháng 5 năm 1992 | Thứ 18 | 1 tháng 5 năm 1992 |
Bảng xếp hạng giải đấu
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Leeds United (C) | 42 | 22 | 16 | 4 | 74 | 37 | +37 | 82 | Giành quyền tham dự vòng Một UEFA Champions League và giành quyền tham dự FA Premier League |
| 2 | Manchester United | 42 | 21 | 15 | 6 | 63 | 33 | +30 | 78 | Giành quyền tham dự vòng Một Cúp UEFA và giành quyền tham dự FA Premier League[a] |
| 3 | Sheffield Wednesday | 42 | 21 | 12 | 9 | 62 | 49 | +13 | 75 | |
| 4 | Arsenal | 42 | 19 | 15 | 8 | 81 | 46 | +35 | 72 | Giành quyền tham dự FA Premier League |
| 5 | Manchester City | 42 | 20 | 10 | 12 | 61 | 48 | +13 | 70 | |
| 6 | Liverpool | 42 | 16 | 16 | 10 | 47 | 40 | +7 | 64 | Giành quyền tham dự vòng Một European Cup Winners' Cup và giành quyền tham dự FA Premier League |
| 7 | Aston Villa | 42 | 17 | 9 | 16 | 48 | 44 | +4 | 60 | Giành quyền tham dự FA Premier League |
| 8 | Nottingham Forest | 42 | 16 | 11 | 15 | 60 | 58 | +2 | 59 | |
| 9 | Sheffield United | 42 | 16 | 9 | 17 | 65 | 63 | +2 | 57 | |
| 10 | Crystal Palace | 42 | 14 | 15 | 13 | 53 | 61 | −8 | 57 | |
| 11 | Queens Park Rangers | 42 | 12 | 18 | 12 | 48 | 47 | +1 | 54 | |
| 12 | Everton | 42 | 13 | 14 | 15 | 52 | 51 | +1 | 53 | |
| 13 | Wimbledon | 42 | 13 | 14 | 15 | 53 | 53 | 0 | 53 | |
| 14 | Chelsea | 42 | 13 | 14 | 15 | 50 | 60 | −10 | 53 | |
| 15 | Tottenham Hotspur | 42 | 15 | 7 | 20 | 58 | 63 | −5 | 52 | |
| 16 | Southampton | 42 | 14 | 10 | 18 | 39 | 55 | −16 | 52 | |
| 17 | Oldham Athletic | 42 | 14 | 9 | 19 | 63 | 67 | −4 | 51 | |
| 18 | Norwich City | 42 | 11 | 12 | 19 | 47 | 63 | −16 | 45 | |
| 19 | Coventry City | 42 | 11 | 11 | 20 | 35 | 44 | −9 | 44 | |
| 20 | Luton Town (R) | 42 | 10 | 12 | 20 | 38 | 71 | −33 | 42 | Xuống hạng First Division[b] |
| 21 | Notts County (R) | 42 | 10 | 10 | 22 | 40 | 62 | −22 | 40 | |
| 22 | West Ham United (R) | 42 | 9 | 11 | 22 | 37 | 59 | −22 | 38 |
Quy tắc xếp hạng: 1) điểm; 2) hiệu số bàn thắng bại; 3) số bàn thắng ghi được
(C) Vô địch; (R) Xuống hạng
Ghi chú:
- ^ Manchester United cũng vô địch League Cup – suất tham dự Cúp UEFA đó được chuyển xuống cho đội xếp thứ ba tại League.[4][5]
- ^ Từ mùa giải 1992–93, hạng đấu cao nhất trở thành Premier League, còn hạng đấu thứ hai, khi đó được gọi là Second Division 1991–92, được đổi tên thành First Division.
Kết quả
Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất
| Hạng | Cầu thủ | Câu lạc bộ | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| 1 | Crystal Palace/Arsenal | 29 | |
| 2 | Tottenham Hotspur | 28 | |
| 3 | Wimbledon | 18 | |
| Sheffield Wednesday | |||
| Manchester United | |||
| Manchester City | |||
| 7 | Crystal Palace | 17 | |
| 8 | Leeds United | 16 | |
| 9 | Everton | 15 | |
| 10 | Wimbledon | 14 |
Hat-trick
| Cầu thủ | Cho | Trước | Kết quả | Ngày | Tham khảo |
|---|---|---|---|---|---|
| Sheffield Wednesday | Queens Park Rangers | 4–1 (H) | 31 tháng 8 năm 1991 | ||
| Everton | Coventry City | 3–0 (H) | 21 tháng 9 năm 1991 | ||
| Tottenham Hotspur | Wimbledon | 5–3 (A) | 21 tháng 9 năm 1991 | ||
| Arsenal | Southampton | 4–0 (A) | 28 tháng 9 năm 1991 | ||
| Everton | Tottenham Hotspur | 3–1 (H) | 5 tháng 10 năm 1991 | ||
| Arsenal | Everton | 4–2 (H) | 21 tháng 12 năm 1991 | ||
| Queens Park Rangers | Manchester United | 4–1 (A) | 1 tháng 1 năm 1992 | [6] | |
| Leeds United | Sheffield Wednesday | 6–1 (A) | 12 tháng 1 năm 1992 | ||
| Leeds United | Wimbledon | 5–1 (H) | 14 tháng 3 năm 1992 | ||
| Norwich City | Everton | 4–3 (H) | 21 tháng 3 năm 1992 | ||
| Tottenham Hotspur | Coventry City | 4–3 (H) | 28 tháng 3 năm 1992 | ||
| Tottenham Hotspur | West Ham United | 3–0 (H) | 1 tháng 4 năm 1992 | ||
| Arsenal | Crystal Palace | 4–1 (H) | 11 tháng 4 năm 1992 | ||
| Oldham Athletic | Luton Town | 5–1 (H) | 11 tháng 4 năm 1992 | ||
| Manchester City | Oldham Athletic | 5–2 (A) | 2 tháng 5 năm 1992 | ||
| Arsenal | Southampton | 5–1 (H) | 2 tháng 5 năm 1992 | ||
| West Ham United | Nottingham Forest | 3–0 (H) | 2 tháng 5 năm 1992 |
- Ghi chú: (H) – Sân nhà; (A) – Sân khách
Lượng khán giả
Nguồn:[7]
| Số | Câu lạc bộ | Trận | Tổng lượng khán giả | Trung bình |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Manchester United | 21 | 944.678 | 44.985 |
| 2 | Liverpool FC | 21 | 733.769 | 34.941 |
| 3 | Arsenal FC | 21 | 669.915 | 31.901 |
| 4 | Sheffield Wednesday | 21 | 621.140 | 29.578 |
| 5 | Leeds United | 21 | 619.349 | 29.493 |
| 6 | Tottenham Hotspur | 21 | 582.978 | 27.761 |
| 7 | Manchester City | 21 | 581.451 | 27.688 |
| 8 | Aston Villa | 21 | 521.039 | 24.811 |
| 9 | Nottingham Forest | 21 | 498.138 | 23.721 |
| 10 | Everton FC | 21 | 485.954 | 23.141 |
| 11 | Sheffield United | 21 | 462.468 | 22.022 |
| 12 | West Ham United | 21 | 447.024 | 21.287 |
| 13 | Chelsea FC | 21 | 394.366 | 18.779 |
| 14 | Crystal Palace | 21 | 369.644 | 17.602 |
| 15 | Oldham Athletic | 21 | 316.825 | 15.087 |
| 16 | Southampton FC | 21 | 312.097 | 14.862 |
| 17 | Coventry City | 21 | 291.884 | 13.899 |
| 18 | Norwich City | 21 | 290.918 | 13.853 |
| 19 | Queens Park Rangers | 21 | 285.783 | 13.609 |
| 20 | Notts County | 21 | 233.828 | 11.135 |
| 21 | Luton Town | 21 | 204.822 | 9.753 |
| 22 | Wimbledon FC | 21 | 148.181 | 7.056 |
Tham khảo
- ^ "English League Leading Goalscorers". RSSSF. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Profile: Tougher than his old boots: Graeme Souness, still managing Liverpool". The Independent. ngày 23 tháng 1 năm 1993. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2015.
- ^ "Nottingham Forest 1 Luton Town 1". When Saturday Comes (WSC). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
- ^ "The Competition – EFL". English Football League.
- ^ "European qualification for UEFA competitions explained". premierleague.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2022.
- ^ Hat-trick hero still going strong, BBC Sport, 3 tháng 2 năm 2006
- ^ https://www.worldfootball.net/competition/co91/se4725/attendance/
- Trang có các đối số formatnum không phải số
- Bài có mô tả ngắn
- Trang có mô tả ngắn không viết hoa chữ đầu
- Bài viết có trích dẫn không khớp
- Bài viết sử dụng hCard
- Football League First Division 1991–92
- Mùa giải Football League First Division
- Giải bóng đá châu Âu 1991–92
- Football League 1991–92
- Giải bóng đá nam Anh 1991–92