*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia
Trong sự nghiệp thi đấu, ông được biết đến với biệt danh soldatino (người lính đồ chơi) hoặc soldatino Di Livio, biệt danh do đồng đội tại Juventus khi đó là Roberto Baggio đặt cho ông vì vóc dáng nhỏ bé, dáng đứng và cách chạy lên xuống biên đặc trưng của Di Livio.[2][3][4]
Sinh tại Roma, Di Livio bắt đầu sự nghiệp với Roma vào năm 1984. Sau khi không ra sân lần nào trong mùa giải duy nhất tại câu lạc bộ, Di Livio lần lượt thi đấu cho Reggiana (1985–86), Nocerina (1986–87), Perugia (1987–89), Padova (1989–93), Juventus (1993–99) và Fiorentina (1999–2005).
Năm 1999, ông chuyển đến Fiorentina, nơi ông mang băng đội trưởng giúp đội giành Coppa Italia trong mùa giải 2000–01. Năm 2002, khi AC Fiorentina phá sản và được tái lập dưới tên Florentia Viola tại Serie C2, Di Livio thể hiện sự tận tụy khi là cầu thủ duy nhất ở lại với đội, thi đấu cùng câu lạc bộ qua các hạng đấu thấp của bóng đá Ý trong hành trình trở lại Serie A vào năm 2004, trước khi cuối cùng giải nghệ sau khi mùa giải Serie A kết thúc.
Sự nghiệp quốc tế
Di Livio có 40 lần khoác áo Ý. Ông thi đấu cho Ý tại Euro 96, Giải vô địch bóng đá thế giới 1998, Euro 2000, nơi Ý giành vị trí á quân, và Giải vô địch bóng đá thế giới 2002. Lần khoác áo đầu tiên của ông diễn ra vào ngày 6 tháng 9 năm 1995 trước Slovenia; lần cuối cùng là vào ngày 18 tháng 6 năm 2002 trước Hàn Quốc. Tại Euro 1996, ông kiến tạo bàn thắng đầu tiên của Pierluigi Casiraghi trong chiến thắng 2–1 của đội ở trận mở màn vòng bảng trước Nga.[5] Trong màu áo Ý, ông thường được sử dụng như một cầu thủ giữ thế trận để khóa chặt trận đấu khi đội đang dẫn trước, qua đó bảo toàn chiến thắng.
Sau khi giải nghệ
Sau khi giải nghệ, Di Livio làm huấn luyện viên trong hệ thống trẻ của AS Roma, phụ trách đội Allievi "Coppa Lazio".[6]
Phong cách thi đấu
Là một cầu thủ nhanh nhẹn, giàu kinh nghiệm, giàu năng lượng, giàu tính chiến đấu, đáng tin cậy và đa năng về chiến thuật, Di Livio thường được bố trí ở cánh phải, mặc dù ông có thể thi đấu ở cả hai biên, với vai trò tiền vệ biên, hậu vệ biên hoặc hậu vệ cánh, nhờ khả năng chơi bóng bằng cả hai chân. Ông cũng có thể thi đấu ở trung tâm, như một tiền vệ con thoi hoặc tiền vệ phòng ngự, thậm chí cả trong hàng phòng ngự. Dù không phải là cầu thủ có tài năng thiên bẩm hoặc kỹ thuật nổi bật nhất, ông là một cầu thủ cực kỳ ổn định, thông minh và kỷ luật, được biết đến nhờ tốc độ, sức bền, cường độ hoạt động và sức mạnh dù có vóc dáng nhỏ bé. Ông cũng nổi bật nhờ sự bền bỉ, tinh thần thi đấu, tính chuyên nghiệp, khả năng kèm người và độ chính xác khi tạt bóng, cũng như khả năng thực hiện các pha bứt tốc tấn công dọc biên nhưng cũng lùi về phòng ngự, cho phép ông bao quát hành lang cánh hiệu quả và có một sự nghiệp thành công.[2][3][7][8][9][10][11][12][13][14]
Đời tư
Con trai của Angelo, Lorenzo, cũng là một cầu thủ bóng đá;[15] là sản phẩm đào tạo trẻ của Roma, hiện anh thi đấu cho Latina. Con gái ông, Alessia, là nhà sản xuất nhạc điện tử và DJ, biểu diễn dưới nghệ danh ADIEL.[16]
Quảng bá
Là một trong những cầu thủ bóng đá nổi tiếng nhất thế hệ của mình, Di Livio vẫn duy trì được ảnh hưởng trước công chúng và danh tiếng tích cực cho đến nay. Năm 2011, Angelo Di Livio được chọn làm "đại sứ thương hiệu" cho thương hiệu planetwin365 của SKS365.[17]
^"Comunicato Ufficiale N. 352" [Official Press Release No. 352] (PDF) (bằng tiếng Ý). Lega Serie A. ngày 24 tháng 5 năm 2005. tr. 4. Bản gốc(PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2020.
^ ab"Io, "Soldatino" Di Livio". Pianeta-Calcio.it. ngày 23 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013.
^ abMaria Elena Ribezzo; Giorgio Dell'Arti (ngày 17 tháng 1 năm 2014). "Biografia di Angelo Di Livio" (bằng tiếng Ý). www.cinquantamila.it. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2017.
^Phil Cole (ngày 13 tháng 7 năm 2000). "Profile: Angelo Di Livio". ESPN FC. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017.
^Germano Bovolenta; Nicola Cecere (ngày 3 tháng 7 năm 1998). "Niente paura, noi siamo l' Italia" (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2019.
^Mason, Joshua (ngày 12 tháng 9 năm 2016). "Serie A- Keeping in it in La Famiglia | IFD". www.italianfootballdaily.com (bằng tiếng Anh). Italian Football Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016.
^Brzezicka, Alex (ngày 22 tháng 3 năm 2022). "Adiel's techno music". www.lampoonmagazine.com (bằng tiếng Anh). Lampoon. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
^"ONORIFICENZE". quirinale.it (bằng tiếng Ý). ngày 12 tháng 7 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015.
Liên kết ngoài
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về [{{fullurle:Commons:Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataIB tại dòng 473: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).|uselang=vi}} Angelo Di Livio].