Bước tới nội dung

Giải vô địch bóng đá châu Âu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Hộp thông tin giải đấu bóng đá Bản mẫu:Season sidebar

Giải vô địch bóng đá châu Âu (UEFA European Football Championship),[1] thường được biết đến với tên gọi UEFA Euro hay Euro, là giải bóng đá quốc tế dành cho các đội tuyển quốc gia nam của các thành viên Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA), nhằm xác định nhà vô địch châu lục của châu Âu. Giải đấu thường được tổ chức bốn năm một lần kể từ năm 1960, ngoại trừ giải năm 2020 được tổ chức vào năm 2021 do đại dịch COVID-19 diễn ra ở châu Âu. Được lên lịch vào các năm chẵn giữa các giải đấu World Cup, ban đầu nó được gọi là Cúp các quốc gia châu Âu, và được đổi thành tên hiện tại vào năm 1968. Bắt đầu từ giải đấu năm 1996, các chức vô địch cụ thể thường được gọi là "UEFA Euro"; thể thức này kể từ đó đã được áp dụng trở lại cho các giải đấu trước 1996.

Trước khi tham gia giải đấu, tất cả các đội không phải quốc gia đăng cai (tự động đủ điều kiện) sẽ thi đấu trong giai đoạn vòng loại. Cho đến năm 2016, những đội giành chức vô địch có thể thi đấu ở Cúp Liên đoàn các châu lục.[2]

Sau 17 lần tổ chức, giải vô địch châu Âu đã có 10 đội vô địch: Tây Ban Nha vô địch 4 lần, Đức vô địch 3 lần, PhápÝ có 2 lần vô địch, và các đội Liên Xô, Tiệp Khắc, Hà Lan, Đan Mạch, Hy Lạp mỗi đội đều 1 lần lên ngôi. Cho đến nay, Tây Ban Nha là đội duy nhất trong lịch sử đã vô địch 2 lần liên tiếp, vào các năm 2008 và 2012. Đây là giải đấu bóng đá được theo dõi nhiều thứ 2 trên thế giới sau FIFA World Cup. Với hàng loạt kỷ lục vô tiền khoáng hậu tại các vòng chung kết UEFA EURO. Đương kim vô địch của giải đấu là đội tuyển Tây Ban Nha sau khi vượt qua đội tuyển Anhkỳ tổ chức năm 2024.

Lịch sử

Ý tưởng tổ chức giải vô địch bóng đá châu Âu được tổng thư ký Liên đoàn bóng đá Pháp Henri Delaunay đề xuất từ năm 1927 nhưng mãi đến năm 1958 (3 năm sau khi Henri Delaunay qua đời) giải đấu mới được tổ chức.[3] Chiếc cúp vô địch được đặt tên Henri Delaunay để tưởng nhớ đến công lao khai sinh giải đấu của ông.[4]

Euro 1960 tại Pháp là giải vô địch bóng đá châu Âu đầu tiên được UEFA tổ chức. Đội vô địch là Liên Xô, sau khi đánh bại Nam Tư 2–1 trong trận chung kết tại Paris. Giải đấu được tổ chức theo hình thức loại trực tiếp với 17 đội tham dự. Có nhiều sự vắng mặt đáng chú ý khi các đội mạnh như Tây Đức, Ý hay Anh từ chối tham dự giải. Các đội đá hai lượt đi và về theo thể thức sân nhà – sân khách cho tới vòng bán kết. 4 đội mạnh nhất sẽ tham dự vòng chung kết được tổ chức ở 1 trong 4 nước giành quyền vào bán kết. Ở tứ kết, Tây Ban Nha từ chối đến Liên Xô và rút khỏi giải đấu, vì vậy lọt vào bán kết có 3 đại diện Đông Âu: Liên Xô, Nam Tư và Tiệp Khắc, cùng đội chủ nhà Pháp. Ở bán kết, Liên Xô dễ dàng vượt qua Tiệp Khắc tại Marseille với tỉ số 3–0. Trận bán kết còn lại có tới 9 bàn thắng và kết thúc với tỉ số 5–4 nghiêng về Nam Tư. Nam Tư đã hai lần bị đối phương dẫn trước với khoảng cách hai bàn, nhưng đã lật ngược tình thế thành công. Tiệp Khắc đánh bại Pháp 2–0 để giành vị trí thứ 3. Trong trận chung kết, Nam Tư ghi bàn trước, nhưng Liên Xô, có trong đội hình thủ môn huyền thoại Lev Yashin, gỡ hòa ở phút 49. Sau 90 phút, tỷ số là 1–1 và Viktor Ponedelnik ghi bàn khi hiệp phụ thứ hai còn 7 phút nữa là kết thúc, để mang chiếc cúp vô địch châu Âu đầu tiên về cho Liên Xô.

Euro 1964 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ hai do UEFA tổ chức theo chu kỳ 4 năm 1 lần. Vòng chung kết diễn ra tại Tây Ban Nha và chức vô địch sau đó đã thuộc về nước chủ nhà sau khi họ vượt qua đương kim vô địch Liên Xô 2–1 trong trận chung kết. Giải đấu lần này vẫn theo thể thức loại trực tiếp như giải lần đầu tiên với 29 đội bóng tham dự. Chỉ có Hy Lạp bỏ cuộc sau trận hòa với Albania. Do số đội lẻ nên đương kim vô địch Liên Xô cùng hai đội ÁoLuxembourg qua bốc thăm không phải tham dự vòng loại đầu tiên. Các cặp đấu tiến hành đấu loại trực tiếp theo thể thức sân nhà – sân khách cho tới bán kết. Bốn đội cuối cùng sẽ thi đấu vòng chung kết được tổ chức tại một trong bốn nước có đội bóng tham dự. Ở giải này, Luxembourg trở thành khắc tinh của các đội bóng lớn khi hạ Hà Lan 3-2 sau hai lượt, và thủ hòa với Đan Mạch 3–3 và 2–2, trước khi thất bại 0–1 ở trận tái đấu. Đan Mạch gây bất ngờ nhất khi lọt vào tới vòng chung kết, cùng với Liên Xô, Tây Ban Nha và Hungary. Tại bán kết, Liên Xô đánh bại Đan Mạch 3–0 tại Barcelona và Tây Ban Nha hạ Hungary 2–1 sau hai hiệp phụ ở Madrid với bàn thắng quyết định của Amancio. Tây Ban Nha đã bỏ cuộc khỏi giải đấu trước năm 1960 khi từ chối thi đấu với Liên Xô, nhưng lần này nhà độc tài Franco đã cho phép đội nhà thi đấu với những người Xô viết. Trước hơn 79.000 khán giả tại sân Santiago Bernabéu ở Madrid, chủ nhà thắng 2–1 nhờ bàn thắng muộn của Marcelino.

Euro 1968 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 3 diễn ra tại Ý từ ngày 5 cho đến 10 tháng 6 năm 1968. So với các giải đấu trước, vòng loại kỳ Euro lần này có thay đổi khi lần đầu tiên áp dụng thể thức các đội được chia bảng, đấu vòng tròn tính điểm. Đây cũng là kỳ Euro duy nhất có hai trận chung kết. Đội tuyển chủ nhà Ý phải đợi đến trận đấu lại mới vượt qua được Nam Tư để giành chức vô địch châu Âu đầu tiên trong lịch sử của mình. Đây cũng là lần thứ hai đội bóng vùng Balkan thất bại trong trận đấu cuối cùng của giải, sau chức á quân giành được vào năm 1960. Đây cũng là lần duy nhất trận chung kết phải đá lại để phân định thắng thua.

Euro 1972 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 4 diễn ra tại Bỉ từ ngày 14 cho đến ngày 18 tháng 6 năm 1972. Tại giải, đội tuyển Tây Đức giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình. Với việc giành thêm chức vô địch thế giới hai năm sau đó tại World Cup 1974, đội Tây Đức trở thành tuyển quốc gia đầu tiên đồng thời giữ hai danh hiệu Đương kim vô địch châu Âu và vô địch thế giới.

Euro 1976 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 5 diễn ra tại Nam Tư, từ ngày 16 cho đến ngày 20 tháng 6 năm 1976. Tại giải, đội tuyển Tiệp Khắc giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình. Đây là giải đấu cuối cùng, vòng chung kết chỉ quy tụ bốn đội bóng và nước chủ nhà đăng cai vòng chung kết phải thi đấu vòng loại. Kể từ giải lần sau, vòng chung kết sẽ được mở rộng cho 8 đội tham gia, bao gồm 7 đội vượt qua vòng loại và quốc gia được chọn đăng cai vòng chung kết. Một điều đáng lưu ý nữa ở giải là tất cả các trận đấu đều buộc phải thi đấu hiệp phụ để phân định thắng thua. Trận chung kết giữa Tiệp Khắc và Tây Đức là trận đấu đầu tiên có áp dụng hình thức sút luân lưu sau hai hiệp phụ để phân thắng bại.

Euro 1980 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 6 diễn ra tại Ý từ ngày 11 cho đến ngày 22 tháng 6 năm 1980. Tại giải, đội tuyển Tây Đức giành chức vô địch châu Âu thứ hai của mình, và trở thành đội đầu tiên hai lần vô địch giải. Đây cũng là kỳ Euro cuối cùng kết thúc trận đấu tranh hạng 3.

Euro 1984 là Giải vô địch quốc gia châu Âu lần thứ 7 diễn ra từ ngày 12 đến 27/6 năm 1984 tại Pháp. Đây là kỳ Euro lần thứ 2 Pháp đăng cái giải đấu này (lần trước là kỳ Euro vào năm 1960). Vào thời điểm này, chỉ có 8 đội tham dự VCK, bao gồm 7 đội phải vượt qua vòng loại và nước chủ nhà. Dưới sự dẫn dắt của Michel Platini, Pháp đã xuất sắc giành chức vô địch trên sân nhà và đây cũng là danh hiệu lớn đầu tiên của họ. Đây cũng là kỳ Euro đầu tiên không có tranh hạng 3, thay vào đó xác định đội bóng vào trận chung kết.

Euro 1988 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ tám diễn ra tại Tây Đức từ ngày mùng 10 cho đến ngày 25 tháng 6 năm 1988. Tại giải, đội tuyển Hà Lan dưới sự dẫn dắt của bộ ba người "Hà Lan bay" (Marco van Basten, Ruud GullitFrank Rijkaard) giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình.

Euro 1992 được tổ chức ở Thụy Điển từ ngày 10 đến 26 tháng 6 năm 1992. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 9, được tổ chức bởi UEFA. Đan Mạch, đội đến Thụy Điển để thay thế cho Nam Tư (đã vượt qua vòng loại nhưng không tham gia được do có nội chiến xảy ra), đã tạo ra bất ngờ lớn khi giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình. Một đội tuyển khác "chính thức" không thi đấu vòng loại mà vẫn có mặt tại vòng chung kết Euro 1992 là đội tuyển SNG (tên tắt của Cộng đồng các Quốc gia Độc lập mới được tách ra từ Liên Xô). Năm 1991 Liên Xô tan vỡ và bị tách thành 15 nước độc lập, SNG được thành lập từ 12 nước trong 15 nước đó gồm Nga, Ukraina, Belarus, Azerbaijan, Gruzia, Kazakhstan, Uzbekistan, Turkmenistan, Kyrgyzstan, Armenia, Moldova và Tajikistan. Liên Xô đã vượt qua vòng loại được thay thế bằng đội tuyển SNG. Tại Euro 1992 có một điều đáng chú ý nữa là lần đầu tiên tại một vòng chung kết một giải đấu bóng đá lớn, tên riêng của mỗi cầu thủ được in sau lưng áo đấu của mình.

Euro 1996 được tổ chức ở Anh từ ngày mùng 8 đến ngày 30 tháng 6 năm 1996. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 10, được tổ chức bởi UEFA. Đức trở thành đội đầu tiên ba lần đoạt chức vô địch châu Âu khi giành ngôi quán quân của giải. Đây là kỳ Euro đầu tiên có 16 đội tham dự vòng chung kết. UEFA đưa ra quyết định này khi ở trong thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990, đối với các đội bóng châu Âu, vượt qua vòng loại World Cup còn dễ hơn vượt qua vòng loại của giải vô địch châu lục mình; 14 trên tổng số 24 đội tham dự World Cup 1982, 19861990 là các đội bóng thuộc Cựu lục địa, trong khi vòng chung kết Euro vẫn giữ nguyên thể thức 8 đội. Bắt đầu từ giải đấu này sẽ có thêm vòng tứ kết.

Euro 2000 là giải vô địch bóng đá châu Âu thứ 11 được đồng tổ chức bởi Bỉ và Hà Lan (lần đầu tiên trong lịch sử Euro) từ 10 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7 năm 2000. Giải đấu có sự tham gia của 16 đội tuyển quốc gia. Trong đó trừ hai nước chủ nhà Bỉ và Hà Lan, 14 đội còn lại phải vượt qua được vòng loại để tới vòng chung kết. Pháp là đội vô địch giải đấu này, sau chiến thắng 2-1 trước Italia trong trận chung kết, bằng bàn thắng vàng. Đây là lần thứ 3 trận chung kết giữa đội tuyển Pháp và đội tuyển Italia phải bước vào hiệp phụ vì hai đội hoà nhau với tỉ số 1-1 sau hai hiệp thi đấu chính thức 90 phút.

Euro 2004 được tổ chức ở Bồ Đào Nha từ ngày 12 tháng 6 đến ngày 4 tháng 7 năm 2004. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 12, được tổ chức bởi UEFA. Đội tuyển Hy Lạp gây bất ngờ lớn khi đoạt chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình, dù không được đánh giá cao trước khi giải diễn ra.

Lễ khai mạc UEFA Euro 2004 tại Bồ Đào Nha.

Euro 2008 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 13 do Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) tổ chức. Giải đấu được diễn ra trên các sân vận động của ÁoThụy Sĩ từ ngày mùng 7 và kết thúc với trận chung kết trên sân vận động Ernst Happel Stadion vào ngày 29 tháng 6 năm 2008. Đây là kỳ Euro lần thứ 2 trong lịch sử có hai quốc gia đồng tổ chức giải vô địch bóng đá châu Âu. Lần trước vào kỳ Euro 2000 do Bỉ và Hà Lan cùng đăng cai. Ở giải đấu này, Tây Ban Nha đã lần thứ hai vô địch Euro sau khi đánh bại Đức 1-0 ở trận chung kết nhờ pha lập công duy nhất của Fernando Torres.

Euro 2012 là giải vô địch bóng đá châu Âu thứ 14 được đăng cai tại hai quốc gia là Ba LanUkraina. Đây là kỳ Euro lần thứ 3 trong lịch sử và cũng là lần thứ 2 liên tiếp có 2 quốc gia đồng tổ chức kỳ Euro (lần trước là kỳ Euro 2008 do Áo và Thụy Sỹ cùng đăng cai). Giải bắt đầu từ ngày mùng 8 tháng 6 đến ngày mùng 2 tháng 7 năm 2012. Có tổng cộng 16 đội bóng tham dự chia thành 4 bảng A, B, C và D. Đây là giải đấu khẳng định sự thống trị của bóng đá Tây Ban Nha khi họ là đội bóng đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch Euro lần thứ 3 trong lịch sử và cũng là lần thứ 2 liên tiếp sau khi đánh bại Ý với tỷ số đậm 4–0 ở trận chung kết (đây là tỷ số đậm nhất trong một trận chung kết Euro). Qua đó kéo dài kỷ nguyên vinh quang khi họ có trong tay 3 chức vô địch của 3 giải đấu lớn liên tiếp là Euro 2008, World Cup 2010 và Euro 2012 (trong quá khứ đội tuyển Tây Đức không bảo vệ được chức vô địch Euro 1976 dù đã vào tới trận chung kết). Đây cũng là kỳ Euro cuối cùng có 16 đội tham dự.

Euro 2016 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 15 và là lần thứ 3 tổ chức tại Pháp. Giải đấu được bắt đầu tổ chức vào ngày 10 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 2016. Đây là kỳ Euro lần thứ 3, Pháp đăng cai giải đấu này (Lần trước là vào các năm 1960 và 1984). Đây là giải đấu đầu tiên có sự góp mặt của 24 đội bóng tham dự. Bắt đầu từ giải đấu này có thêm vòng 16 đội cùng với 4 đội xếp thứ 3 có thành tích tốt nhất. Ở giải đấu này, đội tuyển Bồ Đào Nha đã giành chức vô địch Euro lần đầu tiên sau khi đánh bại chủ nhà Pháp 1-0 ở trận chung kết nhờ pha lập công duy nhất của Éder. Đây cũng là lần đầu tiên đội tuyển Pháp nhận ngôi á quân của giải sau toàn thắng 2 lần trong 2 lần lọt vào trận chung kết của EURO năm đó. Đây là lần thứ 4 trận chung kết giũa đội tuyển Pháp và đội tuyển Bồ Đào Nha phải bước vào hiệp phụ vì hai đội hoà nhau với tỉ số 0-0 ở hai hiệp thi đấu chính thức 90 phút.

Euro 2020 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 16 và được tổ chức ở 11 thành phố trên khắp châu Âu (ban đầu diễn ra tại 13 thành phố nhưng đến gần khai mạc thì thủ đô Brussels của Bỉ bị loại khỏi danh sách vì việc xây dựng sân bóng mới bị trì hoãn và thủ đô Dublin của Cộng hòa Ireland cũng bị loại khỏi danh sách vì không đáp ứng được yêu cầu số lượng khán giả vào sân). Đây cũng là sự kiện kỉ niệm 60 năm ngày giải đấu đầu tiên được tổ chức. Đây cũng là kỳ Euro phải lùi lại 1 năm vì do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, nên ban tổ chức giải đấu quyết định giữ nguyên tên cũ: UEFA EURO 2020. Sân vận động Wembley sẽ là sân ưu tiên diễn ra 2 trận bán kết và 1 trận chung kết. Ở giải đấu này, đội tuyển Ý đã giành chức vô địch lần thứ hai sau khi đánh bại đội tuyển Anh trên chấm 11m sau khi hai đội hòa nhau 1-1 sau 120 phút thi đấu chính thức. Đây là trận chung kết lần thứ 3 trong lịch sử 2 đội bước vào loạt sút luân lưu để phân định thắng thua. Còn đội tuyển Bồ Đào Nha trở thành cựu vô địch sau khi thất bại trước đội tuyển Bỉ với tỉ số 0-1 ở vòng 1/8.

Euro 2024 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 17 và là lần thứ 2 tổ chức tại Đức. Ở giải đấu này, đội tuyển Tây Ban Nha đã giành chức vô địch sau khi đánh bại đội tuyển Anh với tỉ số 2-1 trong trận chung kết, qua đó trở thành đội tuyển đầu tiên giành 4 chức vô địch Euro. Đây cũng là lần thứ hai liên tiếp đội tuyển Anh nhận ngôi á quân của giải. Đội tuyển Italia chính thức trở thành cựu vô địch sau khi thất bại trước đội tuyển Thụy Sĩ với tỉ số 0-2 ở vòng 16 đội.

Euro 2028 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 18 được tổ chức tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc IrelandCộng hòa Ireland. Đây là lần thứ tư giải được tổ chức ở hai quốc gia.

Euro 2032 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 19 được tổ chức tại ÝThổ Nhĩ Kỳ. Đây là lần thứ năm giải được tổ chức ở hai quốc gia.

Chiếc cúp

Chiếc cúp được trưng bày vào năm 2021

Cúp Henri Delaunay, được trao cho đội vô địch Giải vô địch bóng đá châu Âu,[5] được đặt tên để vinh danh Henri Delaunay , Tổng thư ký đầu tiên của Liên đoàn bóng đá châu Âu, người đã đưa ra ý tưởng về một giải vô địch châu Âu nhưng đã qua đời năm năm trước giải đấu đầu tiên vào năm 1960. Con trai ông, Pierre , chịu trách nhiệm tạo ra chiếc cúp.[6] Kể từ giải đấu đầu tiên, nó đã được trao cho đội vô địch để họ giữ trong bốn năm, cho đến giải đấu tiếp theo. Chiếc cúp này có dòng chữ Coupe d'Europe (Bản mẫu:Lit), Coupe Henri Delaunay ( nghĩa đen là ' Cúp Henri Delaunay ' ) và Championnat d'Europe ( nghĩa đen là ' Giải vô địch châu Âu ' ) ở mặt trước và hình một cậu bé đang tung hứng ở mặt sau.   

Đối với giải đấu năm 2008 , Cúp Henri Delaunay đã được thiết kế lại để trở nên lớn hơn. Chiếc cúp mới, được làm bằng bạc nguyên chất, hiện nặng 8 kg và cao 60 cm, nặng hơn 2 kg và dài hơn 18 cm so với chiếc cúp cũ. Bệ đá cẩm thạch dùng làm đế đã được tháo bỏ. Đế bạc mới của chiếc cúp phải được mở rộng để đảm bảo độ ổn định. Tên của các quốc gia chiến thắng xuất hiện trên các tấm bảng được dán trên bệ giờ được khắc ở mặt sau của chiếc cúp,[7] dưới dòng chữ Coupe Henri Delaunay và được viết bằng tiếng Anh thay vì tiếng Pháp như trước đây. Từ năm 2016, hình ảnh cậu bé tung hứng đã được đưa trở lại mặt sau của chiếc cúp.

Các cầu thủ và huấn luyện viên của đội chiến thắng và đội á quân lần lượt được trao huy chương vàng và bạc. Mỗi liên đoàn tham gia giải đấu chung kết đều nhận được một tấm bảng kỷ niệm. Mỗi lần đội thua ở bán kết, cũng như mỗi đội vào chung kết, đều nhận được một tấm bảng kỷ niệm riêng. Mặc dù không còn trận tranh hạng ba , liên đoàn bóng đá châu âu đã quyết định trong giải đấu năm 2008 trao huy chương đồng cho các đội thua ở bán kết (Thổ Nhĩ Kỳ và Nga) lần đầu tiên,[8] và cũng làm tương tự trong giải đấu năm 2012 khi Đức và Bồ Đào Nha nhận huy chương đồng.[9] Tuy nhiên, liên đoàn bóng đá châu Âu đã quyết định rằng các đội thua ở bán kết sẽ không còn nhận được huy chương kể từ giải đấu năm 2016 trở đi.[10] Trước đây, huy chương đồng được trao cho những người chiến thắng trong trận tranh hạng ba, lần cuối cùng được tổ chức vào năm 1980.[11]

Kết quả

Giai đoạn từ 1960 đến 1980

Lần Năm Chủ nhà Chung kết Tranh hạng ba Số đội
Vô địch Tỉ số Á quân Hạng ba Tỉ số Hạng tư
1 1960  Pháp Bản mẫu:Fb-big 2–1 Bản mẫu:Aet(1) Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:Fb-big 2–0 Bản mẫu:Fb-big 4
2 1964 Bản mẫu:Country data Tây Ban Nha Bản mẫu:Fb-big 2–1 Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:Fb-big 3–1 Bản mẫu:Aet(1) Bản mẫu:Fb-big 4
3 1968  Ý Bản mẫu:Fb-big 1–1 Bản mẫu:Aet
Play-off 2–0
Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:Fb-big 2–0 Bản mẫu:Fb-big 4
4 1972  Bỉ Bản mẫu:Fb-big 3–0 Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:Fb-big 2–1 Bản mẫu:Fb-big 4
5 1976 Bản mẫu:Country data Nam Tư Bản mẫu:Fb-big 2–2 Bản mẫu:Aet
Bản mẫu:Pso
Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:Fb-big 3–2 Bản mẫu:Aet(1) Bản mẫu:Fb-big 4
6 1980  Ý Bản mẫu:Fb-big 2–1 Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:Fb-big 1–1 Bản mẫu:Aet
(9–8) Bản mẫu:Pso
Bản mẫu:Fb-big 8

Giai đoạn từ 1984 đến nay

Kể từ năm 1984, Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) đã không còn tổ chức trận tranh hạng ba. Vì vậy, giải đấu không còn xác định đội xếp hạng ba và hạng tư như các kỳ trước. Thay vào đó, các đội thua ở vòng bán kết sẽ được liệt kê theo thứ tự chữ cái.

Lần Năm Chủ nhà Chung kết Hai đội thua ở bán kết Số đội
Vô địch Tỉ số Á quân
7 1984  Pháp Bản mẫu:Fb-big 2–0 Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 8
8 1988 Bản mẫu:Country data Tây Đức Bản mẫu:Fb-big 2–0 Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 8
9 1992  Thụy Điển Bản mẫu:Fb-big 2–0 Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 8
10 1996 Bản mẫu:Country data Anh Bản mẫu:Fb-big 2–1 Bản mẫu:Aet (2) Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 16
11 2000  Bỉ
 Hà Lan
Bản mẫu:Fb-big 2–1 Bản mẫu:Aet (2) Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 16
12 2004  Bồ Đào Nha Bản mẫu:Fb-big 1–0 Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 16
13 2008  Áo
Bản mẫu:Country data Thụy Sĩ
Bản mẫu:Fb-big 1–0 Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 16
14 2012  Ba Lan
Bản mẫu:Country data Ukraina
Bản mẫu:Fb-big 4–0 Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 16
15 2016  Pháp Bản mẫu:Fb-big 1–0 Bản mẫu:Aet(1) Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 24
16 2020 Liên đoàn bóng đá châu Âu Bản mẫu:Fb-big 1–1 Bản mẫu:Aet(1)
Bản mẫu:Pso(2)
Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 24
17 2024  Đức Bản mẫu:Fb-big 2–1 Bản mẫu:Fb-big Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb 24
18 2028 Bản mẫu:Country data Vương quốc Anh
Bản mẫu:Country data Cộng hòa Ireland
24
19 2032  Ý
Bản mẫu:Country data Thổ Nhĩ Kỳ
24

(1) Trận đấu kết thúc sau hai hiệp phụ.

(2) Trận đấu kết thúc theo luật bàn thắng vàng hay "luân lưu".

Đội vô địch và á quân

Đội tuyển Vô địch Á quân
Bản mẫu:Fb 4 (1964*, 2008, 2012, 2024) 1 (1984)
Bản mẫu:Fb 3 (19721, 19801, 1996) 3 (19761, 1992, 2008)
Bản mẫu:Fb 2 (1968*, 2020) 2 (2000, 2012)
Bản mẫu:Fb 2 (1984*, 2000) 1 (2016*)
Bản mẫu:Fb 1 (1960)2 3 (1964, 1972, 1988)2
Bản mẫu:Fb 1 (19763) 1 (1996)
Bản mẫu:Fb 1 (2016) 1 (2004*)
Bản mẫu:Fb 1 (1988)
Bản mẫu:Fb 1 (1992)
Bản mẫu:Fb 1 (2004)
Bản mẫu:Fb 1 (19763)
Bản mẫu:Fb 2 (1960, 1968)4
Bản mẫu:Fb 2 (2020, 2024)
Bản mẫu:Fb 1 (1980)
Bản đồ các quốc gia vô địch châu Âu
*: đội chủ nhà
1: với tư cách là Tây Đức
2: với tư cách là Liên Xô
3: với tư cách là Tiệp Khắc
4: với tư cách là Nam Tư

Kết quả của các nước chủ nhà

Năm Nước đăng cai Thành tích
1960 Bản mẫu:Fb Hạng tư
1964 Bản mẫu:Fb Vô địch
1968 Bản mẫu:Fb
1972 Bản mẫu:Fb Hạng ba
1976 Bản mẫu:Fb Hạng tư
1980 Bản mẫu:Fb
1984 Bản mẫu:Fb Vô địch
1988 Bản mẫu:Fb Bán kết
1992 Bản mẫu:Fb
1996 Bản mẫu:Fb
2000 Bản mẫu:Fb Vòng bảng
Bản mẫu:Fb Bán kết
2004 Bản mẫu:Fb Á quân
2008 Bản mẫu:Fb
Bản mẫu:Fb
Vòng bảng
2012 Bản mẫu:Fb
Bản mẫu:Fb
2016 Bản mẫu:Fb Á quân
2020 Bản mẫu:Fb
Bản mẫu:Fb
Không vượt qua vòng loại
Bản mẫu:Fb
Bản mẫu:Fb
Bản mẫu:Fb
Vòng bảng
Bản mẫu:Fb
Bản mẫu:Fb
Vòng 16 đội
Bản mẫu:Fb
Bản mẫu:Fb
Bán kết
Bản mẫu:Fb Á quân
Bản mẫu:Fb Vô địch
2024 Bản mẫu:Fb Tứ kết
2028 Bản mẫu:Fb Chưa xác định
Bản mẫu:Fb
Bản mẫu:Fb
Bản mẫu:Fb
Bản mẫu:Fb
2032 Bản mẫu:Fb Chưa xác định
Bản mẫu:Fb

Kết quả của đương kim vô địch

Năm Đương kim vô địch Kết quả
1964 Bản mẫu:Fb Á quân
1968 Bản mẫu:Fb Không vượt qua vòng loại
1972 Bản mẫu:Fb
1976 Bản mẫu:Fb Á quân
1980 Bản mẫu:Fb Hạng ba
1984 Bản mẫu:Fb Vòng bảng
1988 Bản mẫu:Fb Không vượt qua vòng loại
1992 Bản mẫu:Fb Bán kết
1996 Bản mẫu:Fb Vòng bảng
2000 Bản mẫu:Fb
2004 Bản mẫu:Fb Tứ kết
2008 Bản mẫu:Fb Vòng bảng
2012 Bản mẫu:Fb Vô địch
2016 Vòng 16 đội
2020 Bản mẫu:Fb Vòng 16 đội
2024 Bản mẫu:Fb
2028 Bản mẫu:Fb Chưa xác định

Giải thưởng

Cầu thủ xuất sắc nhất

Năm Tên
1996 Bản mẫu:Country data GER Matthias Sammer
2000 Bản mẫu:Country data FRA Zinédine Zidane
2004 Bản mẫu:Country data GRE Theodoros Zagorakis
2008 Bản mẫu:Country data ESP Xavi
2012 Bản mẫu:Country data ESP Andrés Iniesta
2016 Bản mẫu:Country data FRA Antoine Griezmann
2020 Bản mẫu:Country data ITA Gianluigi Donnarumma
2024 Bản mẫu:Country data ESP Rodri

Vua phá lưới

Năm Tên Số bàn thắng
1960 Bản mẫu:Country data FRA François Heutte
Bản mẫu:Country data URS Valentin Ivanov
Bản mẫu:Country data URS Viktor Ponedelnik
Bản mẫu:Country data YUG Milan Galić
Bản mẫu:Country data YUG Dražan Jerković
2
1964 Bản mẫu:Country data HUN Ferenc Bene
Bản mẫu:Country data HUN Dezső Novák
Bản mẫu:Country data ESP Jesús María Pereda
2
1968 Bản mẫu:Country data YUG Dragan Džajić
1972 Bản mẫu:Country data FRG Gerd Müller 4
1976 Bản mẫu:Country data FRG Dieter Müller
1980 Bản mẫu:Country data FRG Klaus Allofs 3
1984 Bản mẫu:Country data FRA Michel Platini 9
1988 Bản mẫu:Country data NED Marco van Basten 5
1992 Bản mẫu:Country data DEN Henrik Larsen
Bản mẫu:Country data GER Karlheinz Riedle
Bản mẫu:Country data NED Dennis Bergkamp
Bản mẫu:Country data SWE Tomas Brolin
3
1996 Bản mẫu:Country data ENG Alan Shearer 5
2000 Bản mẫu:Country data NED Patrick Kluivert
Bản mẫu:Country data FR Yugoslavia Savo Milošević
2004 Bản mẫu:Country data CZE Milan Baroš
2008 Bản mẫu:Country data ESP David Villa 4
2012 Bản mẫu:Country data CRO Mario Mandžukić
Bản mẫu:Country data GER Mario Gómez
Bản mẫu:Country data ITA Mario Balotelli
Bản mẫu:Country data POR Cristiano Ronaldo
Bản mẫu:Country data RUS Alan Dzagoev
Bản mẫu:Country data ESP Fernando Torres (W)
3
2016 Bản mẫu:Country data FRA Antoine Griezmann 6
2020 Bản mẫu:Country data CZE Patrik Schick
Bản mẫu:Country data POR Cristiano Ronaldo (W)
5
2024 Bản mẫu:Country data ENG Harry Kane
Bản mẫu:Country data GEO Georges Mikautadze
Bản mẫu:Country data GER Jamal Musiala
Bản mẫu:Country data NED Cody Gakpo
Bản mẫu:Country data SVK Ivan Schranz
Bản mẫu:Country data ESP Dani Olmo
3

Các đội tham dự giải

Bản đồ thành tích tốt nhất của các quốc gia tham dự giải
Ghi chú
  • H1 – Vô địch
  • H2 – Á quân
  • H3 – Hạng ba (từ năm 1960 đến năm 1980)
  • H4 – Hạng tư (từ năm 1960 đến năm 1980)
  • BK – Bán kết (kể từ năm 1984)
  • TK – Tứ kết (kể từ năm 1996)
  • V16 – Vòng 16 đội (kể từ năm 2016)
  • VB – Vòng bảng (kể từ năm 1980)
  • Q — Đã vượt qua vòng loại của giải đấu sắp tới
  • — Không vượt qua vòng loại
  • × — Không tham dự / Bị cấm tham dự
  • — Đội chủ nhà

Số đội tham dự vòng chung kết của mỗi giải đấu được viết trong ngoặc.

Đội tuyển 1960
(4)
1964
(4)
1968
(4)
1972
(4)
1976
(4)
1980
(8)
1984
(8)
1988
(8)
1992
(8)
1996
(16)
2000
(16)
2004
(16)
2008
(16)
2012
(16)
2016
(24)
2020(*)
(24)
2024
(24)
2028
(24)
2032
(24)
Số năm
Bản mẫu:Fb × x VB VB CXĐ CXĐ 2
Bản mẫu:Fb × H3 VB VB VB BK VB TK TK V16 H2 H2 H CXĐ 11
Bản mẫu:Fb VB VB V16 V16 CXĐ CXĐ 4
Bản mẫu:Fb VB VB TK VB VB CXĐ CXĐ 5
Bản mẫu:Fb × V16 H CXĐ 1
Bản mẫu:Fb Một phần của Bản mẫu:Fb VB CXĐ CXĐ 1
Bản mẫu:Fb × H3 H2 VB VB TK TK V16 CXĐ CXĐ 7
Bản mẫu:Fb BK TK BK H2 TK BK H1 V16 TK CXĐ CXĐ 9
Bản mẫu:Fb VB VB CXĐ CXĐ 2
Bản mẫu:Fb 3 H3 H1 H3 H2 VB BK VB TK VB TK VB CXĐ CXĐ 11
Bản mẫu:Fb Một phần của Bản mẫu:Fb TK VB TK VB V16 V16 VB CXĐ CXĐ 7
Bản mẫu:Fb H4 BK VB H1 VB VB TK VB BK V16 CXĐ CXĐ 10
Bản mẫu:Fb 1 × × H1 H2 H1 VB BK H2 H1 VB VB H2 BK BK V16 TK CXĐ CXĐ 14
Bản mẫu:Fb Một phần của Bản mẫu:Fb × [12] V16 CXĐ CXĐ 1
Bản mẫu:Fb × H3 VB H1 BK TK BK BK TK VB V16 BK CXĐ CXĐ 11
Bản mẫu:Fb H3 H4 V16 VB VB CXĐ CXĐ 5
Bản mẫu:Fb × VB H1 VB TK CXĐ CXĐ 4
Bản mẫu:Fb x x x TK CXĐ CXĐ 1
Bản mẫu:Fb VB VB V16 H CXĐ 3
Bản mẫu:Fb Một phần của Bản mẫu:Fb VB CXĐ CXĐ 1
Bản mẫu:Fb VB CXĐ CXĐ 1
Bản mẫu:Fb 2 H1 H2 H4 H2 H2 VB VB VB BK VB VB VB x CXĐ CXĐ 12
Bản mẫu:Fb H4 H1 VB BK H1 TK VB TK H2 V16 BK CXĐ CXĐ 11
Bản mẫu:Fb x x VB CXĐ CXĐ 1
Bản mẫu:Fb VB VB TK VB VB V16 CXĐ CXĐ 6
Bản mẫu:Fb × × VB VB VB VB H CXĐ 4
Bản mẫu:Fb 4 H2 H2 H4 VB × [13] × TK VB CXĐ CXĐ 6
Bản mẫu:Fb 3 H3 H1 H3 V16 VB V16 CXĐ CXĐ 6
Bản mẫu:Fb Một phần của Bản mẫu:Fb VB V16 CXĐ CXĐ 2
Bản mẫu:Fb × H1 VB H2 VB TK TK VB H1 H1 V16 BK H1 CXĐ CXĐ 12
Bản mẫu:Fb VB TK BK VB VB TK CXĐ H 6
Bản mẫu:Fb × BK VB TK VB VB VB V16 CXĐ CXĐ 7
Bản mẫu:Fb × VB VB VB V16 TK TK CXĐ CXĐ 6
Bản mẫu:Fb Một phần của Bản mẫu:Fb × [12] VB VB TK VB CXĐ CXĐ 4
Bản mẫu:Fb x BK V16 H CXĐ 2
Bản mẫu:Fb × H1 H4 BK VB H2 VB TK H2 TK H1 V16 CXĐ H 11

1: Tính cả các lần tham dự với tư cách là Tây Đức

2: Tính cả các lần tham dự với tư cách là Liên Xô và một lần với tư cách là Cộng đồng các Quốc gia Độc lập

3: Tính cả các lần tham dự với tư cách là Tiệp Khắc

4: Tính cả các lần tham dự với tư cách là Nam Tư

*: Lùi lại 1 năm do đại dịch COVID-19

Các đội chưa từng tham dự vòng chung kết Euro
Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb, Bản mẫu:Fb.

Lần đầu tham dự

Dưới đây là thống kê giải đầu tiên mà các đội tuyển giành quyền vào chơi một vòng chung kết Euro.

Năm Đội tuyển
1960 Bản mẫu:Fb/Bản mẫu:Fb[14] Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb[15] Bản mẫu:Fb[16]
1964 Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb
1968 Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb
1972 Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb[17]
1976 Bản mẫu:Fb
1980 Bản mẫu:Fb
1984 Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb
1988 Bản mẫu:Fb
1992 Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb
1996 Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb
2000 Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb
2004 Bản mẫu:Fb
2008 Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb
2012 Bản mẫu:Fb
2016 Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb
2020 Bản mẫu:Fb Bản mẫu:Fb
2024 Bản mẫu:Fb
2028

Bảng xếp hạng tổng thể

Bản mẫu:Updated

Chú thích
Đội đã vô địch giải đấu
TT Đội tuyển Trận Thắng Hòa Thua Bàn thắng Bàn thua Hiệu số Điểm
1. Bản mẫu:Fb[lower-alpha 1] 58 30 14 14 89 59 +30 104
2. Bản mẫu:Fb 53 28 15 10 83 46 +37 99
3. Bản mẫu:Fb 49 22 19 8 55 36 +19 85
4. Bản mẫu:Fb 49 23 15 11 73 53 +20 84
5. Bản mẫu:Fb 45 23 9 13 75 48 +27 78
6. Bản mẫu:Fb 44 21 12 11 61 41 +20 75
7. Bản mẫu:Fb 45 18 16 11 59 43 +16 70
8. Bản mẫu:Fb[lower-alpha 2] 40 15 8 17 51 52 –1 53
9. Bản mẫu:Fb[lower-alpha 3] 36 13 7 16 40 52 –12 46
10. Bản mẫu:Fb 26 12 3 11 33 30 +3 39
11. Bản mẫu:Fb 37 10 9 18 44 54 –10 39
12. Bản mẫu:Fb 25 9 8 8 33 34 –1 35
13. Bản mẫu:Fb 24 7 7 10 30 28 +2 28
14. Bản mẫu:Fb 23 5 11 7 24 28 –4 26
15. Bản mẫu:Fb[lower-alpha 2] 19 6 5 8 21 28 –7 23
16. Bản mẫu:Fb 23 7 2 14 22 38 –16 23
17. Bản mẫu:Fb 16 5 3 8 14 20 –6 18
18. Bản mẫu:Fb 10 5 1 4 13 12 +1 16
19. Bản mẫu:Fb 14 4 2 8 14 18 –4 14
20. Bản mẫu:Fb 17 2 8 7 14 21 –7 14
21. Bản mẫu:Fb 14 3 4 7 16 25 –9 13
22. Bản mẫu:Fb 14 4 1 9 10 23 –13 13
23. Bản mẫu:Fb[lower-alpha 4] 17 3 4 10 23 41 –18 13
24. Bản mẫu:Fb 20 2 6 12 14 27 –13 12
25. Bản mẫu:Fb 12 2 3 7 7 17 –10 9
26. Bản mẫu:Fb 5 2 2 1 8 9 –1 8
27. Bản mẫu:Fb 10 2 2 6 6 17 –11 8
28. Bản mẫu:Fb 7 0 6 1 6 7 –1 6
29. Bản mẫu:Fb 3 1 1 1 1 1 0 4
30. Bản mẫu:Fb 4 1 1 2 5 8 –3 4
31. Bản mẫu:Fb 6 1 1 4 4 8 –4 4
32. Bản mẫu:Fb 6 1 1 4 4 13 –9 4
33. Bản mẫu:Fb 4 1 0 3 2 3 –1 3
34. Bản mẫu:Fb 3 1 0 2 1 3 –2 3
35. Bản mẫu:Fb 3 0 1 2 1 5 –4 1
36. Bản mẫu:Fb 3 0 0 3 2 8 –6 0

Ghi chú

  1. ^ Tính cả thành tích của Bản mẫu:Fb trong giai đoạn 1972–1988.
  2. ^ a ă Tính cả thành tích của Bản mẫu:Fb trong giai đoạn 1960–1980.
  3. ^ Tính cả thành tích của Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb trong giai đoạn 1960–1992.
  4. ^ Tính cả thành tích của Bản mẫu:FbBản mẫu:Fb/Bản mẫu:Fb trong giai đoạn 1960–2000.

Các huấn luyện viên vô địch

Năm Huấn luyện viên Vô địch
1960 Bản mẫu:Country data URS Gavriil Kachalin Bản mẫu:Fb
1964 Bản mẫu:Country data ESP José Villalonga Bản mẫu:Fb
1968 Bản mẫu:Country data ITA Ferruccio Valcareggi Bản mẫu:Fb
1972 Bản mẫu:Country data FRG Helmut Schön Bản mẫu:Fb
1976 Bản mẫu:Country data Czechoslovakia Václav Ježek Bản mẫu:Fb
1980 Bản mẫu:Country data FRG Jupp Derwall Bản mẫu:Fb
1984 Bản mẫu:Country data FRA Michel Hidalgo Bản mẫu:Fb
1988 Bản mẫu:Country data NED Rinus Michels Bản mẫu:Fb
1992 Bản mẫu:Country data DEN Richard Møller-Nielsen Bản mẫu:Fb
1996 Bản mẫu:Country data GER Berti Vogts Bản mẫu:Fb
2000 Bản mẫu:Country data FRA Roger Lemerre Bản mẫu:Fb
2004 Bản mẫu:Country data GER Otto Rehhagel Bản mẫu:Fb
2008 Bản mẫu:Country data ESP Luis Aragonés Bản mẫu:Fb
2012 Bản mẫu:Country data ESP Vicente del Bosque
2016 Bản mẫu:Country data POR Fernando Santos Bản mẫu:Fb
2020 Bản mẫu:Country data ITA Roberto Mancini Bản mẫu:Fb
2024 Bản mẫu:Country data ESP Luis de la Fuente Bản mẫu:Fb

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ "Regulations of the UEFA European Football Championship 2018–20". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 9 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2021.
  2. ^ "2005/2006 season: final worldwide matchday to be ngày 14 tháng 5 năm 2006". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 19 tháng 12 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2012.
  3. ^ "Delaunay's dream realised in France". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 30 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2012.
  4. ^ "The Henri Delaunay Cup". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 28 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2012.
  5. ^ "What is the UEFA Euro 2024 trophy?". Bundesliga. ngày 24 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2024.
  6. ^ Harrold, Michael (ngày 27 tháng 1 năm 2006). "You won't find a superior trophy". UEFA. London. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2012.
  7. ^ "New trophy for UEFA Euro 2008". UEFA. ngày 24 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2012.
  8. ^ "Regulations of the UEFA European Football Championship 2006/08" (PDF). UEFA. 2.08. tr. 3. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: địa điểm (liên kết)
  9. ^ "Regulations of the UEFA European Football Championship 2010–12" (PDF). UEFA. tr. 4. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012.
  10. ^ "Regulations of the UEFA European Football Championship 2014–16" (PDF). 4.08: UEFA. tr. 11. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2016.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: địa điểm (liên kết)
  11. ^ "Everything you need to know about UEFA Euro history". SportMob. ngày 28 tháng 10 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2024.
  12. ^ a ă Thuộc Cộng đồng các Quốc gia Độc lập
  13. ^ Vượt qua vòng loại nhưng bị cấm tham dự vì chiến tranh Nam Tư, đội tuyển Đan Mạch được UEFA cho thay thế
  14. ^ Từ năm 1960 đến năm 1992, Cộng hòa SécSlovakia thi đấu với tên gọi Tiệp Khắc.
  15. ^ Từ năm 1960 đến năm 1988, Nga thi đấu với tên gọi Liên Xô và năm 1992 với tên gọi CIS.
  16. ^ Từ năm 1960 đến năm 2000, Serbia thi đấu với tên gọi Nam Tư.
  17. ^ Từ năm 1960 đến năm 1988, Đức thi đấu với tên gọi Tây Đức.

Liên kết ngoài

  • Không tìm thấy URL. Vui lòng định rõ một URL ở đây hoặc thêm vào trên Wikidata.