Mathis Gazoa Kippersund Bolly (sinh ngày 14 tháng 11 năm 1990) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng thi đấu ở vị trí tiền đạo. Bolly có trận ra mắt chuyên nghiệp cho câu lạc bộ hạng cao nhất Na Uy Lillestrøm. Anh từng đại diện cho Na Uy ở cấp độ trẻ, nhưng sau đó chọn thi đấu cho đội tuyển quốc gia Bờ Biển Ngà.

Mathis Bolly
Tập tin:Mathis-Bolly-2014.jpg
Bolly năm 2014
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Mathis Gazoa Kippersund Bolly[1]
Ngày sinh 14 tháng 11, 1990 (35 tuổi)
Nơi sinh Oslo, Na Uy
Chiều cao 1,86m[2]
Vị trí Tiền đạo[3]
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
Holmlia
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2008–2012 Lillestrøm 60 (7)
2013–2016 Fortuna Düsseldorf 50 (6)
2016–2018 Greuther Fürth 16 (1)
2019–2022 Molde 44 (4)
2021Stabæk (mượn) 15 (3)
2023–2024 Lillestrøm 18 (1)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2009 U-19 Na Uy 3 (0)
2013–2014 Bờ Biển Ngà 5 (0)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 24 tháng 11 năm 2024
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 10 tháng 6 năm 2014

Sự nghiệp câu lạc bộ

Sinh tại Oslo với mẹ là người Na Uy và cha là người Bờ Biển Ngà,[4] Bolly lớn lên tại Holmlia ở Oslo và chơi bóng trẻ cho Lyn, Oppsal IL và Holmlia trước khi chuyển tới Lillestrøm vào năm 2008. Anh ra mắt đội một trong trận Tippeligaen gặp Stabæk và thi đấu hai trận trong mùa giải đầu tiên với câu lạc bộ.[5] Trong mùa giải 2009, mùa giải thứ hai của Bolly tại Lillestrøm, anh thi đấu 10 trận ở Tippeligaen.[6] Bolly ghi bàn đầu tiên tại Tippeligaen trong chiến thắng 1–0 trước Sandefjord vào ngày 3 tháng 10 năm 2010.[7] Trong mùa giải 2012, Bolly ghi bốn bàn và có bốn pha kiến tạo.[8] Hợp đồng của anh với Lillestrøm kéo dài đến hết mùa giải 2013, dù anh đã thông báo với câu lạc bộ rằng mình không muốn gia hạn. Lillestrøm sau đó chấp nhận lời đề nghị từ Fortuna Düsseldorf, và ngày 2 tháng 1 năm 2013, Bolly ký hợp đồng ba năm rưỡi với đội bóng Đức.[9]

Bolly có trận ra mắt Bundesliga trong trận gặp Mainz 05 khi vào sân từ ghế dự bị. Anh đá chính ở trận tiếp theo gặp Bayern Munich vào ngày 9 tháng 3 năm 2013, nơi anh cũng ghi một trong các bàn thắng của Fortuna Düsseldorf trong thất bại 2–3.[10] Tuần sau, Bolly ghi thêm một bàn khi Fortuna Düsseldorf hòa 1–1 trên sân VfL Wolfsburg.[11] Fortuna Düsseldorf xuống hạng sau mùa giải 2012–13, nhưng Bolly vẫn ở lại đội khi câu lạc bộ thi đấu tại 2. Bundesliga trong mùa giải tiếp theo.[12]

Ngày 19 tháng 2 năm 2019, Bolly gia nhập Molde theo hợp đồng một năm.[13] Anh có trận ra mắt Molde vào ngày 18 tháng 7 năm 2019, khi vào sân ở phút 62 trong trận hòa 0–0 trên sân KR tại UEFA Europa League vòng loại thứ nhất.[14] Ngày 1 tháng 10 năm 2019, Molde thông báo đã đạt thỏa thuận gia hạn hợp đồng với Bolly, giữ anh ở lại câu lạc bộ đến hết mùa giải 2022.[15][16]

Sự nghiệp quốc tế

Bolly thi đấu ba trận cho đội U-19 Na Uy vào năm 2009,[17] và được triệu tập vào đội U-21 vào tháng 2 và tháng 3 năm 2013. Anh cũng có tên trong danh sách sơ bộ của Na Uy cho Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu 2013, nhưng rút khỏi đội hình khi được đội tuyển quốc gia Bờ Biển Ngà triệu tập vào tháng 5 năm 2013 cho các trận vòng loại World Cup gặp GambiaTanzania.[18] Cựu huấn luyện viên của anh tại Lillestrøm, Henning Berg, nói rằng đây là mất mát lớn cho Na Uy và Bolly có thể đã trở thành cầu thủ quan trọng của đội tuyển quốc gia trong tương lai.[8] Anh thi đấu trận đầu tiên cho Bờ Biển Ngà trước Gambia vào ngày 8 tháng 6 năm 2013.[12] Anh thi đấu trận thứ hai cho Bờ Biển Ngà trong trận giao hữu gặp México vào tháng 8 năm 2013, chơi bên cạnh Didier Drogba.[19] Bolly là cầu thủ dự bị không được sử dụng trong trận play-off quyết định gặp Sénégal, khi Bờ Biển Ngà giành quyền tham dự World Cup.[12] Anh được chọn đại diện cho Bờ Biển Ngà tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 ở Brasil, và có trận ra mắt World Cup khi vào sân trong hiệp hai ở trận vòng bảng thứ hai của Bờ Biển Ngà gặp Colombia.

Phong cách thi đấu

Khi gia nhập Lillestrøm năm 2008, Bolly chạy 40 mét trong 4,77 giây.[5] Sau mùa giải 2009, anh chạy 40 mét trong 4,61 giây, giúp anh trở thành cầu thủ nhanh thứ hai trong lịch sử Tippeligaen, chỉ sau Luton Shelton.[6] Khi EA Sports phát hành trò chơi điện tử FIFA 14, Bolly là cầu thủ nhanh nhất trong trò chơi xét theo chỉ số tốc độ chạy nước rút. Tính đến FIFA 17, anh vẫn giữ thành tích này.[20] Tuy nhiên, trong phiên bản FIFA 18, Pierre-Emerick Aubameyang thay anh trở thành cầu thủ nhanh nhất trò chơi xét theo tốc độ chạy nước rút và tăng tốc.

Thống kê sự nghiệp

Tính đến trận đấu diễn ra ngày 6 tháng 10 năm 2022[2][21]
Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp Châu lục Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Lillestrøm 2008 Tippeligaen 2 0 0 0 0 0 2 0
2009 10 0 2 0 12 0
2010 8 1 0 0 8 1
2011 16 2 0 0 16 2
2012 24 4 4 0 28 4
Tổng cộng 60 7 6 0 66 7
Fortuna Düsseldorf 2012–13 Bundesliga 7 2 0 0 7 2
2013–14 2. Bundesliga 14 1 1 0 15 1
2014–15 11 1 5 0 16 1
2015–16 18 2 1 0 19 2
Tổng cộng 50 6 7 0 57 6
Greuther Fürth 2016–17 2. Bundesliga 16 1 1 0 17 1
2017–18 0 0 0 0 0 0
Tổng cộng 16 1 1 0 17 1
Molde 2019 Eliteserien 13 3 0 0 6[a] 2 19 5
2020 14 1 0 0 7 0 21 1
2021 8 0 0 0 3 0 11 0
2022 9 0 3 0 3 0 15 0
Tổng cộng 44 4 3 0 19 2 66 6
Stabæk (mượn) 2021 Eliteserien 11 3 1 0 12 3
Tổng cộng 11 3 1 0 12 3
Tổng cộng sự nghiệp 181 20 18 0 19 2 218 23
  1. ^ Lần ra sân ở UEFA Europa League, including qualifying games

Danh hiệu

Molde

Tham khảo

  1. ^ "2014 FIFA World Cup Brazil: List of players: Côte d'Ivoire" (PDF). FIFA. ngày 14 tháng 7 năm 2014. tr. 11. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2019.
  2. ^ a b "Bolly, Mathis" (bằng tiếng German). Kicker. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2013.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  3. ^ Mathis Bolly tại WorldFootball.net
  4. ^ Bergh, Nicholas (ngày 17 tháng 5 năm 2013). "Bolly takket nei til spill for Norge". Aftenposten (bằng tiếng Norwegian). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  5. ^ a b Svesengen, Morten (ngày 14 tháng 1 năm 2009). "På kanten av gjennombruddet". Romerikes Blad (bằng tiếng Norwegian). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  6. ^ a b Almløv, André (ngày 5 tháng 11 năm 2009). "Tidenes raskeste norske eliteseriespiller". Aftenposten (bằng tiếng Norwegian). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  7. ^ Hongshagen, Eva (ngày 3 tháng 10 năm 2010). "Bolly-perle sikret seier til uavgjortspesialistene". Verdens Gang (bằng tiếng Norwegian). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  8. ^ a b Øgar, Sindre (ngày 18 tháng 5 năm 2013). "Berg: - Bolly kunne fått mange landskamper for Norge". Verdens Gang (bằng tiếng Norwegian). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  9. ^ Burheim, Mads Gudim; Strand, Sigbjørn (ngày 2 tháng 1 năm 2013). "Her er Norges ferskeste Bundesliga-proff" (bằng tiếng Norwegian). Dagbladet. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2013.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  10. ^ Smørdal, Sander (ngày 9 tháng 3 năm 2013). "Her scorer Mathis Bolly sitt første Bundesliga-mål mot mektige Bayern München". TV 2 (bằng tiếng Norwegian). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  11. ^ Baardsen, Christer (ngày 15 tháng 3 năm 2013). "Her scorer Mathis Bolly i Bundesliga igjen". TV 2 (bằng tiếng Norwegian). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  12. ^ a b c Pettersen, Per Møller (ngày 17 tháng 11 năm 2013). "Denne nordmannen er nær VM". Nettavisen (bằng tiếng Norwegian). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  13. ^ "Molde signerer kontrakt med Mathis Bolly". www.moldefk.no (bằng tiếng Norwegian). Molde FK. ngày 19 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2019.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  14. ^ Bản mẫu:Chú thích web 2019–20
  15. ^ "Forlenget kontrakten med Molde". eurosport.no (bằng tiếng Norwegian). Eurosport. ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2019.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  16. ^ "Bolly forlenger!". moldefk.no (bằng tiếng Norwegian). Molde FK. ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2019.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  17. ^ "Mathis Gazoa Kippersund Bolly's profil". fotball.no (bằng tiếng Norwegian). Football Association of Norway. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  18. ^ Haugvik, Simen; Stokstad, Morten (ngày 17 tháng 5 năm 2013). "Bolly sier nei til Norge". TV 2 (bằng tiếng Norwegian). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  19. ^ Svesengen, Morten (ngày 15 tháng 8 năm 2013). "På lag med Drogba". Romerikes Blad (bằng tiếng Norwegian). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  20. ^ Bản mẫu:Chú thích báo 2014
  21. ^ "Mathis Bolly" (bằng tiếng Norwegian). NIFS. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2013.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)

Liên kết ngoài

  • Mathis Bolly tại Kicker (bằng tiếng Đức)Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).