Đội tuyển bóng đá quốc gia Bờ Biển Ngà

  1. đổi Bản mẫu:Thông tin đội tuyển bóng đá quốc gia

Đội tuyển bóng đá quốc gia Bờ Biển Ngà (tiếng Pháp: Équipe de Côte d'Ivoire de football, được FIFA công nhận với tên Côte d'Ivoire),[1] có biệt danh là "Les Éléphants", đại diện cho Bờ Biển Ngà trong các giải bóng đá quốc tế nam và được quản lý bởi Liên đoàn bóng đá Bờ Biển Ngà (FIF). Được xem là một trong những đội tuyển mạnh nhất châu Phi, đội đã có ba lần vô địch Cúp bóng đá châu Phi vào các năm 1992, 20152023. Ở đấu trường thế giới, đội đã có bốn lần góp mặt tại FIFA World Cup vào các năm 2006, 2010, 20142026 với thành tích tốt nhất là lọt vào vòng 32 đội tại giải đấu năm 2026.

Màu áo sân nhà của đội là màu cam. Từ năm 2020, các trận sân nhà được tổ chức tại Sân vận động Alassane OuattaraAbidjan. Trước đó, sân nhà của họ là Sân vận động Félix Houphouët-Boigny, cũng nằm ở Abidjan. Didier Zokora hiện giữ kỷ lục số lần khoác áo đội tuyển nhiều nhất (123 trận). Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển là Didier Drogba với 65 bàn trong 105 lần ra sân.

Lịch sử

Thập niên 1960

Đội tuyển thi đấu trận quốc tế đầu tiên gặp Dahomey (nay là Benin) và giành chiến thắng 3–2 vào ngày 13 tháng 4 năm 1960 tại Madagascar. Họ từng thắng đậm 11–0 trước Cộng hòa Trung Phi. Năm 1961, đội lần đầu tiên tham dự Cúp bóng đá châu Phi. Sau khi giành độc lập từ Pháp, đội giành hạng ba ở hai kỳ giải năm 19631965.

Thập niên 1970

Phong độ của Bờ Biển Ngà trong thập niên 1970 khá thất thường. Tại Cúp bóng đá châu Phi 1970, họ đứng đầu bảng nhưng thua Ghana – một trong những cường quốc bóng đá châu Phi khi đó – ở bán kết, rồi thua tiếp trong trận tranh hạng ba trước Cộng hòa Ả Rập Thống nhất (nay là Ai Cập) để xếp hạng 4 chung cuộc. Họ không vượt qua được vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 1972, thua Congo-Brazzaville 4–3 ở vòng cuối. Dù vượt qua vòng loại năm 1974, họ chỉ giành được 1 điểm và xếp cuối bảng. Đến năm 1976, họ lại dừng bước ở vòng loại, tiếp tục thua Congo-Brazzaville.

Đội ban đầu đã giành vé dự Cúp bóng đá châu Phi 1978 sau khi thắng Mali 2–1 chung cuộc, nhưng bị loại do sử dụng cầu thủ không đủ điều kiện ở trận lượt về. Mali cũng bị loại vì các sự cố tấn công trọng tài trong trận lượt đi, và do đó Burkina Faso (khi đó là Thượng Volta) – đội đã thua Bờ Biển Ngà ở vòng trước – được trao suất tham dự giải.

Thập niên 1980

Năm 1984, Bờ Biển Ngà lần đầu tiên đăng cai Cúp bóng đá châu Phi nhưng bị loại ngay từ vòng bảng. Năm 1986, họ vượt qua vòng bảng nhờ có hiệu số bàn thắng tốt hơn và giành hạng ba chung cuộc sau khi thắng Maroc 3–2 ở trận tranh hạng ba.

Thập niên 1990

Tại Cúp bóng đá châu Phi 1992, Bờ Biển Ngà thắng Algeria 3–0, hòa Congo 0–0, đứng đầu bảng. Sau khi thắng Zambia ở hiệp phụ và vượt qua Cameroon bằng loạt sút luân lưu, họ vào chung kết gặp Ghana. Trận đấu lại phải phân định trên chấm phạt đền, và loạt sút luân lưu này trở thành loạt sút dài nhất trong lịch sử bóng đá quốc tế khi đó. Bờ Biển Ngà thắng 11–10 để lần đầu vô địch Cúp bóng đá châu Phi. Năm 1994, họ không bảo vệ được ngôi vô địch khi thua Nigeria ở bán kết.

Đội tuyển Bờ Biển Ngà nổi tiếng là đội từng tham gia và chiến thắng hai loạt sút luân lưu dài nhất lịch sử bóng đá quốc tế: loạt 24 lượt sút ở chung kết Cúp bóng đá châu Phi 1992 (thắng Ghana 11–10) và loạt 24 lượt sút ở tứ kết Cúp bóng đá châu Phi 2006 (thắng Cameroon 12–11). Năm 2015, họ một lần nữa thắng Ghana ở chung kết Cúp bóng đá châu Phi, lần này sau 22 lượt sút luân lưu, thắng 9–8.

Thập niên 2000 và kỳ World Cup đầu tiên

Tháng 10 năm 2005, Bờ Biển Ngà giành vé dự World Cup 2006 lần đầu tiên. Họ nằm chung bảng với Cameroon và Ai Cập, nhưng vượt lên nhờ thắng Sudan 3–1 ở trận cuối, trong khi Cameroon chỉ hòa Ai Cập. Tại World Cup 2006, họ rơi vào “bảng tử thần” cùng Argentina, Hà Lan, Serbia & Montenegro. Họ thua Argentina 1–2 (Didier Drogba ghi bàn thắng đầu tiên của đội ở World Cup ở phút 82) và thua tiếp Hà Lan 1–2, chính thức bị loại. Ở trận cuối, dù bị dẫn 0–2 chỉ sau 20 phút, Bờ Biển Ngà lội ngược dòng thắng Serbia & Montenegro 3–2, trong đó Bonaventure Kalou ghi bàn quyết định từ chấm phạt đền phút 86, đem về chiến thắng đầu tiên trong lịch sử World Cup cho đội. Sau khi HLV Uli Stielike rời vị trí trước Cúp bóng đá châu Phi 2008 vì vấn đề sức khỏe của con trai, trợ lý Gérard Gili lên tạm quyền, và Didier Drogba đóng vai trò cầu thủ kiêm HLV – lần thứ hai trong lịch sử giải đấu có trường hợp cầu thủ kiêm huấn luyện viên (trước đó là George Weah với Liberia năm 2002).

Thập niên 2010

 
Đội tuyển Bờ Biển Ngà gặp Ba Lan năm 2010

Bờ Biển Ngà góp mặt tại World Cup 2010Nam Phi, lại một lần nữa rơi vào bảng tử thần với Brasil, Bồ Đào Nha, CHDCND Triều Tiên. Họ hòa Bồ Đào Nha 0–0, thua Brasil 1–3, trận cuối buộc phải thắng Triều Tiên và hy vọng Brasil thắng Bồ Đào Nha với cách biệt lớn. Dù thắng Triều Tiên 3–0, Bồ Đào Nha cầm hòa Brasil 0–0, khiến Bờ Biển Ngà bị loại.

Họ tiếp tục dự World Cup 2014, nằm ở bảng C với Colombia, Hy Lạp, Nhật Bản. Sau khi lội ngược dòng thắng Nhật Bản 2–1, họ thua Colombia 1–2, khiến trận cuối gặp Hy Lạp quyết định tấm vé đi tiếp. Tỉ số đang là 1–1 ở phút bù giờ, và với việc Nhật đang thua Colombia 1–4, Bờ Biển Ngà đang cầm tấm vé đi tiếp. Tuy nhiên, ở phút 93, Giovanni Sio phạm lỗi dẫn đến quả phạt đền và Samaras ghi bàn, khiến Hy Lạp thắng 2–1 và giành vé vào vòng 16 đội, còn Bờ Biển Ngà lại bị loại từ vòng bảng lần thứ ba liên tiếp.

Năm 2015, Bờ Biển Ngà lần thứ hai vô địch Cúp bóng đá châu Phi tại Guinea Xích Đạo, thắng Ghana trên chấm luân lưu sau trận hòa 0–0. Họ không thể giành vé dự World Cup 2018. Trận cuối vòng loại gặp Maroc, họ cần thắng nhưng lại thua 0–2, nhường suất tham dự cho Maroc.

Thập niên 2020

Đầu năm 2024, Bờ Biển Ngà đăng cai Cúp bóng đá châu Phi lần thứ hai.[2] Dù thua đậm 0–4 trước Guinea Xích Đạo và chỉ xếp thứ ba vòng bảng, HLV Jean-Louis Gasset bị sa thải và trợ lý Emerse Faé tạm quyền. Đội vào vòng loại trực tiếp nhờ nằm trong nhóm các đội xếp thứ ba có thành tích tốt nhất. Họ lần lượt thắng đương kim vô địch Senegal trên loạt luân lưu, thắng Mali ở hiệp phụ, thắng CHDC Congo ở bán kết.[3] Trong trận chung kết, họ đánh bại Nigeria 2–1 để giành chức vô địch lần thứ ba.[4] Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Cúp bóng đá châu Phi, một đội tuyển vô địch dù thay HLV giữa giải.

Danh hiệu

Vô địch: 1992; 2015; 2023
Á quân: 2006; 2012
Hạng ba: 1965; 1968; 1986; 1994
Á quân: 2010
  1965

Thành tích tại các giải đấu quốc tế

Giải vô địch bóng đá thế giới

Bờ Biển Ngà đã có 4 lần tham dự giải vô địch bóng đá thế giới vào các năm 2006, 2010, 20142026 với thành tích tốt nhất là lọt vào vòng 32 đội ở giải đấu năm 2026.

Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB Đội hình ST T H B BT BB
1930 đến 1958 Một phần của   Pháp Một phần của   Pháp
  1962 Không phải thành viên FIFA Không phải thành viên FIFA
19661970 Không tham dự Không tham dự
  1974 Không vượt qua vòng loại 6 3 2 1 8 7
  1978 6 3 2 1 11 10
  1982 Không tham dự Không tham dự
  1986 Không vượt qua vòng loại 4 1 1 2 6 5
  1990 4 1 2 1 5 1
  1994 8 4 3 1 12 6
  1998 2 0 1 1 1 3
    2002 10 5 4 1 22 10
Bản mẫu:Country data Germany 2006 Vòng bảng 19th 3 1 0 2 5 6 Đội hình 10 7 1 2 20 7
Bản mẫu:Country data South Africa 2010 17th 3 1 1 1 4 3 Đội hình 12 8 4 0 29 6
  2014 21st 3 1 0 2 4 5 Đội hình 8 5 3 0 19 7
  2018 Không vượt qua vòng loại 8 4 2 2 11 5
  2022 6 4 1 1 10 3
      2026 Vòng 32 đội 19th 4 2 0 2 5 4 Đội hình 10 8 2 0 25 0
      2030 Chưa xác định
  2034
Tổng cộng Vòng 32 đội 4/15 13 5 1 7 18 18 94 53 28 13 179 70

Cúp bóng đá châu Phi

Bờ Biển Ngà là đội tuyển giàu thành tích ở giải đấu khu vực, với 23 lần tham dự vòng chung kết, 5 lần vào chung kết Cúp bóng đá châu Phi, trong đó vô địch ba lần vào các năm 1992, 2015 và 2023.

Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
  1957 Một phần của   Pháp Một phần của   Pháp
  1959
  1962 Không phải thành viên của CAF Không phải thành viên của CAF
  1963
  1965 Hạng 3 3rd 3 2 0 1 5 4 4 3 0 1 9 4
  1968 Hạng 3 3rd 5 3 1 1 9 6 4 3 1 0 7 0
  1970 Hạng 4 4th 5 2 1 2 11 9 2 1 1 0 4 0
  1972 Không vượt qua vòng loại 4 3 0 1 6 5
Bản mẫu:Country data Egypt 1974 Vòng bảng 7th 3 0 1 2 2 5 4 4 0 0 10 5
  1976 Không vượt qua vòng loại 2 0 2 0 2 2
  1978 Bị cấm tham dự Bị cấm tham dự
  1980 Vòng bảng 6th 3 0 2 1 2 3 4 4 0 0 8 2
  1982 Không tham dự Không tham dự
Bản mẫu:Country data Côte d'Ivoire 1984 Vòng bảng 5th 3 1 0 2 4 4 Vượt qua vòng loại với tư cách chủ nhà
Bản mẫu:Country data Egypt 1986 Hạng 3 3rd 5 3 0 2 7 5 4 3 1 0 9 1
  1988 Vòng bảng 6th 3 0 3 0 2 2 4 4 0 0 4 3
  1990 6th 3 1 0 2 3 5 4 3 1 0 10 3
Bản mẫu:Country data Senegal 1992 Vô địch 1st 5 2 3 0 4 0 6 5 0 1 9 3
  1994 Hạng 3 3rd 5 3 1 1 11 5 Vượt qua vòng loại với tư cách đương kim vô địch
Bản mẫu:Country data South Africa 1996 Vòng bảng 11th 3 1 0 2 2 5 4 1 2 1 5 4
  1998 Tứ kết 7th 4 2 2 0 10 6 6 4 1 1 10 8
    2000 Vòng bảng 9th 3 1 1 1 3 4 6 3 2 1 7 2
  2002 16th 3 0 1 2 1 4 8 4 3 1 17 4
  2004 Không vượt qua vòng loại 4 2 1 1 8 3
Bản mẫu:Country data Egypt 2006 Á quân 2nd 6 3 2 1 6 5 10 7 1 2 20 7
  2008 Hạng 4 4th 6 4 0 2 16 9 4 3 1 0 13 0
  2010 Tứ kết 8th 3 1 1 1 5 4 12 8 4 0 29 6
    2012 Á quân 2nd 6 5 1 0 9 0 6 6 0 0 19 5
Bản mẫu:Country data South Africa 2013 Tứ kết 5th 4 2 1 1 8 5 2 2 0 0 6 2
  2015 Vô địch 1st 6 3 3 0 9 4 6 3 1 2 13 11
  2017 Vòng bảng 11th 3 0 2 1 2 3 4 1 3 0 3 1
Bản mẫu:Country data Egypt 2019 Tứ kết 5th 5 3 1 1 7 3 6 3 2 1 12 5
  2021 Vòng 1/8 10th 4 2 2 0 6 3 6 4 1 1 11 5
  2023 Vô địch 1st 7 4 1 2 8 8 6 4 1 1 9 5
  2025 Tứ kết 6th 5 3 1 1 10 6 6 4 0 2 12 3
      2027 Chưa xác định Chưa xác định
Bản mẫu:Country data African Union 2029
Tổng 3 danh hiệu 26/35 111 51 29 31 162 117 138 92 29 17 272 99
  • ^1Thứ hạng ngoài bốn hạng đầu (không chính thức) dựa trên so sánh thành tích giữa những đội tuyển vào cùng vòng đấu
  • ^2Tính cả những trận hoà ở vòng đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút luân lưu
  • ^3Do đặc thù châu Phi, có những lúc tình hình chính trị hoặc kinh tế quốc gia bất ổn nên các đội bóng bỏ cuộc. Những trường hợp không ghi chú thêm là bỏ cuộc ở vòng loại
  • ^4Khung đỏ: Chủ nhà

Cúp Liên đoàn các châu lục

Năm Kết quả St T H [5] B Bt Bb
  1992 Hạng tư 2 0 0 2 2 9
1995 Không giành quyền tham dự
1997
1999
2001
2003
2005
2009
2013
2017
Tổng cộng 1/10 2 0 0 2 2 9

Kết quả thi đấu

2025

2026

Cầu thủ

Đội hình hiện tại

Các cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho các trận đấu thuộc FIFA World Cup 2026.[7]

Số lần ra sân và bàn thắng được cập nhật đến ngày 30 tháng 6 năm 2026, sau trận đấu với Na Uy. Trang Bản mẫu:National football squad start/styles.css không có nội dung.

Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
1 1TM Yahia Fofana 21 tháng 8, 2000 (25 tuổi) 38 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Çaykur Rizespor
16 1TM Mohamed Koné 7 tháng 3, 2002 (24 tuổi) 0 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Charleroi
23 1TM Alban Lafont 23 tháng 1, 1999 (27 tuổi) 4 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Panathinaikos
  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break
2 2HV Ousmane Diomande 4 tháng 12, 2003 (22 tuổi) 15 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Sporting CP
3 2HV Ghislain Konan (đội phó 4) 27 tháng 12, 1995 (30 tuổi) 56 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Gil Vicente
5 2HV Wilfried Singo 25 tháng 12, 2000 (25 tuổi) 35 1 Bản mẫu:Fbaicon/core Galatasaray
7 2HV Odilon Kossounou 4 tháng 1, 2001 (25 tuổi) 39 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Atalanta
13 2HV Christopher Opéri 29 tháng 4, 1997 (29 tuổi) 13 0 Bản mẫu:Fbaicon/core İstanbul Başakşehir
17 2HV Guéla Doué 17 tháng 10, 2002 (23 tuổi) 24 3 Bản mẫu:Fbaicon/core Strasbourg
20 2HV Emmanuel Agbadou 7 tháng 6, 1997 (29 tuổi) 24 2 Bản mẫu:Fbaicon/core Beşiktaş
21 2HV Evan Ndicka 20 tháng 8, 1999 (26 tuổi) 27 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Roma
  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break
4 3TV Jean Michaël Seri (đội phó) 19 tháng 7, 1991 (35 tuổi) 64 4 Bản mẫu:Fbaicon/core Maribor
6 3TV Seko Fofana 7 tháng 5, 1995 (31 tuổi) 34 7 Bản mẫu:Fbaicon/core Porto
8 3TV Franck Kessié (đội trưởng) 19 tháng 12, 1996 (29 tuổi) 104 15 Bản mẫu:Fbaicon/core Al-Ahli
18 3TV Ibrahim Sangaré (đội phó 3) 2 tháng 12, 1997 (28 tuổi) 58 11 Bản mẫu:Fbaicon/core Nottingham Forest
25 3TV Parfait Guiagon 22 tháng 2, 2001 (25 tuổi) 5 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Charleroi
26 3TV Christ Inao Oulaï 6 tháng 4, 2006 (20 tuổi) 13 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Trabzonspor
  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break
9 4 Ange-Yoan Bonny 25 tháng 10, 2003 (22 tuổi) 5 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Inter Milan
10 4 Simon Adingra 1 tháng 1, 2002 (24 tuổi) 30 5 Bản mẫu:Fbaicon/core Monaco
11 4 Yan Diomande 14 tháng 11, 2006 (19 tuổi) 14 3 Bản mẫu:Fbaicon/core RB Leipzig
12 4 Elye Wahi 2 tháng 1, 2003 (23 tuổi) 5 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Nice
14 4 Oumar Diakité 20 tháng 12, 2003 (22 tuổi) 31 6 Bản mẫu:Fbaicon/core Cercle Brugge
15 4 Amad Diallo 11 tháng 7, 2002 (24 tuổi) 23 8 Bản mẫu:Fbaicon/core Manchester United
19 4 Nicolas Pépé (đội phó 5) 29 tháng 5, 1995 (31 tuổi) 57 14 Bản mẫu:Fbaicon/core Villarreal
22 4 Evann Guessand 1 tháng 7, 2001 (25 tuổi) 23 4 Bản mẫu:Fbaicon/core Crystal Palace
24 4 Bazoumana Touré 2 tháng 3, 2006 (20 tuổi) 9 2 Bản mẫu:Fbaicon/core TSG Hoffenheim

Triệu tập gần đây

Bản mẫu:Nat fs r start Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player

  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break

Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player

  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break

Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player

  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break

Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player

  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break

INJ = Cầu thủ rút lui vì chấn thương. |}

Kỷ lục

Tính đến 30 tháng 6 năm 2026
 
Didier Zokora là cầu thủ thi đấu nhiều nhất với 123 trận.
 
Didier Drogba là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất với 65 bàn.

Chú thích

  1. ^ "FIFA". fifa.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2021.
  2. ^ "Cote d'Ivoire agrees CAF timetable shift". CAFOnline.com. ngày 30 tháng 1 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2019.
  3. ^ "Host nation Ivory Coast continues miraculous run to AFCON final to set up a matchup against Nigeria". CNN. ngày 11 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2024.
  4. ^ "Nigeria 1–2 Ivory Coast". BBC Sport. ngày 11 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2024.
  5. ^ Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
  6. ^ "Canada wins inaugural Canadian Shield Tournament despite penalty shootout loss to Ivory Coast". CBC. ngày 10 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  7. ^ "LA liste Elim. Mondial 2026 (7e et 8e j.) la liste des joueurs sélectionnés". Facebook. Fédération Ivoirienne de Football. ngày 27 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.

Liên kết ngoài

Danh hiệu
Tiền nhiệm:
  Bờ Biển Ngà
Vô địch châu Phi
1992
Kế nhiệm:
  Nigeria
Tiền nhiệm:
  Nigeria
Vô địch châu Phi
2015
Kế nhiệm:
  Cameroon