Bước tới nội dung

Bộ tham mưu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Bộ Tổng tham mưu)
Tập tin:Military staff in Arawe.jpg
Cuộc họp tham mưu của Trung đoàn Chiến đấu số 112 (Hoa Kỳ) tại Arawe với Tướng Julian Cunningham (đang ngồi), đứng từ trái sang phải: không rõ danh tính, Trung tá C. E. Grant, Thiếu tá D. M. McMains, Đại tá A. M. Miller và Trung tá P. L. Hooper

Bộ tham mưu hay Bộ Tổng tham mưu (cũng được gọi là Bộ tham mưu Lục quân, Bộ tham mưu Hải quân, hoặc Bộ tham mưu Không quân tùy theo từng quân chủng) là một tập hợp gồm các sĩ quan, binh sĩ và nhân viên dân sự phục vụ cho sĩ quan chỉ huy của một sư đoàn hoặc đại đơn vị quân sự khác. Họ đảm nhiệm vai trò chỉ huy và kiểm soát thông qua công tác lập kế hoạch, phân tích, thu thập thông tin, cũng như truyền đạt, phối hợp và giám sát việc thực thi các mệnh lệnh của chỉ huy, đặc biệt trong các chiến dịch phức tạp, quy mô lớn và diễn biến nhanh. Bộ tham mưu được tổ chức thành các ban chức năng chuyên trách như hành chính, hậu cần, tác chiến, tình báo, huấn luyện, v.v. Nhờ đó, họ duy trì dòng thông tin luân chuyển thông suốt giữa sĩ quan chỉ huy, các đơn vị quân sự cấp dưới và các bên liên quan.[1][2] Mô hình bộ tham mưu tập trung giúp cấp trên kiểm soát chặt chẽ hơn từ trên xuống, nhưng lại đòi hỏi quy mô nhân sự rất lớn tại sở chỉ huy (HQ) và có thể làm giảm tính linh hoạt, chính xác trong chỉ đạo tác chiến dã chiến. Ngược lại, mô hình bộ tham mưu phân quyền giúp nâng cao khả năng nắm bắt tình huống, phát huy sáng kiến cá nhân, tăng tốc độ xử lý tại chỗ theo vòng lặp OODA, từ đó cải thiện độ chính xác và hiệu quả định hướng chiến dịch.[2]

Người tư lệnh "chỉ huy" bằng quyền lực cá nhân, năng lực ra quyết định và nghệ thuật lãnh đạo, đồng thời sử dụng bộ tham mưu như một công cụ hỗ trợ để thay mặt mình "điều hành" đơn vị lớn. Hầu hết các quốc gia NATO (bao gồm Hoa Kỳ và đa số các nước Châu Âu) đều áp dụng Hệ thống Tham mưu Lục địa có nguồn gốc từ quân đội Napoleon. Trong khi đó, Hệ thống Tham mưu Khối Thịnh vượng chung, được sử dụng phổ biến tại các quốc gia thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh, lại xuất phát từ mô hình của quân đội Anh.[2]

Chức năng

Quản lý thông tin

Chức năng cốt lõi của một bộ tham mưu là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời nhằm hỗ trợ công tác ra quyết định của tư lệnh. Dữ liệu này bao gồm các đánh giá tình hình, cập nhật diễn biến tác chiến và các kế hoạch dự phòng, nơi xem xét trước những tình huống tương lai để xây dựng phương án ứng phó phù hợp. Bằng việc phân tích sâu và đưa ra các khuyến nghị chất lượng, bộ tham mưu giúp chỉ huy lựa chọn phương án hành động tối ưu nhằm quản lý và bảo toàn tối đa lực lượng.

Không chỉ tạo ra và phân tích thông tin, bộ tham mưu còn điều phối dòng luân chuyển thông tin liên lạc trong nội bộ đơn vị cũng như với các cơ quan bên ngoài. Luồng thông tin gửi tới chỉ huy luôn được phân loại theo thứ tự ưu tiên, chuẩn hóa và chuyển đi qua các kênh chính thức. Những thông tin có tác động tới cấp dưới sẽ được phân phối thông qua bộ tham mưu tương ứng của từng cấp để phối hợp thực thi. Trường hợp thông tin không thuộc phạm vi xử lý của đơn vị, bộ tham mưu sẽ chuyển hướng tới đúng cấp hoặc tổ chức phù hợp để khai thác hiệu quả.

Bộ tham mưu thường là bộ phận đầu tiên phát hiện các nguy cơ phát sinh có thể ảnh hưởng đến chiến dịch. Những sự vụ tác động lớn đến sức chiến đấu của đơn vị sẽ lập tức được báo cáo lên chỉ huy trưởng để xin ý kiến chỉ đạo. Tuy nhiên, không phải vấn đề nào cũng cần đến cấp chỉ huy giải quyết; các sự việc mang tính thường nhật hoặc phạm vi nhỏ sẽ được giao thẳng cho các bộ phận chuyên trách, giúp người chỉ huy giải phóng thời gian để tập trung vào các quyết định chiến lược có ưu tiên cao hơn.

Ngoài ra, bộ tham mưu còn giữ vai trò phát hiện, đánh giá và chủ động khai thác các cơ hội xuất hiện trên chiến trường. Thông qua việc thu thập, xử lý và ứng dụng thông tin kịp thời, họ hỗ trợ đắc lực cho công tác lập kế hoạch, phối hợp và phát huy tối đa năng lực tác chiến của đơn vị.[3][4]

Cơ cấu

Trong một bộ tham mưu tiêu chuẩn, các sĩ quan cấp cao giàu kinh nghiệm sẽ trực tiếp phụ trách các ban tham mưu chuyên môn được tổ chức theo nhu cầu thực tế của đơn vị. Lực lượng quân nhân chuyên nghiệp và hạ sĩ quan cấp cao phân công nhân sự đảm bảo công tác bảo dưỡng trang thiết bị, phương tiện chiến thuật. Các chuyên viên phân tích chịu trách nhiệm tổng hợp, hoàn thiện báo cáo, trong khi hạ sĩ quan và chiến sĩ bên dưới trực tiếp thu thập dữ liệu từ các đơn vị và bộ tham mưu cấp dưới. Cơ cấu phân cấp này giúp việc ra quyết định và báo cáo luôn nằm dưới sự giám sát của những nhân sự dày dạn kinh nghiệm nhất, đồng thời tối ưu hóa luồng thông tin gửi ra từ sở chỉ huy để làm rõ toàn cục bức tranh tác chiến. Nhờ đó, các chỉ huy cấp cao tại sở chỉ huy có thể chú tâm ra quyết định hoặc đưa ra chỉ thị thu thập thêm tình báo (công việc đôi khi đòi hỏi binh sĩ phải mạo hiểm tính mạng để thực hiện).

Lịch sử

Trước cuối thế kỷ 18, hầu như chưa có sự hỗ trợ mang tính tổ chức bài bản cho các chức năng tham mưu như tình báo quân sự, hậu cần, lập kế hoạch hay quản lý nhân sự. Các sĩ quan chỉ huy đơn vị phải tự mình gánh vác tất cả các mảng việc này với sự giúp đỡ bộc phát, không chính thức từ cấp dưới, những người vốn không được đào tạo chuyên sâu hay phân công nhiệm vụ rõ ràng.

Áo

Trong bức thư gửi Nữ hoàng Maria Theresa vào tháng 1 năm 1758, Bá tước Leopold Joseph von Daun đã hối thúc việc trao một vai trò quan trọng hơn cho vị trí Generalquartiermeister (Tổng tham mưu trưởng).[5] Những thất bại liên tiếp của quân đội Áo, đặc biệt là tại Trận Leuthen, đã chỉ ra rằng quân đội thiếu đi một "bộ não bộ chỉ huy" đúng nghĩa, và việc phân chia khối lượng công việc là bắt buộc để Tổng chỉ huy có thời gian tập trung vào bức tranh chiến lược. Quy định năm 1757 đã khai sinh ra Grosse FeldgeneralstabKleine Generalstab (Bộ Tổng tham mưu lớn và nhỏ); đến năm 1769, một bộ tham mưu thường trực gồm 30 sĩ quan được thành lập dưới sự chỉ đạo của Franz Moritz von Lacy, lực lượng này sẽ được mở rộng bằng các sĩ quan cấp dưới khi có chiến tranh.[6] Bộ tham mưu "Lớn" chia làm ba bộ phận: Thứ nhất, Intrinsecum, chịu trách nhiệm hành chính nội bộ và điều hành các chiến dịch; thứ hai, bộ phận phụ trách hoạt động bên ngoài (gồm cả lực lượng công binh); thứ ba, Cục Thanh tra, xử lý việc truyền lệnh và quản lý tù binh chiến tranh. Bên cạnh Bộ Tổng tham mưu là Sĩ quan Phụ tá Tổng cơ quan, người đứng đầu nhóm sĩ quan phụ tá do các tư lệnh lựa chọn để giải quyết các mảng hành chính và thu thập tình báo, báo cáo trực tiếp lên Tổng chỉ huy. Tham mưu trưởng trở thành cố vấn số một cho Tổng chỉ huy; và trong một bước chuyển dịch mang tính cách mạng so với vai trò hành chính thuần túy trước đây, Tham mưu trưởng giờ đây trực tiếp lập kế hoạch tác chiến và giao lại các công việc hành chính thường nhật cho cấp dưới. Các sĩ quan tham mưu được rút ra từ các đơn vị chiến đấu và sẽ quay trở lại đó sau thời gian phục vụ, nhằm chứng minh năng lực lãnh đạo thực chiến. Trong chiến đấu hoặc khi quân đội tách thành các quân đoàn độc lập, một nhóm sĩ quan tham mưu nhỏ sẽ được điều động về các cánh quân như một sở chỉ huy thu nhỏ. Sĩ quan cao cấp nhất (thường là Thiếu tá) sẽ đảm nhiệm vị trí tham mưu trưởng cánh quân, với nhiệm vụ cốt lõi là giúp tư lệnh nắm bắt chuẩn xác ý đồ chiến thuật.

Khi Karl Mack von Leiberich làm tham mưu trưởng cho Hoàng tử Josias xứ Saxe-Coburg-Saalfeld tại Hà Lan, ông đã ban hành Instruktionspunkte für gesammte Herren Generals, điều khoản cuối trong số 19 quy định đã định hình rõ vai trò của sĩ quan tham mưu trong việc xử lý các chiến dịch công - thủ và hỗ trợ Tổng chỉ huy. Năm 1796, Đại Công tước Charles, Công tước xứ Teschen đã bổ sung thêm bản Observationspunkte, trong đó ông nhấn mạnh về vị trí Tham mưu trưởng: "Ông có nghĩa vụ phải cân nhắc mọi khả năng liên quan đến chiến dịch và không được tự biến mình thành kẻ chỉ biết thụ động thi hành chỉ thị".[7] Đến ngày 20 tháng 3 năm 1801, Trung tướng Peter Duka von Kadar trở thành Generalquartiermeister thời bình đầu tiên trên thế giới đứng đầu một bộ tham mưu, đưa vai trò của Tham mưu trưởng thời chiến tập trung hẳn vào việc lập kế hoạch và tác chiến. Chính Đại Công tước Charles đã ban hành bản Dienstvorschrift mới vào ngày 1 tháng 9 năm 1805,[8] chia bộ tham mưu thành ba bộ phận: 1) Thư tín Chính trị; 2) Cục Tác chiến (lập kế hoạch và tình báo); 3) Cục Dịch vụ (hành chính, cung ứng và tư pháp quân sự). Ông đã đưa ra định nghĩa mang tính kinh điển về Tham mưu trưởng hiện đại: "Tham mưu trưởng đứng sát bên cạnh Tổng chỉ huy và hoàn toàn thuộc quyền sử dụng của tư lệnh. Phạm vi công việc của ông không bị ràng buộc vào bất kỳ đơn vị cụ thể nào". "Tổng chỉ huy quyết định cái gì sẽ diễn ra và diễn ra như thế nào; người trợ lý chính của ông sẽ cụ thể hóa các quyết định đó, sao cho từng cấp dưới đều hiểu rõ nhiệm vụ được giao". Khi cấp Quân đoàn ra đời vào năm 1809, mỗi quân đoàn đều có một bộ tham mưu riêng, nơi tham mưu trưởng chịu trách nhiệm điều hành các chiến dịch và hiện thực hóa kế hoạch tổng thể của sở chỉ huy. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1809, bộ tham mưu đã phát triển lên hơn 170 người. Đến năm 1811, Joseph Radetzky von Radetz biên soạn cuốn Über die bessere Einrichtung des Generalstabs,[9] đặt trọng tâm vào vai trò quản lý, giám sát của Tham mưu trưởng đối với các cục chuyên trách dưới quyền các cục trưởng, về mặt thực tế đã hợp nhất lực lượng Sĩ quan Phụ tá và Sĩ quan Bộ Tổng tham mưu. Đây chính là những viên gạch đầu tiên hình thành nên một quân đoàn tham mưu chính thức, nơi các sĩ quan có thể chuyên môn hóa sâu về tác chiến, tình báo và hậu cần.[10]

Pháp

Dù từng có một bộ tham mưu thường trực tồn tại ngắn ngủi dưới thời St-Cyr (1783–1790), người Pháp đã quay trở lại hệ thống cũ vào năm 1790 khi Chính phủ Cách mạng bãi bỏ quân đoàn tham mưu. Khi tướng Louis Alexandre Berthier được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của Tập đoàn quân Ý vào năm 1795, vai trò của ông vẫn mang nặng tính hành chính cũ kỹ mà Jomini và Vachee từng mô tả chính xác là "thư ký trưởng" với "thẩm quyền rất hạn chế".[11] Cẩm nang của ông thực chất chỉ là một hệ thống quy định báo cáo hành chính.[12] Các sĩ quan tham mưu tuy cũng được luôn chuyển từ các đơn vị chiến đấu theo mô hình của Áo, nhưng lại không qua đào tạo bài bản nên chỉ thuần thục công việc văn phòng, đặc biệt là việc chuyển giao mệnh lệnh thật nhanh. Điều này lại rất hợp ý Napoleon Bonaparte khi ông nắm quyền vào năm sau; Napoleon đã sử dụng triệt để hệ thống của Berthier trong suốt các chiến dịch của mình. Điểm mấu chốt là Napoleon đóng vai trò là trùm tình báo và tự mình lập các kế hoạch tác chiến, một khối lượng công việc khổng lồ mà về sau ngay cả thiên tài như ông cũng không thể ôm xóm nổi.

Đức

Phổ

Phổ đã tiếp thu và phát triển phương pháp của Áo trong những năm sau đó, đặc biệt dưới thời Gerhard von Scharnhorst, người từng làm việc cùng quân đội Áo tại vùng Hà Lan thuộc Áo vào đầu thập niên 1790. Ban đầu, Quân đội Phổ chỉ bổ nhiệm một số lượng hạn chế các sĩ quan kỹ thuật để hỗ trợ chỉ huy dã chiến. Tuy nhiên, qua các cuộc cải cách trước năm 1746, công tác quản lý tình báo và lập kế hoạch dự phòng đã được chính thức đưa vào nhiệm vụ tham mưu. Luyện tập luân chuyển sĩ quan giữa vị trí chỉ huy và vị trí tham mưu được duy trì đều đặn để giúp họ thông thuộc cả hai khía cạnh tác chiến, một thực tiễn (kết hợp cùng đội ngũ hạ sĩ quan, binh sĩ) vẫn được ứng dụng cho đến ngày nay. Sau năm 1806, các học viện quân sự Phổ bắt đầu đào tạo bài bản cho sĩ quan cấp trung về kỹ năng tham mưu chuyên biệt. Đến năm 1814, Phổ chính thức luật hóa việc thành lập cơ quan chỉ huy quân sự trung ương, Bộ Tổng tham mưu Phổ, cùng bộ tham mưu riêng cho từng sư đoànquân đoàn. Dù còn tồn tại một số điểm hạn chế về chuyên môn và chính trị (nhất là khi nhìn qua lăng kính hai cuộc Thế chiến ở thế kỷ 20), mô hình Bộ Tổng tham mưu của Phổ vẫn trở thành chuẩn mực được nhiều quân đội lớn trên thế giới học tập.

Không quân Đức Quốc xã (Luftwaffe)

Tập tin:Bundesarchiv Bild 101I-433-0881-13A, Flugzeug Junkers Ju 88.jpg
Một chiếc Ju 88A thuộc phi đội Geschwader Stab của LG 1 mang chữ "A" màu xanh lam làm ký tự thứ ba theo quy định của Không quân Đức.

Thuật ngữ tiếng Đức Stab (nghĩa đen: "tham mưu") được sử dụng trong Thế chiến II để chỉ một đơn vị sở chỉ huy thuộc Không quân Đức (Luftwaffe). Các đơn vị Stab tồn tại ở cấp Gruppe hoặc Geschwader, tương đương cấp trung đoànkhông đoàn trong không quân các nước nói tiếng Anh. Đơn vị Stab vừa trực tiếp điều khiển các máy bay thuộc sở hữu của sở chỉ huy, vừa quản lý các máy bay thuộc các đơn vị cấp dưới.

Các máy bay thuộc đơn vị chỉ huy này bắt buộc phải dùng màu "máy bay tham mưu" (xanh lam hoặc xanh lá cây) cho ký tự thứ ba trong mã alphanumeric Geschwaderkennung của trung đoàn, nhằm phân biệt với các máy bay chiến đấu khác. Ký tự thứ tư (và là ký tự cuối) được dùng để phân biệt các Staffeln (phi đội) riêng biệt (thường từ chữ "H" trở đi):

  • Geschwader Stab = A (ký tự thứ ba màu xanh lam)
  • Stab I Gruppe ("Đơn vị Tham mưu, Tập đoàn I") = B (ký tự thứ ba màu xanh lá cây)
  • Stab II Gruppe = C (ký tự thứ ba màu xanh lá cây)
  • Stab III Gruppe = D (ký tự thứ ba màu xanh lá cây)
  • Stab IV Gruppe = F (ký tự thứ ba màu xanh lá cây)
  • Stab V Gruppe = G (ký tự thứ ba màu xanh lá cây)

Đôi khi họ cũng dùng các chữ cái Q, I, J, W hoặc chữ số, nhưng ít phổ biến hơn. Do các trung đoàn tiêm kích ban ngày Jagdgeschwader không dùng mã alphanumeric bốn ký tự Geschwaderkennung, nên ví dụ như trung đoàn tiêm kích phản lực Jagdgeschwader 7 Nowotny hay trung đoàn tiêm kích động cơ piston Jagdgeschwader 300 Wilde Sau sẽ dùng dải màu Phòng thủ Đế chế (đỏ-xanh lam hoặc xanh lam-trắng-xanh lam) rộng 90 cm ở đuôi thân máy bay để nhận diện các đơn vị Stabsschwarm.[13] Phía dưới buồng lái, cấp bậc của sĩ quan chỉ huy có thể được thể hiện qua các ký hiệu cấp bậc.

Ví dụ:

  • Máy bay mang mã "A" màu xanh lá cây, kèm ký hiệu D/St.III/St.G.77, nghĩa là máy bay thuộc Stab III của Stukageschwader (Trung đoàn máy bay ném bom bổ nhào) số 77.
  • Máy bay mang mã "G" màu xanh lá cây, có hình vẽ xe tăng (Panzer) nhỏ màu trắng gần buồng lái, kèm ký hiệu S.G. 1, nghĩa là máy bay thuộc Stab của Schlachtgeschwader (Trung đoàn Cường kích) số 1.

Vương quốc Anh

Trước Chiến tranh Krym, công tác tham mưu trong Lục quân Anh bị coi nhẹ; những tổn thất và hỗn loạn do thiếu tổ chức trong cuộc chiến đó đã buộc người Anh phải thay đổi tư duy.[14] Bộ Tổng tham mưu Anh được thành lập vào năm 1905 và được tái cơ cấu vào năm 1908. Khác với mô hình Phổ, quy mô Lục quân Anh quá nhỏ để duy trì hai nhánh sự nghiệp tham mưu và chỉ huy tách biệt, nên các sĩ quan thường phải luôn chuyển giữa hai vị trí này.[14] Beevor (trong cuốn Inside the British Army) chỉ ra rằng những mâu thuẫn trầm trọng giữa sĩ quan tham mưu và sĩ quan chiến đấu do thương vong khủng khếp trong chiến tranh chiến hào thời Thế chiến I đã khiến giới chỉ huy Anh quyết định bắt buộc mọi sĩ quan phải luân chuyển giữa tham mưu và tuyến đầu, nhằm ngăn ngừa việc hình thành một biệt giới sĩ quan tham mưu tách rời thực địa.

Hoa Kỳ

Đạo luật An ninh Quốc gia Hoa Kỳ 1947 đã thành lập Bộ Tham mưu Liên quân bao gồm đại diện các quân binh chủng. Thay vì đào tạo thành các sĩ quan tham mưu chuyên nghiệp suốt đời như mô hình Đức, các sĩ quan Mỹ sẽ luân chuyển có thời hạn vào và ra khỏi Bộ Tham mưu Liên quân. Sau đợt sửa đổi lớn đối với Điều 10 Bộ luật Hoa Kỳ bởi Đạo luật Goldwater-Nichols năm 1986, Bộ Tham mưu Liên quân ngày nay làm việc trực tiếp dưới quyền Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (thay vì tập thể Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân như giai đoạn 1947–1986). Theo cơ chế này, thẩm quyền chỉ huy và điều khiển tác chiến lực lượng thuộc về các tư lệnh chiến trường, những người báo cáo thông qua Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân tới thẳng Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ.

Hệ thống Tham mưu Lục địa

"Hệ thống Tham mưu Lục địa" (Continental Staff System), hay "Hệ thống Bộ Tổng tham mưu" (General Staff System - GSS), được đa số các nước NATO ứng dụng để chuẩn hóa cơ cấu chức năng tham mưu. Bắt nguồn từ mô hình Quân đội Pháp thế kỷ 19, mỗi vị trí tham mưu tại sở chỉ huy hoặc đơn vị trong hệ thống này đều được gán một chữ cái tiền tố (chỉ quân binh chủng/thành tố đơn vị) kết hợp với các chữ số chỉ vai trò chuyên môn.

Các chữ số tham mưu được quy ước theo thông lệ chứ không đại diện cho thứ cấp bậc (nghĩa là ban 1 không lớn hơn ban 2). Danh sách chuẩn theo cơ cấu của SHAPE bao gồm:[15]

Do hệ thống ban đầu chỉ có các ban từ 1 đến 6, việc các ban từ 7 đến 9 bị giản lược hoặc mang ý nghĩa khác tùy thuộc vào từng lực lượng là khá phổ biến.[17] Các biến thể thường gặp gồm: gộp ban 35 thành ban 3 (Tác chiến & Kế hoạch); bỏ ban huấn luyện và dùng số 7 cho công binh (như tại Bộ Chỉ huy Vận tải Hải quân Mỹ[18] và Lực lượng Đa quốc gia tại Iraq[19]); hoặc thay ban 9 bằng ban pháp chế (đưa mảng CIMIC nhập vào ban 2 hoặc ban 4, như ở Sở Chỉ huy Liên quân Thường trực Anh).[20]

Xuất phát từ Große Generalstab của Phổ, các ban tham mưu này theo truyền thống chỉ mang tiền tố G (hiện vẫn dùng trong lục quân). Tuy nhiên, trước sự phát triển phức tạp của lực lượng vũ trang hiện đại, các tiền tố mới đã được bổ sung để phân biệt các quân chủng và thành tố:

  • A: sở chỉ huy không quân (Air Force);
  • C: sở chỉ huy kết hợp đa quốc gia (Combined);
  • F: sở chỉ huy tiền phương (Forward) hoặc sở chỉ huy cơ động;
  • G: ban tham mưu chung thuộc lục quân hoặc thủy quân lục chiến tại các sở chỉ huy do cấp tướng chỉ huy và có tham mưu trưởng điều phối (như sư đoàn, Không đoàn/Cụm Hậu cần Thủy quân Lục chiến, Lữ đoàn độc lập MEB trở lên);[21]
  • J: sở chỉ huy liên quân đa quân binh chủng (Joint - bao gồm cả Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân[22]);
  • M: sở chỉ huy thủy quân lục chiến (Marine Corps);
  • N: sở chỉ huy hải quân (Navy);
  • S: ban tham mưu điều hành thuộc lục quân hoặc thủy quân lục chiến tại các đơn vị do sĩ quan cấp tá (Thiếu tá đến Đại tá) chỉ huy và có sĩ quan điều hành (XO) phối hợp (như lữ đoàn trực thuộc, trung đoàn, tiểu đoàn, phi đoàn);[21] tiền tố S cũng dùng cho Tiểu đoàn Công binh Xây dựng Cơ động Hải quân Mỹ (SeaBees)[23] và Phi đoàn An ninh Không quân.[24]
  • U: sở chỉ huy các lực lượng thuộc sứ mệnh quân sự Liên Hợp Quốc (United Nations).
  • CG: ký hiệu riêng dành cho các Trợ lý Tư lệnh thuộc Cảnh sát biển Hoa Kỳ (thay cho tiền tố G trước đây).

Trong một số trường hợp không chính thức, chữ cái E (Element - thành tố) cũng được sử dụng để chỉ một bộ phận độc lập nhỏ trực thuộc một tổ chức không phải bộ tham mưu (ví dụ: E3 là bộ phận tác chiến tại một căn cứ hậu cần, E4 là bộ phận hậu cần tại trạm cấp cứu tiền phương).

Như vậy, sĩ quan nhân sự thuộc sở chỉ huy hải quân sẽ được ký hiệu là N1. Trong các tổ chức lớn, N1 dùng để chỉ cả phòng nhân sự lẫn sĩ quan trưởng phòng đó. Hệ thống này có thể phân cấp chi tiết hơn: J1.3 (hoặc J13) là sĩ quan tác chiến thuộc phòng nhân sự của một sở chỉ huy liên quân. Phía dưới cấp này, các con số gán sau dấu gạch nối thường là số định danh vị trí cá nhân (ví dụ: G2.3-2 là sĩ quan ngân sách thuộc ban tác chiến/phòng tình báo; A1.1-1-1 có thể là nhân viên lễ tân).

Nhân lực hoặc Nhân sự

Sĩ quan phụ trách nhân sự quản lý toàn bộ hệ thống nhân sự và hành chính. Bộ phận này là cầu nối hành chính quan trọng giữa cấp dưới và sở chỉ huy, tiếp nhận các đề xuất từ dưới lên (như khen thưởng chiến sĩ) hoặc triển khai mệnh lệnh từ trên xuống (như lệnh điều chuyển quân nhân). Trong các đơn vị lục quân, vị trí này thường do Trợ lý hành chính/Sĩ quan phụ tá đảm nhiệm. Ban S-1 cũng quản lý bưu cục quân đội, công tác thi đua khen thưởng và cấp bậc.

Tình báo, An ninh và Tác chiến Thông tin

Ban tình báo chịu trách nhiệm thu thập, phân tích thông tin về đối phương nhằm dự báo ý đồ, ngăn chặn các hành động của địch. Phòng này cũng quản lý bản đồ và các hệ thống thông tin địa lý (GIS). Ở cấp đơn vị, S-2 đóng vai trò là sĩ quan an ninh, quản lý việc thẩm tra an ninh nhân sự, đồng thời giám sát tình báo và an ninh vật lý.

Tác chiến

Ban tác chiến phụ trách công tác lập kế hoạch và huấn luyện. Ban này xây dựng, điều phối các chiến dịch và mọi yếu tố đảm bảo để đại đơn vị vận hành, hoàn thành nhiệm vụ. Ở hầu hết các đơn vị, ban tác chiến là bộ phận quy mô nhất và giữ vai trò then chốt. Toàn bộ các mảng duy trì tác chiến, lập kế hoạch tương lai và tổ chức thực thi lịch huấn luyện hàng tuần đều do ban tác chiến đảm nhiệm. Trong các đơn vị chiến đấu (tiểu đoàn, trung đoàn, lữ đoàn), sĩ quan tác chiến mang cùng cấp bậc với sĩ quan điều hành (XO) nhưng đứng thứ ba trong chuỗi chỉ huy (các sĩ quan tham mưu khác thường thấp hơn một cấp). Ví dụ, ở cấp tiểu đoàn, S-3 mang quân hàm thiếu tá (bằng XO tiểu đoàn), còn các sĩ quan tham mưu khác mang cấp Đại úy hoặc Trung úy/Thượng úy.

Hậu cần

Ban hậu cần chịu trách nhiệm đảm bảo toàn bộ mảng vật tư, vận tải, cơ sở vật chất, dịch vụ và y tế:

  • Mua sắm, tiếp nhận, lưu kho, phân phối, bảo dưỡng, thu hồi và thanh lý vật tư, trang thiết bị.
  • Vận chuyển lực lượng và trang bị.
  • Xây dựng, quản lý, vận hành và bảo trì các cơ sở hạ tầng.
  • Cung ứng các dịch vụ hậu cần.
  • Đảm bảo y tế và chăm sóc sức khỏe quân y.

Theo học thuyết NATO, bộ tham mưu hậu cần tập trung giám sát các nguyên tắc hậu cần với phương châm "hậu cần phải phục vụ tối đa cho thắng lợi của chiến dịch", đi kèm các quy định rõ ràng về thẩm quyền và trách nhiệm.[25] Cơ cấu ban hậu cần có thể chia theo quân binh chủng hoặc địa bàn, với quy mô linh hoạt tùy thuộc môi trường tác chiến. Đơn cử, NATO triển khai "Trung tâm Hậu cần Liên quân Đa quốc gia"[26] hoạt động như một thực thể độc lập bên ngoài bộ tham mưu chiến trường, chỉ duy trì một số sĩ quan liên lạc nằm trong bộ tham mưu tư lệnh.

Kế hoạch và Chiến lược

Ban kế hoạch và chiến lược chịu trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược cho các chiến dịch dân sự - quân sự (CMO). Ở cấp đơn vị, S-5 là cố vấn chính cho chỉ huy về tác động tương quan giữa dân sự và quân sự tại khu vực trách nhiệm (AOI), khu vực tác chiến (AO) hoặc khu vực mục tiêu (TAOI) thuộc nước chủ nhà. Ở cấp sư đoàn, G5 đóng vai trò là văn phòng hỗ trợ nhiệm vụ (MSO) và Đại đội Chỉ huy & Đại bản doanh (HHC) đối với các kế hoạch dân vận.

Thông tin liên lạc (Truyền thông và CNTT)

Ban thông tin liên lạc quản lý toàn bộ hệ thống truyền thông, ban hành quy chuẩn và xử lý các sự cố mạng lưới thông tin liên lạc (bao gồm cả thoại và dữ liệu số qua đài vô tuyến, máy tính, v.v.). Ở cấp đơn vị, S-6 thường phụ trách quản lý, bảo trì toàn bộ thiết bị điện tử như máy tính, máy fax, máy photocopy và hệ thống điện thoại.

Huấn luyện

Ban huấn luyện lập kế hoạch, tổ chức các khóa huấn luyện do sở chỉ huy điều hành, đồng thời hướng dẫn và kiểm tra công tác huấn luyện tại các đơn vị cấp dưới.

Tài chính

Ban tài chính (tách biệt với Ban Hành chính) phụ trách xây dựng chính sách và quản lý ngân sách chiến dịch. Dù hành chính và tài chính có mối liên hệ chặt chẽ trong tác chiến, hai mảng này duy trì hai chuỗi báo cáo độc lập.

CIMIC: Hợp tác Dân - Quân

Hợp tác Dân - Quân (CIMIC) hay dân vận bao gồm các hoạt động thiết lập, duy trì và phát triển mối quan hệ giữa lực lượng quân sự với chính quyền, các tổ chức dân sự phi chính phủ và người dân địa phương trên địa bàn tác chiến (thân thiện, trung lập hoặc thù địch), nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến dịch quân sự và góp phần hoàn thành mục tiêu nhiệm vụ.[27]

Tham khảo

  1. ^ "General staff definition". Encyclopædia Britannica.
  2. ^ a b c Mallick, PK (2011). Staff System in the Indian Army: Time for Change (PDF) (Báo cáo). Quyển 31. New Delhi: Centre for Land Warfare Studies.
  3. ^ "FM 100-6 Chapter 5". irp.fas.org. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2026.
  4. ^ Mattila, Juha; Parkinson, Simon (ngày 28 tháng 8 năm 2017). "Evolution of military information management". Zeszyty Naukowe Akademii Sztuki Wojennej. 105: 188–207. doi:10.5604/01.3001.0010.3531.
  5. ^ Duffy, C. 'Instrument of War' p. 381
  6. ^ Desfourt, François (1769). "VIII". Generalreglement, oder Verhaltungen für die kaiserliche königliche Generalität [General Regulations, or Behaviors for the Imperial Royal Generals] (bằng tiếng Đức). Quyển 1, part 2. tr. 145ff. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2018.
  7. ^ Osterreichische Militärische Zeitschrift. Quyển III. Vienna: Streffleur. 1860. tr. 229–233.
  8. ^ Regele, O. (1966). Generalstabschefs aus vier Jahrhunderten. Vienna. tr. 55.
  9. ^ Kriegsgeschichtliche Abteilung des k.u.k. Kriegsarchivs (1913). Befreiungskriege. Quyển V: Leipzig. Vienna: Kriegsarchiv.
  10. ^ Fremont-Barnes, G., biên tập (2011). Armies of the Napoleonic Wars.; Kriegsarchiv Vienna, Nachlasse Wolf-Schneider, B/197, 6/IX
  11. ^ Vachee, 'Napoleon at Work' (1914) pp. 29ff
  12. ^ Lamarque, Jean Maximilien; Fririon, Franciois Nicolas baron (ngày 11 tháng 5 năm 2018). "Le Spectateur militaire: Recueil de science, d'art et d'histoire militaires". Bureau de Spectateur militaire. Lưu trữ bản gốc 23 tháng 9 2016 – qua Google Books.
  13. ^ "Reichsverteidigung Fighter-Wing Marking Reference Page".
  14. ^ a b "www.canadiansoldiers.com". www.canadiansoldiers.com. Lưu trữ bản gốc 23 tháng 9 2015.
  15. ^ "NATO SHAPE structure". nato.int. Lưu trữ bản gốc 9 tháng 1 2010.
  16. ^ Department of the Army (1997). Staff organization and Operations (FM 101-5) (PDF). tr. 4–16. Bản gốc (PDF) lưu trữ 22 tháng 11 2011. Truy cập 6 tháng 9 2010.
  17. ^ "The Command and Staff System in the Information Age: Is the Continental Staff System Dead?" (PDF). Canadian Army Journal. 1 (1). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2011.
  18. ^ "MSC N7". Military Sealift Command. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2011.
  19. ^ Ware, Jared L. (tháng 5–tháng 8 2009). "Joint Engineer-A Multinational Perspective" (PDF). Engineer. Fort Leonard Wood. {{Chú thích web}}: |archive-url= bị hỏng: dấu thời gian (trợ giúp)
  20. ^ "Permanent Joint Headquarters". Armed Forces Management of Defence. Lưu trữ bản gốc 2 tháng 7 2014.
  21. ^ a b "DOD Dictionary of Military and Associated Terms". Defense Technical Information Center. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 10 2016.
  22. ^ "J8 Force Structure, Resources, and Assessment Directorate". Joint Chiefs of Staff. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2024.
  23. ^ "Figure 12-3.--Naval Mobile Construction Battalion (NMCB) Organization". Storekeeper Basic. Navy Administration Training Manuals. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2023.
  24. ^ "AFI38-101" (PDF). Department of the Air Force. ngày 29 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2023.
  25. ^ "AJP-4(A): Allied Joint Logistic Doctrine" (PDF). TRANSNET. tháng 12 năm 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2013.
  26. ^ "Chapter 13: Multinational Logistics". NATO Logistics Handbook. tháng 10 năm 1997. Lưu trữ bản gốc 24 tháng 6 2013.
  27. ^ "FM 41-10" (PDF). Department of the Army. tháng 5 năm 1957. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2022 – qua Berlin Information-center for Transatlantic Security.

Đọc thêm

Liên kết ngoài