Cheikhou Kouyaté (sinh ngày 21 tháng 12 năm 1989) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Sénégal thi đấu ở vị trí tiền vệ phòng ngự hoặc trung vệ.

Cheikhou Kouyaté
Tập tin:West Ham United Vs Manchester City (24642418901) (cropped).jpg
Kouyaté thi đấu cho West Ham United năm 2016
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Cheikhou Kouyaté[1]
Ngày sinh 21 tháng 12, 1989 (36 tuổi)
Nơi sinh Dakar, Sénégal
Chiều cao 1,92 m[2]
Vị trí Tiền vệ phòng ngự, Trung vệ
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1996–2006 ASC Yego Dakar
2006–2007 RWDM Brussels
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2007–2008 RWDM Brussels 10 (0)
2008–2014 Anderlecht 153 (4)
2008–2009Kortrijk (mượn) 26 (3)
2014–2018 West Ham United 129 (12)
2018–2022 Crystal Palace 129 (2)
2022–2024 Nottingham Forest 33 (1)
2025–2026 Amedspor 8 (0)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2007 U-20 Senegal 3 (2)
2012 U-23 Senegal Olympic 4 (0)
2012–2024 Sénégal 92 (4)
Thành tích huy chương
Bóng đá nam
 Sénégal {{{3}}}
Cúp bóng đá châu Phi {{{3}}}
Vô địch Cameroon 2021
Á quân Ai Cập 2019
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 28 tháng 11 năm 2025

Kouyaté chuyển từ Sénégal đến Bỉ vào năm 2006, sau khi được đề nghị hợp đồng trẻ tại RWDM Brussels. Anh thi đấu 10 trận trước khi chuyển đến Anderlecht ở tuổi 19, nơi anh có 206 lần ra sân và bốn lần giành Giải bóng đá vô địch quốc gia Bỉ. Tháng 6 năm 2014, anh gia nhập West Ham United thuộc Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Năm 2018, anh chuyển đến Crystal Palace với mức phí ước tính 9,5 triệu bảng Anh và thi đấu cho câu lạc bộ này trong bốn mùa giải trước khi ký hợp đồng với Nottingham Forest vào năm 2022.

Là tuyển thủ quốc gia từ năm 2012 đến năm 2024, Kouyaté ra mắt đội tuyển quốc gia Sénégal ở tuổi 22 và đại diện cho đội tuyển tại Thế vận hội cùng năm. Anh thi đấu tại hai kỳ FIFA World Cup, cụ thể là các giải 20182022, cùng bốn kỳ Cúp bóng đá châu Phi, bao gồm chức vô địch của Sénégal tại năm 2021.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Sự nghiệp ban đầu

Kouyaté bắt đầu sự nghiệp bóng đá vào năm 1996 tại quê nhà với ASC Yego Dakar và được RWDM Brussels phát hiện vào tháng 9 năm 2006. RWDM Brussels sau đó ký hợp đồng với cầu thủ này vào tháng 1 năm sau.[3] Anh có 10 lần ra sân tại giải vô địch quốc gia cho đội một trong giai đoạn 2007-2008.[4]

Anderlecht

Khi Kouyaté bước sang tuổi 19, anh rời Brussels vì câu lạc bộ cũ không trả lương cho anh trong ba tháng. Sau đó, anh chuyển đến Anderlecht theo dạng chuyển nhượng tự do và ký hợp đồng bốn năm.[5] Anh cũng từng được cho KV Kortrijk mượn. Kouyaté có 153 lần ra sân tại giải vô địch quốc gia cho Anderlecht, ghi 4 bàn trong 5 mùa giải tại câu lạc bộ. Anh giành các chức vô địch 2009–10, 2011–12, 2012–132013–14 của Belgian Pro League, cũng như các danh hiệu Siêu cúp bóng đá Bỉ các năm 2010–11, 2012–13 và 2013–14.[4][6]

West Ham United

Mùa giải 2014–15

Tập tin:Cheikhou Kouyaté makes dua.jpg
Kouyaté cầu nguyện trước một trận đấu của West Ham, tháng 8 năm 2014

Ngày 18 tháng 6 năm 2014, Kouyaté ký hợp đồng bốn năm với West Ham United với mức phí 7 triệu bảng Anh.[7] Anh ra mắt West Ham vào ngày 16 tháng 8 trong thất bại 1–0 trên sân nhà trước Tottenham Hotspur, trận đấu mà màn trình diễn của anh được BBC mô tả là "ấn tượng".[8] Tuần sau đó, huấn luyện viên Sam Allardyce so sánh anh với cựu đội trưởng Arsenal Patrick Vieira.[9] Ngày 28 tháng 12, Kouyaté ghi bàn thắng đầu tiên cho West Ham trong thất bại 2–1 trước Arsenal.[10] Bàn thắng thứ hai của anh trong mùa giải đến vào ngày 8 tháng 2 năm 2015 trong trận hòa 1–1 với Manchester United. Màn trình diễn của anh trong trận đấu được huấn luyện viên Allardyce khen ngợi là màn trình diễn hay nhất trận, đồng thời cũng được chọn là Màn trình diễn cá nhân của mùa giải của một cầu thủ West Ham tại lễ trao giải thường niên của câu lạc bộ.[11][12] Anh ghi thêm hai bàn trong mùa giải, lần lượt trong trận hòa 2–2 trên sân khách trước Tottenham và thất bại 2–1 trên sân khách trước Leicester City.[13][14] Kouyaté kết thúc mùa giải với 31 lần ra sân trong tổng số 38 trận có thể tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh.[15]

Mùa giải 2015–16

Ngày 9 tháng 8 năm 2015, Kouyaté ghi bàn mở tỉ số ở phút 43 trong chiến thắng 2–0 trước Arsenal tại Emirates.[16] Sau đó, anh ghi bàn trong thất bại 4–3 trên sân nhà trước Bournemouth vào ngày 22 tháng 8.[17] Anh ghi bàn thắng thứ ba trong mùa giải ở trận hòa 2–2 với Norwich City vào ngày 26 tháng 9, ghi bàn gỡ hòa ở phút 90 để giữ lại một điểm cho West Ham.[18] Vào tháng 3 năm 2016, Kouyaté ký hợp đồng mới có thời hạn năm năm với West Ham, có thể giữ anh ở lại câu lạc bộ đến năm 2021.[19] Kouyaté bị truất quyền thi đấu hai lần trong mùa giải 2015–16 và cả hai lần đều được Hiệp hội bóng đá Anh (FA) hủy thẻ. Ngày 21 tháng 2, anh bị trọng tài Jonathan Moss truất quyền thi đấu trong chiến thắng 5–1 tại Cúp FA trên sân Blackburn Rovers, nhưng thẻ này được hủy vài ngày sau đó.[20][21] Ngày 2 tháng 4, anh bị trọng tài Mark Clattenburg truất quyền thi đấu trong trận Premier League tại Boleyn Ground trước Crystal Palace. Tuy nhiên, quyết định này cũng bị đảo ngược vài ngày sau đó.[22]

Mùa giải 2016–17

Ngày 4 tháng 8 năm 2016, Kouyaté ghi bàn thắng đầu tiên trong lịch sử West Ham tại Sân vận động Olympic, ở phút thứ 8 trong trận Europa League gặp NK Domžale. Anh cũng ghi bàn thứ hai trong trận đấu, giúp West Ham thắng 3–0.[23] Ngày 26 tháng 10 năm 2016, Kouyaté ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 2–1 tại Cúp EFL trước đối thủ Chelsea.[24] Ngày 8 tháng 4 năm 2017, Kouyaté ghi một "cú sút chìm tuyệt đẹp từ khoảng cách 25 yard", giúp West Ham đánh bại đối thủ cạnh tranh trụ hạng Swansea City.[25]

Mùa giải 2017–18

Ngày 23 tháng 9 năm 2017, Kouyaté ghi bàn thắng đầu tiên của mùa giải trong thất bại 3–2 trước Tottenham.[26] Bàn thắng cuối cùng của Kouyaté cho câu lạc bộ đến vào ngày 24 tháng 11 năm 2017, khi anh ghi bàn gỡ hòa trong trận hòa 1–1 với Leicester City.[27] Kouyaté đánh dấu bàn thắng bằng màn ăn mừng khoanh tay hạ thấp, nhằm góp phần nâng cao nhận thức về tình trạng nô lệ đang diễn ra tại Libya.[28]

Crystal Palace

Ngày 1 tháng 8 năm 2018, Kouyaté hoàn tất việc chuyển đến câu lạc bộ cùng thành phố London là Crystal Palace theo hợp đồng bốn năm với mức phí không được tiết lộ, được cho là 9,5 triệu bảng Anh.[29] Anh ra mắt 10 ngày sau đó trong chiến thắng 2–0 trên sân Fulham, khi vào sân ở phút 88 thay Andros Townsend.[30] Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ ở trận đấu thứ 54 vào ngày 26 tháng 12 năm 2019, ghi bàn gỡ hòa trong chiến thắng 2–1 trước câu lạc bộ cũ tại Selhurst Park.[31]

Sau khi Patrick Vieira được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào năm 2021, Kouyaté tiếp tục thi đấu ở hàng tiền vệ hoặc trong hàng phòng ngự mở rộng theo sơ đồ 5–3–2, thay vì là một phần của hàng thủ bốn người như mùa giải 2020–21, trong khi các đồng đội cũ ở tuyến giữa của anh là Luka MilivojevićJames McArthur dần giảm vai trò quan trọng.[32] Kouyaté góp mặt trong hành trình vào bán kết Cúp FA của Palace, ghi bàn trong chiến thắng 2–1 trên sân nhà trước Stoke City ở vòng Năm vào ngày 1 tháng 3.[33] Vào tháng 5 năm 2022, Kouyaté gọi đồng đội người Sénégal Idrissa Gueye là "người đàn ông thực thụ" sau khi có thông tin rằng Gueye từ chối mặc áo Paris Saint-Germain có số áo màu cầu vồng nhằm ủng hộ quyền LGBT. Vieira cho biết ông sẽ có một cuộc trao đổi riêng với Kouyaté.[34]

Nottingham Forest

Ngày 13 tháng 8 năm 2022, Kouyaté ký hợp đồng hai năm với câu lạc bộ Giải bóng đá Ngoại hạng Anh Nottingham Forest.[35] Anh ra mắt Forest trong trận hòa 1–1 với Everton vào ngày 21 tháng 8[36] và ghi bàn thắng đầu tiên trong thất bại 3–2 trước Bournemouth vào ngày 4 tháng 9.[37] Ngày 5 tháng 6 năm 2024, câu lạc bộ thông báo rằng Kouyaté sẽ rời đội vào mùa hè khi hợp đồng của anh hết hạn.[38]

Sự nghiệp quốc tế

Kouyaté được triệu tập vào đội U-20 Sénégal khi 18 tuổi, cùng năm anh ra mắt RWDM Brussels. Anh ghi hai bàn chỉ sau ba trận cho đội vào năm 2007.

Ngày 29 tháng 2 năm 2012, Kouyaté ra mắt đội tuyển quốc gia Sénégal khi vào sân ở phút 56 thay Mohamed Diamé trong trận giao hữu hòa không bàn thắng trên sân Nam Phi. Khi đó, anh đang trong quá trình nhập tịch công dân Bỉ và từng được liên hệ với đội tuyển quốc gia của quốc gia châu Âu này.[39] Cùng năm đó, anh được công bố có tên trong đội hình đội tuyển bóng đá Olympic Sénégal. Anh thi đấu trong mọi trận đấu ở lần đầu Sénégal tham dự giải đấu, kết thúc bằng việc bị loại ở tứ kết.

Vào tháng 1 năm 2015, anh là thành viên đội hình tham dự Cúp bóng đá châu Phi, tổ chức tại Guinea Xích Đạo.[40] Anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên vào ngày 5 tháng 9 tại vòng loại Cúp bóng đá châu Phi, trong chiến thắng 2–0 trên sân Namibia.[41]

Anh là thành viên đội hình 23 cầu thủ tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga,[42] và thi đấu cả bảy trận khi Sénégal giành ngôi á quân tại Cúp bóng đá châu Phi ở Ai Cập. Tại Cúp bóng đá châu Phi 2021, anh thi đấu sáu trận cho đội vô địch,[43] sau khi bị treo giò ở vòng 16 đội gặp Cabo Verde.[44] Trở lại ở trận tứ kết gặp Guinea Xích Đạo, anh tái lập thế dẫn bàn cho Sénégal trong chiến thắng 3–1 chỉ sau hai phút vào sân từ ghế dự bị.[45]

Kouyaté là thành viên đội hình Sénégal tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2022 tại Qatar. Anh đá chính trong trận mở màn gặp Hà Lan, nơi anh dính chấn thương gân kheo khiến anh không thể tiếp tục tham dự phần còn lại của giải.[46][47]

Vào tháng 12 năm 2023, anh có tên trong đội hình Sénégal tham dự Cúp bóng đá châu Phi bị hoãn, tổ chức tại Bờ Biển Ngà.[48]

Đời tư

Kouyaté kết hôn với Zahra Mbow.[49] Họ có một con trai sinh năm 2021.[50] Theo nhiều cơ quan truyền thông Sénégal, Kouyaté có người vợ thứ hai.[51][52][53] Kouyaté là một tín đồ Hồi giáo thực hành và từng thực hiện chuyến hành hương Hajj đến Mecca.[54]

Anh được Tổng thống Sénégal Macky Sall bổ nhiệm làm Đại sĩ quan Huân chương Sư tử Quốc gia sau chiến thắng của quốc gia tại Cúp bóng đá châu Phi 2021.[55]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Tính đến trận đấu diễn ra ngày 19 tháng 5 năm 2024[6][56]
Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia Cúp Liên đoàn Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
RWDM Brussels 2007–08 Giải bóng đá vô địch quốc gia Bỉ 10 0 0 0 10 0
K.V. Kortrijk (mượn) 2008–09 Belgian Pro League 26 3 0 0 26 3
Anderlecht 2009–10 Belgian Pro League 21 1 3 1 9 0 33 2
2010–11 23 1 2 0 8 0 33 1
2011–12 38 0 0 0 10 0 48 0
2012–13 33 1 4 0 8 0 45 1
2013–14 38 1 2 0 7 0 47 1
Tổng cộng 153 4 11 1 42 0 206 5
West Ham United 2014–15 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 31 4 1 0 0 0 32 4
2015–16 34 5 5 0 1 0 2[a] 0 42 5
2016–17 31 1 0 0 2 1 3[a] 2 36 4
2017–18 33 2 1 0 3 0 37 2
Tổng cộng 129 12 7 0 6 1 5 2 147 15
Crystal Palace 2018–19 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 31 0 4 0 2 0 37 0
2019–20 35 1 1 0 0 0 36 1
2020–21 36 1 1 0 0 0 37 1
2021–22 27 0 3 1 1 0 31 1
Tổng cộng 129 2 9 1 3 0 141 3
Nottingham Forest 2022–23 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 21 1 0 0 1 0 22 1
2023–24 12 0 1 0 1 0 14 0
Tổng cộng 33 1 1 0 2 0 36 1
Tổng cộng sự nghiệp 480 22 28 2 11 1 47 2 566 27
  1. ^ a b Lần ra sân ở UEFA Europa League

Quốc tế

Tính đến trận đấu diễn ra ngày 26 tháng 3 năm 2024[57]
Tập tin:Senegal defends vs cross, México vs Senegal @ London 2012 -11.jpg
Kouyaté (áo trắng, số 8) thi đấu cho Sénégal trong trận gặp México tại Thế vận hội 2012
Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Sénégal 2012 6 0
2013 4 0
2014 6 0
2015 10 2
2016 6 0
2017 10 0
2018 9 0
2019 11 0
2020 3 0
2021 8 1
2022 11 1
2023 5 0
2024 3 0
Tổng cộng 92 4
Tỉ số và kết quả liệt kê số bàn thắng của Sénégal trước.[57]
Danh sách bàn thắng quốc tế của Cheikhou Kouyaté
# Ngày Địa điểm Đối thủ Tỉ số Kết quả Giải đấu
1. 5 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Sam Nujoma, Windhoek, Namibia   Namibia 1–0 2–0 Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2017
2. 15 tháng 11 năm 2015 Sân vận động Léopold Sédar Senghor, Dakar, Sénégal   Madagascar 1–0 3–0 Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
3. 30 tháng 3 năm 2021 Sân vận động Lat-Dior, Thiès, Sénégal   Eswatini 1–1 1–1 Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2021
4. 30 tháng 1 năm 2022 Sân vận động Ahmadou Ahidjo, Yaoundé, Cameroon   Guinea Xích Đạo 2–1 3–1 Cúp bóng đá châu Phi 2021

Danh hiệu

Anderlecht

Sénégal

Cá nhân

Tham khảo

  1. ^ "Updated tại lists for 2022/23 Premier League". Premier League. ngày 4 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2023.
  2. ^ "Premier League Player Profile Cheikhou Kouyaté". Premier League. 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015.
  3. ^ FC BRUSSELS Players Lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2009 tại Wayback Machine on www.rwdm-brussels.be
  4. ^ a b "CHEIKHOU KOUYATE". West Ham United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2015.
  5. ^ Cheikhou Kouyaté moet van de rechter naar Anderlecht Lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2009 tại Wayback Machine on www.nieuwsblad.be
  6. ^ a b c d Cheikhou Kouyaté tại Soccerway
  7. ^ Krishnan, Joe (ngày 18 tháng 6 năm 2014). "West Ham sign Cheikhou Kouyate: Who is the £7 million midfielder and what can the fans expect?". The Independent. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  8. ^ Rose, Gary (ngày 16 tháng 8 năm 2014). "West Ham United 0–1 Tottenham Hotspur". BBC Sport. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2015.
  9. ^ "Sam Allardyce: When I look at West Ham signing Cheikhou Kouyate I see Patrick Vieira". London Evening Standard. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2014.
  10. ^ "West Ham United 1–2 Arsenal". Jamaica Observer. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2014.
  11. ^ "Allardyce singles out West Ham star for special praise after Manchester United draw". london24.com. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015.
  12. ^ "Kouyate's vote of thanks". West Ham United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015.
  13. ^ "Tottenham 2–2 West Ham". BBC Sport. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015.
  14. ^ "Leicester City 2–1 West Ham United". BBC Sport. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015.
  15. ^ "Trận thi đấu của Cheikhou Kouyaté trong 2014/2015". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015.
  16. ^ Osborne, Chris (ngày 9 tháng 8 năm 2015). "Arsenal 0–2 West Ham". BBC Sport. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015.
  17. ^ "West Ham United 3 - 4 AFC Bournemouth Match report - 22/08/2015 Premier League — Goal.com". goal.com. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2015.
  18. ^ "West Ham United 2–2 Norwich City". BBC Sport. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2015.
  19. ^ "Cheik's in for five more years!". West Ham United F.C. ngày 18 tháng 3 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2016.
  20. ^ "Blackburn 1–5 West Ham United". BBC Sport. ngày 21 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016.
  21. ^ "Kouyate red card rescinded". West Ham United F.C. ngày 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016.
  22. ^ "West Ham: Cheikhou Kouyate red card rescinded by FA". BBC Sport. ngày 5 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016.
  23. ^ "West Ham United 3–0 NK Domzale (agg 4–2)". BBC Sport. ngày 4 tháng 8 năm 2016.
  24. ^ "West Ham United vs. Chelsea 2–1". Soccerway. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018.
  25. ^ "West Ham United 1–0 Swansea City". BBC Sport. ngày 8 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018.
  26. ^ "West Ham United vs. Tottenham Hotspur 2–3". Soccerway. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018.
  27. ^ "West Ham United vs. Leicester City 1–1". Soccerway. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018.
  28. ^ "Pogba's gesture raises Libya slave trade awareness '100-fold'". Goal. ngày 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018.
  29. ^ "Cheikhou Kouyate: Crystal Palace sign midfielder from West Ham". BBC Sport. ngày 1 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2018.
  30. ^ Taiwo, Taiye (ngày 11 tháng 8 năm 2018). "Crystal Palace's Schlupp, Zaha dazzle as Seri suffers debut loss with Fulham". Goal. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  31. ^ Taiwo, Taiye (ngày 26 tháng 12 năm 2019). "Kouyate breaks Crystal Palace duck against former club West Ham United". Goal. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  32. ^ Pewter, Alex (ngày 17 tháng 5 năm 2022). "Tuesday talking point: Kouyate 'pivotal' to Vieira's tactical flexibility". BBC Sport. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  33. ^ Mabuka, Dennis (ngày 2 tháng 3 năm 2022). "Kouyate on target, Zaha and Ayew shine as Crystal Palace defeat Stoke City in FA Cup". Goal. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  34. ^ "Patrick Vieira will 'speak to' Cheikhou Kouyate if he has backed Idrissa Gueye on rainbow symbol stance". Sky Sports. ngày 19 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  35. ^ "Cheikhou Kouyaté checks in". ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  36. ^ "POINTS SHARED AT GOODISON". Nottingham Forest F.C. ngày 21 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  37. ^ "FOREST BEATEN AT THE CITY GROUND". Nottingham Forest F.C. ngày 4 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  38. ^ Club, Nottingham Forest Football (ngày 5 tháng 6 năm 2024). "Forest confirm retained list". Nottingham Forest Football Club. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
  39. ^ "Kouyaté préfère le Sénégal à la Belgique" (bằng tiếng French). RTL. ngày 28 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  40. ^ "Senegal off to the perfect start". West Ham United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015.
  41. ^ "Kouyaté, Mané lead Senegal to victory". African Football. ngày 5 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  42. ^ Crawford, Stephen (ngày 4 tháng 6 năm 2018). "Revealed: Every World Cup 2018 squad - Final 23-man lists". Goal.
  43. ^ "Senegal Africa Cup of Nations Winners". Sky Sports. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2022.
  44. ^ Verri, Matt (ngày 25 tháng 1 năm 2022). "Senegal XI vs Cape Verde: Confirmed team news, starting lineup, injury and Covid latest for AFCON tie today". Evening Standard. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  45. ^ "Cheikhou Kouyaté's instant impact helps Senegal see off Equatorial Guinea". The Guardian. ngày 30 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  46. ^ "Senegal squad". ESPN UK. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2023.
  47. ^ Carey, Mark (ngày 19 tháng 12 năm 2022). "Premier League health check: What state are the division's World Cup players in?". The Athletic. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  48. ^ "Afcon 2023: Senegal and Sadio Mane set for defence of title". BBC Sport Africa. ngày 29 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  49. ^ Fiorelli, Emilie (ngày 19 tháng 7 năm 2019). "WAGS : Sénégal - Algérie : qui sont les femmes des finalistes de la CAN 2019 ?". Public (bằng tiếng French). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  50. ^ Sene, Khadija (ngày 10 tháng 8 năm 2021). "Zahra et Cheikhou Kouyate : Revivez en images le baptême de leur fils (vidéo)" (bằng tiếng French). Senenews. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  51. ^ "Cheikhou Kouyaté prend une 2e épouse, sa 1ere femme réagit de fort belle manière !(Images)". Press Afrik. ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  52. ^ Sene, Khadija (ngày 31 tháng 1 năm 2022). "But de Cheikhou Kouyaté : Ses femmes jubilent, les proches de Zahra suggèrent une 3e épouse à Kouyaté. Découvrez sa réponse" (bằng tiếng French). Senenews. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  53. ^ Sarr, Antoine (ngày 6 tháng 2 năm 2022). "Bloquée à l'AIBD : La niarel de Cheikhou Kouyaté fait un tacle griffé à Air Sénégal" (bằng tiếng French). Senego. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  54. ^ Taiwo, Taiye (ngày 25 tháng 5 năm 2019). "EXTRA TIME: Senegal's Idrissa Gueye and Cheikhou Kouyate embark on pilgrimage ahead of Afcon". Goal. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  55. ^ a b "Cash prizes, real estate, and highest honours as Senegal celebrates Nations Cup heroes". Reuters. ngày 8 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2023.
  56. ^ "Cheikhou Kouyaté". Soccerbase. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
  57. ^ a b "Cheikhou Kouyaté". National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  58. ^ "Africa Cup of Nations 2021: Mane with winning penalty as Senegal beat Egypt on penalties". BBC Sport. ngày 5 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2022.
  59. ^ "Algeria win Africa Cup of Nations". BBC Sport. ngày 19 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2022.

Liên kết ngoài

  • Hồ sơ tại website của Nottingham Forest F.C.
  • Cheikhou Kouyaté tại SoccerbaseLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
  • Cheikhou Kouyaté – Thành tích thi đấu tại UEFALỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).

Bản mẫu:Đội hình Amed S.F.K.