Halva
| Tập tin:Halva Icecream P1130769.JPG | |
| Bữa | Đồ ngọt, bánh kẹo, kem |
|---|---|
| Xuất xứ | Iran (Ba Tư)[1][2] |
| Vùng hoặc bang | Tây Á, Đông Âu, Balkan, Ngoại Kavkaz, Bắc Phi, Đông Bắc Phi |
| Nhiệt độ dùng | Lạnh |
| |
Ḥalwā (tiếng Ba Tư: حلوا, đã Latinh hoá: halva), hay còn gọi là halvah, halwa, halua[3], là một loại đồ ngọt đặc trưng của các vùng trải dài từ Bắc Phi, Đông Phi, Đông Âu sang đến Balkan, Tây Á, Trung Á và Nam Á. Halva có nhiều kiểu chế biến, thường là một món ngọt có kết cấu đặc được làm từ bột mì, bơ, dầu, saffron, nước hoa hồng, sữa, bột nghệ và đường[4][5][6][7].
Gốc của từ
Từ halva có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập: حلاوة, đã Latinh hoá: ḥalwā, có nghĩa là một loại đồ ngọt[8][9][10] . Gốc từ tiếng Ả Rập: ح ل و, đã Latinh hoá: ḥ-l-w có nghĩa là "ngọt"[11] Thời tiền Hồi giáo, loại đồ ngọt được cho là tiền thân của halva được gọi là روغن خورديگ (rōɣæn xordīg) trong tiếng Ba Tư Trung Cổ, có nghĩa là "thức ăn dầu"[1]. Giai đoạn Đế quốc Ottoman nắm quyền, món ăn này được gọi là حلوى helva trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ.
Nguồn gốc
Halva bắt nguồn từ Ba Tư (thời nay là Iran)[1][2]. Trong thế kỷ IX, từ này được dùng để gọi nhiều loại đồ ngọt, bao gồm cả loại bánh kẹo quen thuộc dùng bột semonila nấu chín có đường hoặc bột mì đặc[4][8]. Những công thức làm halva đúng chuẩn đầu tiên được ghi chép trong cuốn sách dạy nấu ăn tiếng Ả Rập thế kỷ XIII có tên Kitab al-Tabikh (Sách về các món ăn) và một cuốn sách dạy nấu ăn vô danh từ vùng Al-Andalus thế kỷ XIII.
Nhà ngữ học Athenaios đề cập đến một món ăn Hy Lạp cổ đại có tên là "sesamidios" (tiếng Hy Lạp cổ: σησαμίδιός), là một loại bánh hình cầu làm từ mật ong, hạt mè rang và dầu; món ăn này được coi là giống với phiên bản halva làm từ hạt mè[12]. Halva cũng xuất hiện ở Đế quốc Đông La Mã và có ghi chép rõ ràng hơn[13]. Halva sau đó được người Thổ Ottoman đa dạng hoá khiến món ăn nổi tiếng khắp đế chế [8] Một phiên bản halva làm từ hạt mẹ trong tiếng Ả Rập: حلاوة طحينية được tìm thấy trong từ điển của nhà Đông phương học người Thụy Điển Jacob Berggren xuất bản năm 1844 Jacob Berggren,[14]. Theo tạp chí Al Adib, một nhà máy sản xuất tahini halwa đã được thành lập vào năm 1874 tại Beirut[15].
Loại
Hầu hết các loại halva đều là những loại bánh kẹo tương đối đặc được làm ngọt bằng đường hoặc mật ong[16]. Tuy nhiên, kết cấu của chúng rất khác nhau. Ví dụ, kết cấu của halva làm từ bột semolina có thể dao động từ dạng couscous béo ngậy, ẩm ướt, vón cục[17] đến dạng thạch và trong suốt, trong khi halva làm từ mè thì khô hơn và dễ vỡ vụn hơn[18].
Halva làm từ mè
Kẹo mè halva rất phổ biến ở vùng Balkan, Ba Lan, Tây Á và các khu vực khác xung quanh Địa Trung Hải.
Thành phần chính trong loại kẹo này là bơ hoặc bột mè (tahini), và đường, glucose hoặc mật ong[4]. Cây xà phòng[19][20]. Cây xà phòng[21][22] (được gọi là ‘erq al halaweh trong tiếng Ả Rập; çöven trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ), lòng trắng trứng được thêm vào một số công thức để ổn định dầu trong hỗn hợp hoặc tạo kết cấu đặc trưng cho loại kẹo thành phẩm. Các thành phần và hương liệu khác, chẳng hạn như hạt dẻ cười, bột ca cao, nước cam, vani hoặc sô-cô-la thường được thêm vào hỗn hợp tahini và đường [4][21].
Halva làm từ hạt hướng dương
Halva hướng dương rất phổ biến ở các nước thuộc Liên Xô cũ cũng như ở Bulgaria và România[22]. Được làm từ hạt hướng dương rang xay thay vì mè; ngoài ra còn có thể bao gồm các loại hạt khác hoặc bột ca cao hay vani[23][24].
Halva làm từ đậu phộng
Tại Argentina, những người nhập cư Hy Lạp vào đầu thế kỷ XX đã tạo ra một loại kẹo halva gọi là mantecol từ bơ đậu phộng, hiện được bán trên thị trường dưới tên gọi Mantecol và Nucrem. Sản phẩm này được tiêu thụ rộng rãi trong nước.
Halva làm từ cà rốt
Gajar ka halwa, hay gajorer halua, là một loại halva phổ biến ở Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Món này được làm bằng cách bào sợi cà rốt rồi ninh nhỏ lửa với sữa, đường và ghee (bơ đã lọc), thường được thêm hương vị của bạch đậu khấu và trang trí bằng các loại hạt như hạnh nhân, hạt dẻ cười hoặc hạt điều. Đôi khi, để tăng độ béo ngậy và hương vị, người ta cũng cho khoya (sữa cô đặc) hoặc sữa đặc có đường vào.
Các loại halva khác
Pişmaniye (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ) hay kẹo bông gòn halva là một loại kẹo truyền thống, được chế biến ở Kocaeli, Thổ Nhĩ Kỳ. Kẹo bông gòn halva có thể được tìm thấy với hương vị thông thường hoặc vị hồ trăn, và có những thương hiệu được chứng nhận halal hoặc kosher.
Trong ẩm thực Trung Quốc, có một loại kẹo giống như kẹo bông gòn được gọi là kẹo râu rồng được dùng như một món ăn nhẹ hoặc món tráng miệng.
Khác biệt giữa các văn hoá và đất nước trên thế giới
Armenia
Món halva của Armenia thường được làm từ bột semolina, mè, mật ong, bơ và đường[25].
Azerbaijan
Một biến thể khác đến từ Sheki, Azerbaijan. Món Şəki halvası halva dùng để chỉ một loại bánh ngọt nhiều lớp kiểu bakhlava, bên trong nhân là hỗn hợp các loại hạt tẩm gia vị và được kẻ siro màu đỏ làm từ nghệ tây, cà rốt khô và củ dền[26][27].
Iran
Ở Iran, halva thường dùng để chỉ một loại bánh kẹo có liên quan được làm từ bột mì và bơ, được tẩm hương nghệ tây và nước hoa hồng[28][29]. Thành phẩm có màu vàng, nâu hoặc nâu sẫm. Halva được trải mỏng trên đĩa và để khô thành dạng bột nhão. Halva thường được phục vụ trong các lễ cưới, nghi lễ tôn giáo và đám tang.
Halva ardeh là thuật ngữ của Iran dùng để chỉ halva làm từ tahini, và có thể có hoặc không có hạt dẻ cười nguyên hạt. Ardeh là mè đã qua chế biến ở dạng bột nhão, thường được làm ngọt bằng siro[30][31].
Myanmar
Ở Myanmar (Burma), halawa (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) thường dùng để chỉ Pathein halawa (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), một loại bánh kẹo của Myanmar được làm từ bột gạo nếp, bột gạo, sữa và dừa bào sợi, có nguồn gốc từ thị trấn Pathein thuộc vùng đồng bằng sông Ayeyarwaddy. Một loại bánh kẹo phổ biến khác làm từ bột semolina, được gọi là sooji halawa ở Ấn Độ, lại có tên là sanwin makin ở Myanmar.
Palestine
Ở Bờ Tây Palestine, món tahini halwa hương qizha (bột nigella sativa) được làm thủ công[32] cùng với một loại tahini halwa giống như kẹo bông gòn "angel hair"[33][34].
Ý
Năm 2023, xưởng sản xuất bánh kẹo thủ công The Halva Lab được thành lập tại Sassuolo, Ý. Sản xuất halva lấy cảm hứng từ truyền thống Địa Trung Hải và Tây Á nhưng không cho thêm đường[35][36].
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b c Foundation, Encyclopædia Iranica. "Welcome to Encyclopaedia Iranica". iranicaonline.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2021. [Nguồn gốc của ḥalwā ở Ba Tư có từ thời kỳ tiền Hồi giáo. Có những tài liệu tham khảo trong văn bản tiếng Ba Tư Trung cổ của Xōsrōv ud rēdak (ed. Monchi-zadeh, secs. 38-40) về hai loại bánh kẹo (rōγn xwardīg): (1) bánh kẹo mùa hè, chẳng hạn như lōzēnag (làm từ hạnh nhân), gōzēnag (làm từ quả óc chó) và čarb-angušt (làm từ mỡ chim ô tác hoặc linh dương và chiên trong dầu óc chó); và (2) bánh kẹo mùa đông, chẳng hạn như wafrēnagītabarzad có hương vị rau mùi (gišnīz ačārag). Có nhiều tài liệu tham khảo về ḥalwā trong các văn bản tiếng Ba Tư cổ điển, nhưng hiếm khi chúng cung cấp chi tiết về các thành phần.]
- ^ a b Marks, Gil (ngày 17 tháng 11 năm 2010). Encyclopedia of Jewish Food (bằng tiếng Anh). HMH. ISBN 978-0-544-18631-6. [Halva là một loại bánh kẹo đặc. Loại truyền thống được làm từ ngũ cốc, thường là bột semolina, và một loại khác được làm từ các loại hạt, đặc biệt là hạt mè. Xuất xứ: Ba Tư]
- ^ Clark, Melissa (ngày 24 tháng 3 năm 2004). "For Halvah, Use 1/2 Cup Nostalgia". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2020.
- ^ a b c d Davidson, Alan (1999). The Oxford Companion to Food. Oxford: Oxford University press. tr. 378. ISBN 0-19-211579-0.
- ^ Sharar, Abdul Halim (1994). Lucknow: the last phase of an oriental culture. Oxford University Press. tr. 165. ISBN 9780195633757.
- ^ Hosking, R. (2010). Food and Language: Proceedings of the Oxford Symposium on Food and Cooking 2009. Proceedings of the Oxford Symposium on Food and Cookery Series. Prospect Books. tr. 202. ISBN 978-1-903018-79-8. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2022.
- ^ Szokovski, Miriam. "How to Make Halva at Home". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2024.
- ^ a b c Marks, Gil (2010). "Halva". Encyclopedia of Jewish Food. HMH. ISBN 9780544186316.
- ^ Halvah Lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine, Random House Dictionary, 2009
- ^ Rebello, Tania (ngày 10 tháng 12 năm 2025). "Bahraini Halwa: A Sweet Symbol of Heritage, Harmony, and Home". DT News (The Daily Tribune) (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2026.
- ^ "American Heritage Dictionary". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019.
- ^ Koukoules, Phaidon I. (1952). Βυζαντινών βίος και πολιτισμός (bằng tiếng Hy Lạp). Quyển 5. Papazisis Publishers. tr. 114–115. ISBN 9789600201413.
- ^ Ash, John (1995). A Byzantine Journey (bằng tiếng Anh). Random House. tr. 223. ISBN 978-0-679-40934-2.
- ^ Berggren, Jakob (1844). Guide français-arabe vulgaire des voyageurs dt des francs en Syrie et en Égypte: avec carte physique et géographique de la Ssyrie et plan géométrique de Jérusalem ancien et moderne, comme supplément aux voyages en orient [Cẩm nang song ngữ Pháp-Ả Rập dành cho du khách và người Pháp tại Syria và Ai Cập: kèm theo bản đồ địa lý Syria và sơ đồ hình học Jerusalem cổ đại và hiện đại, bổ sung cho các chuyến du lịch phương Đông.] (bằng tiếng Ả Rập và Pháp). Leffler et Sebell. tr. 267–268. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2026.
- ^ الأديب: مجلة تبحث في الآداب والعلوم والسياسة والاجتماع [Al-Adib: Một tạp chí chuyên nghiên cứu về văn học, khoa học, chính trị và xã hội.] (bằng tiếng Ả Rập). 1959. tr. 14. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
- ^ Kobren, Gerri (ngày 17 tháng 8 năm 1983). "What's this stuff called halvah?". The Herald News (Passaic, New Jersey). Independent Press Service. tr. C-4. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2022 – qua Newspapers.com.
- ^ "Suji ka Halwa | Sheera Recipe". ngày 3 tháng 7 năm 2021.
- ^ Shah, Khushbu (ngày 8 tháng 6 năm 2017). "Halwa vs. Halvah: An Investigation". Taste. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
- ^ Arndt, Alice (1999). Seasoning Savvy: How to Cook with Herbs, Spices, and Other Flavorings. Taylor & Francis. tr. 215. ISBN 978-1-56022-031-2.
- ^ "Halva Ethnological Museum of Thrace". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2007.
- ^ "HALWA+WITH+PISTACHIO" "Halwa with pistachio". FAO Food and Nutrition Paper. 25–28. Food and Agriculture Organization of the United Nations. 1982.
- ^ Nistor, E.; Hoha, G.; Usturoi, M.; Alley, M. S. (2014). "Comparison of three sunflower halva assortments from Romanian market" (PDF). Analele Universității din Oradea, Fascicula: Ecotoxicologie, Zootehnie și Tehnologii de Industrie Alimentară. 14 (B): 329–336. S2CID 54789320.
- ^ "Халва. Общие технические условия", Гост 6502-2014, Межгосударственный совет по стандартизации, метрологии и сертификации, 2014 ["Halva. General specifications", Interstate Standard GOST 6502-2014 (bằng tiếng Nga), Euro-Asian Council for Standardization, Metrology and Certification, 2014]
- ^ "Халва". ГОССТАНДАРТ. "Halva" (bằng tiếng Nga). GOSSTANDART. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2019.
- ^ Armenian Proverbs: A Paremiological Study with an Anthology of 2,500 Armenian Folk Sayings. Caravan Books. 1994. ISBN 978-0-88206-084-2.
- ^ "Visions of Azerbaijan Magazine ::: SHEKI'S MYSTERIES – STAINED GLASS AND THE SWEETEST HALVA". Visions of Azerbaijan Magazine.
- ^ "Mətbəx sirləri: Şəki halvası - VİDEO". Milli.Az. ngày 20 tháng 3 năm 2013.
- ^ Fair, Chris (ngày 3 tháng 8 năm 2008). Cuisines of the Axis of Evil and Other Irritating States (bằng tiếng Anh). Rowman & Littlefield. ISBN 978-1-59921-634-8. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2020.
- ^ "Recipe". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2008.
- ^ Floor, Willem M. (2003). Traditional Crafts in Qajar Iran (1800-1925). Mazda Publishers. ISBN 9781568591476.
- ^ Ying, Chris; Redzepi, René (2018). You and I Eat the Same: On the Countless Ways Food and Cooking Connect Us to One Another (MAD Dispatches). Quyển 1. Artisan Books. ISBN 9781579658564.
- ^ "Is the world ready for this Palestinian dish?". BBC. ngày 28 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026.
- ^ "A taste of Nablus". Roads & Kingdoms. ngày 24 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026.
- ^ ""الحلاوة الطحينية".. علامة خليلية من زمن الناصر صلاح الدين" [Halva: A Hebron Signature from the Time of Nasir Saladin]. Palestine Online (bằng tiếng Ả Rập). 2021. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026.
- ^ "Che cos'è l'halva, il dolce antico che in Italia viene prodotto solo da un laboratorio artigianale". Gambero Rosso (bằng tiếng Ý). ngày 5 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Halva Lab, la dolce impresa di Rossana e Marco". Il Resto del Carlino (bằng tiếng Ý). ngày 16 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2025.
- Trang có lỗi kịch bản
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Nguồn CS1 tiếng Hy Lạp (el)
- Nguồn CS1 tiếng Ả Rập (ar)
- Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
- CS1: giá trị quyển dài
- Nguồn CS1 tiếng Nga (ru)
- Nguồn CS1 tiếng Ý (it)
- Bài có mô tả ngắn
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bài viết có văn bản tiếng Ba Tư
- Bài viết có văn bản tiếng Ả Rập
- Bài viết có văn bản tiếng Thổ Nhĩ Kỳ
- Kem đá
- Ẩm thực Iran