Kem trà xanh
Một viên kem matcha tại một nhà hàng Nhật | |
| Tên khác | Kem matcha |
|---|---|
| Loại | Kem lạnh |
| Bữa | Tráng miệng |
| Xuất xứ | Nhật Bản |
| Nhiệt độ dùng | lạnh |
| Thành phần chính | Kem lạnh, matcha |
| |
Kem trà xanh (抹茶アイスクリーム matcha aisu kurīmu), hay còn gọi là kem matcha (抹茶アイス matcha aisu) là kem có vị trà xanh Nhật Bản. Hương vị này cực kỳ phổ biến ở Nhật Bản và các nước ở khu vực Đông Á. Kem matcha được ghi nhận xuất hiện ở Việt Nam lần đầu vào năm 2010 bởi một blogger thử làm kem với bột matcha tại nhà[1], nhưng phải đến năm 2013 kem matcha mới phổ biến, bắt đầu ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Kem matcha còn được kết hợp với các loại đồ ngọt khác, ví dụ nhw monaka, mochi và đá bào.
Tổng quan

Matcha là bột trà được làm từ một loại lá trà gọi là trà nghiền (碾茶 tencha). Tencha là lá trà trồng trong bóng râm, đồng thời cũng là một trong những loại trà đắt đỏ nhất. Tencha được dùng trong các buổi trà đạo Nhật Bản.
Matcha ngọt hơn và ít đắng hơn nên thường được dùng trong các loại đồ ngọt. Tại Nhật, Luật Dán nhãn Thực phẩm nghiêm cấm bán bột trà làm từ các loại trà khác tencha[2][3], nên gọi kem matcha là "kem trà xanh" có thể gây nhầm lẫn.
Lịch sử

Có tin đồn rằng daimyō Toyotomi Hideyoshi (1537–1598) đã ăn đá bào phủ matcha và đường kê. Thời kỳ Edo (1603–1867) cũng có một loại đá bào có tên là Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). bao gồm matcha và anko[4].
Kem matcha từng được gọi là kem hikicha (挽茶入氷菓子 hikicha nyū kōrigashi), dùng trong các bữa ăn trưa và tiệc chiêu đãi ở cung đình Nhật Bản thời kỳ Minh Trị. Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). là trạng thái vụn trà khô trước khi nghiền[5]. Kem vụn trà cũng có trong thực đơn chiêu đãi Vương tử Vittorio Emanuel, Bá tước Turin, một thành viên vương thất Ý, trong chuyến thăm Nhật Bản năm 1898[6]. Năm 1907, có một cuốn sách nấu ăn ghi công thức làm kem tencha.
Năm 1926, báo cáo của ngành công nghiệp trà Nhật Bản nhắc đến đề xuất của một người Mĩ gốc Nhật sống ở Texas về việc quảng cáo matcha bằng món "kem matcha" trên các tờ báo ở Mĩ[7].
Khi nhà văn người Mĩ Charles Lindbergh bay đến Kasumigaura, Ibaraki vào năm 1931, ông được Hiệp hội trà Nhật Bản tặng kem matcha và rất hài lòng. Ông là người Mĩ đầu tiên được ghi nhận đã ăn kem matcha[8].
Năm 1958, một công ty sản xuất trà ở tỉnh Wakayama đã phát triển và bán một sản phẩm kem có matcha tên là "Green Soft"[9]. Năm 1698, kem matcha trở thành một trong những món cơ bản trong các quán cà phê ở Nhật[10].
Năm 1983, một số cửa hàng bánh kẹo ở tỉnh Kyōto bắt đầu bán kem matcha[11]. Năm 1983, Meiji Dairies bán kem matcha dưới thương hiệu Lady Borden (tên thương hiệu Nhật Bản của Công ty Borden Hoa Kỳ)[12].
Sau Đạo luật Tự do hóa Nhập khẩu kem năm 1990, lượng kem nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản tăng lên[13]. Năm 1995, Maeda-en USA ở California bắt đầu bán kem trà xanh tại Nhật Bản. Sản phẩm tương tự nhanh chóng được nhập khẩu và phân phối đến các cửa hàng tiện lợi và siêu thị ở Nhật, và được giới thiệu trên một số tờ báo Nhật.
Häagen-Dazs Nhật Bản bắt đầu sản xuất kem trà xanh vào năm 1996[14]; sản phẩm này ngay lập tức trở nên nổi tiếng, bán được gấp đôi so với hương vị vani được yêu thích trước đó[14]. Sản phẩm hiện được bán tại các chợ Nhật Bản, trở thành một trong những hương vị phổ biến nhất của công ty[15].
Thống kê từ Hiệp hội Kem Nhật Bản cho thấy kem trà xanh được xếp hạng thứ ba trong nghiên cứu "Hương vị kem được yêu thích nhất"[16].
Kết hợp với các món khác
Kem matcha thường được ăn kèm với các món khác, ví dụ như đậu đỏ, dango, monaka, đá bào, taiyaki, vân vân.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a b Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ 日本アイスクリーム白書2016 Lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2017 tại Wayback Machine (日本アイスクリーム協会)