Mana
Mana | |
|---|---|
| Mana biểu diễn cùng Moi dix Mois năm 2011 Mana biểu diễn cùng Moi dix Mois năm 2011 | |
| Thông tin nghệ sĩ | |
| Tên khác |
|
| Sinh | 19 tháng 3, 1969 Hiroshima, Nhật Bản |
| Nghề nghiệp | Nhạc sĩ, ca sĩ hát bè, nhà sản xuất nhạc, nhà thiết kế thời trang, người mẫu |
| Thể loại | Art rock, alternative rock, progressive rock, hard rock, pop rock, electronic rock, synthpop |
| Nhạc cụ | Guitar, synth, trống |
| Năm hoạt động | Cuối những năm 80–Nay |
| Hãng đĩa | Nippon Columbia, Midi:Nette |
| Website | manamonologue |
Mana (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) là một nghệ sĩ guitar người Nhật Bản, đồng sáng lập ban nhạc visual kei huyền thoại Malice Mizer và dự án cá nhân Moi dix Mois. Anh được coi là một trong những biểu tượng quan trọng nhất cũng như là nguồn ảnh hưởng tới những nghệ sĩ trẻ nổi tiếng khác trong nền âm nhạc Nhật Bản.
Ngoài ra, Mana cũng sáng lập hãng thu âm độc lập Midi:Nette vào năm 1994. Ngoài việc ký hợp đồng với bộ đôi nhạc điện tử Schwarz Stein, công ty này còn phát hành phần lớn các sản phẩm âm nhạc của Malice Mizer và toàn bộ tác phẩm của Moi dix Mois, cũng như 2 album và 2 đĩa đơn của Wakeshima Kanon. Nhãn hiệu thời trang của anh, Moi-même-Moitié, được thành lập năm 1999 và được ghi nhận là đã góp phần phổ biến phong trào thời trang Gothic Lolita[1].
Tiểu sử
Mana sinh ra ở Hiroshima, không rõ tên thật là gì[a]. Tên "Mana" là nghệ danh và thi thoảng được viết bằng kanji 魔名, có nghĩa là "tên của ma"[2][3]; và người hâm mộ gọi anh là Mana-sama[2][3]. Phụ huynh của Mana đèu là giáo viên âm nhạc, và anh bắt đầu học chơi dương cầm từ khi còn bé, gần như không nghe gì ngoài nhạc cổ điển và đến giờ vẫn còn rất yêu thích thể loại nhạc này, đặc biệt là nhạc sĩ Johann Sebastian Bach[2].
Khi đến tuổi thiếu niên, anh khám phá thêm được nhiều thể loại nhạc khác như punk, hard rock và heavy metal. Buổi hoà nhạc đầu tiên anh đi xem là của Mötley Crüe, đồng thời cũng là buổi hoà nhạc đã thay đổi góc nhìn của anh khi anh thấy thành viên ban nhạc và cả khán giả đều có thời trang rất độc đáo và nhiều chi tiết; điều đó khiến anh cảm thấy ngại vì vẻ ngoài nhàm chán của mình và quyết định sẽ "sống một cuộc đời truỵ lạc"[3]. Mana đã thử trang điểm bằng đồ trang điểm của mẹ và biến căn phòng của mình thành một phòng hòa nhạc tạm thời. Mana che các bức tường bằng tấm bạt đen, sơn những bộ xương lên đó và treo đèn chiếu sáng từ trần nhà. Phụ huynh Mana không có chung niềm đam mê với nhạc rock và rất kinh hoàng trước tình trạng căn phòng của anh, nhưng anh vẫn thuyết phục được họ mua cho anh một cây đàn guitar và một bộ trống giống Tommy Lee. Thật không may, cây đàn họ mua cho anh ấy là một cây đàn acoustic cho nên anh chưa bao giờ dùng. Cuối cùng Mana đã tự mua một cây đàn guitar điện và chơi trống suốt ngày trong căn phòng đen của mình[3].
Mana chia sẻ rằng ban nhạc đầu tiên anh tham gia là một ban cover nhạc của Mötley Crüe, trong đó anh đảm nhiệm phần hát[2], nhưng cũng vì thế mà anh đã quyết định không theo nghiệp ca hát nữa mà bắt đầu chơi guitar và trống vì anh hâm mộ tay trống Tommy Lee của Mötley Crüe.
Trong khoảng thời gian học trung học, Mana biết đến Sex Pistols và nhận ra rằng nhu cầu thể hiện bản thân lớn hơn sự nhút nhát, anh đã thành lập một ban nhạc punk dựa trên ban nhạc nổi tiếng của Nhật Bản, THE STAR CLUB, mang tên Ves.tearge. Trong giai đoạn này, Mana có ác cảm với mọi thứ "nữ tính" và tự mô tả mình là một người "nam tính" với thái độ phá phách[2][3]. Họ thuê các toà nhà cộng đồng để chơi nhạc trực tiếp. Năm 2007, Mana đã thuyết phục được các thành viên ban nhạc thời trung học, lúc này đã là các doanh nhân thành đạt, để tái hợp dưới cái tên Mana's Not Dead và biểu diễn công khai tại bữa tiệc Dis Inferno hàng năm của anh ấy tại Shibuya O-East[3].
Mana không chỉ sáng tác nhạc khi còn học cấp hai mà thiết kế thời trang. Để thể hiện tinh thần punk, Mana đã để tóc dài quá vai và nhuộm màu đỏ tươi hoặc hồng, tạo kiểu Mohawk khổng lồ và đi bốt mũi thép màu đen và áo khoác biker được trang trí bằng đinh tán và bút đánh dấu[3]. Tất nhiên, vì lúc đó anh cũng là thành viên của đội bóng ném nên anh và các đồng đội đến thi đấu với mái tóc nhọn, tự hào rằng mình không giống những cầu thủ khác. Một lần nữa, phụ huynh anh lại không vui mừng vì họ là giáo viên nên họ không muốn con mình thu hút sự chú ý tiêu cực ở trường, nên họ đã yêu cầu con mình dịu dàng hơn. Tuy nhiên, Mana không nản lòng và tiếp tục khám phá niềm đam mê mới của mình đối với thời trang. Anh đã tùy chỉnh đồng phục học sinh của mình bằng cách lót áo khoác bằng vải paisley và thêm túi, thu thập danh mục từ các cửa hàng bán đồng phục và thiết kế đồng phục học sinh tưởng tượng của riêng mình, kèm theo hướng dẫn may mặc. Niềm yêu thích vẽ và thiết kế quần áo cuối cùng đã khiến anh thành lập nhãn hiệu thời trang của riêng mình, Moi-même-Moitié[3].
Sự nghiệp
Sau khi tốt nghiệp trung học, Mana không biết phải làm gì với cuộc đời; chỉ biết rằng mình không muốn làm nhân viên văn phòng; nên anh đã chuyển đến Osaka để học nhạc, đồng thời thành lập ban nhạc tên GIRL'E và dùng nghệ danh Serina[3]. Nhưng thái độ không tuân thủ và mong muốn thể hiện bản thân của Mana đang tạo ra nhiều vấn đề. Anh ít quan tâm đến việc học lý thuyết âm nhạc hơn là tìm cách tạo ra âm thanh phản ánh tính cách của mình và cảm thấy không thoải mái với những ý tưởng cứng nhắc của trường học về âm nhạc[3]. Cuối cùng anh bỏ học và chuyển đến Tokyo để trở thành một nhạc sĩ chuyên nghiệp.
Năm 1991, trong khi làm việc trong quán karaoke, Mana gặp Közi và được bạn giới thiệu đến cộng đồng visual kei, đồng thời tham gia ban mới tên Matenrou - đã có sẵn Közi và Kenichi (sau này là thành viên của Kneuklid Romance) chơi guitar - với vai trò người chơi bass và sáng tác bài hát tên Meikyuu no Tobira[2][4]. Mana lúc này không còn dùng nghệ danh Serina nữa mà đổi hẳn sang nghệ danh Mana.
Vào tháng 4 năm 1992, Matenrou tan rã. Mana và Közi quyết định lập một ban nhạc mới tên Malice Mizer[2]. Mana lúc này đóng vai trò là nghệ sĩ guitar chính, nhạc sĩ chính, biên đạo và giám đốc nghệ thuật tổng thể của ban nhạc[3]. Năm 1994, Mana đã sáng lập hãng đĩa độc lập Midi:Nette (tiếng Pháp có nghĩa là "cô gái mắt lấp lánh ánh sao") để sản xuất album đầu tay của ban nhạc là Memoire[2][5]. Ngoài quản lý hoạt động của Malice Mizer[6] và Moi dix Mois, Midi:Nette cũng sản xuất nhạc cho bộ đôi visual kei Schwarz Stein. Mặc dù rất thành công, bộ đôi này lại tan rã vào năm 2004[7].
Sau khi Malice Mizer ngừng hoạt động vô thời hạn vào năm 2001[2], Mana thành lập Moi dix Mois vào năm 2002 với tư cách là dự án solo[2]. Mana sáng tác toàn bộ nhạc, viết lời, sản xuất, chỉ đạo và thiết kế trang phục sân khấu cho các thành viên.
Năm 1999, Mana thành lập nhãn hiệu quần áo của riêng mình, Moi-même-Moitié[8] với hai dòng thiết kế mang tên "Elegant Gothic Gothic" và "Elegant Gothic Aristocrat". Anh ấy thường xuyên xuất hiện trên ấn phẩm hàng đầu của giới thời trang, Gothic & Lolita Bible, làm người mẫu cho các thiết kế của riêng mình và đưa ra thông tin cập nhật về nhiều dự án khác[1][9]. Anh được quốc tế công nhận vì những nỗ lực thời trang của mình; vào năm 2007, tác giả người Anh Philomena Keet đã đưa ông vào danh sách một trong bảy nhà thiết kế trong cuốn Tokyo Look Book của mình[9]. Một số cuốn sách khác về thời trang và văn hóa Nhật Bản có đề cập đến ông, như Rối loạn thiếu phong cách[10]. Quần áo và trang phục Moi-même-Moitié cũng được bán ở các cửa hàng ở Paris và Hà Lan[9]. Kể từ tháng 10 năm 2019, bộ sưu tập của hãng đã được bán độc quyền trực tuyến[11].
Năm 2004, Mana bắt đầu mở rộng ra thị trường quốc tế bằng cách mở câu lạc bộ người hâm mộ cho các thành viên ở nước ngoài (một điều hiếm thấy đối với các nghệ sĩ Nhật Bản) và thiết lập các kênh phân phối quốc tế cho âm nhạc và thời trang của mình. Anh biểu diễn buổi hòa nhạc đầu tiên của mình với Moi dix Mois ở nước ngoài vào tháng 3 năm 2005 tại München, Đức và Paris, Pháp[12], trong thời gian đó anh cũng đã được phỏng vấn và xuất hiện trên trang bìa của các tạp chí âm nhạc châu Âu, chẳng hạn như tạp chí goth Orkus của Đức.
Năm 2012, Moi dix Mois công bố chuyến lưu diễn Châu Mĩ Latin đầu tiên của họ mang tên Tetsugaku no Kakera - Chapter Six ~ Latin América Tour[13]. Ban nhạc dự định đến thăm Brasil, Chilê, Argentina và Mêhicô, nhưng chuyến lưu diễn đã bị hủy bỏ[14]. Năm 2013, Mana xuất hiện trong video âm nhạc cho đĩa đơn "Louis ~Enketsu no La Vie en Rose~" của Kamijo[15].
Cùng năm, Mana rời Midi:Nette và sáng lập hãng thu âm Maglaia, hiện đang sản xuất và quản lý Moi dix Mois[16].
Thiết bị âm nhạc
Từ năm 2002, Mana sử dụng guitar ESP và một số mẫu đặc trưng thuộc dòng Jeune Fille[2]. Một số loại chỉ có pickup guitar bridge (thường là EMG 81) vì chúng có đèn LED chữ thập ở vị trí phía trước[17]. Anh chỉ từng sử dụng bộ thu âm humbucker trong cây đàn guitar của mình[17]. Khi hoạt động với Malice Mizer, anh sử dụng bộ khuếch đại Roland Jazz Chorus, nhưng hiện tại anh ấy sử dụng VHT[17].
Hình ảnh trước công chúng
Kể từ thời Malice Mizer, Mana hiếm khi nói chuyện trước công chúng. Mặc dù ban đầu đây không phải là một quyết định có chủ ý, nhưng anh ấy đã nắm bắt được ý tưởng này khi định hướng của ban nhạc trở nên rõ ràng hơn[18]. Anh ấy nói chuyện bình thường trong các cuộc phỏng vấn in giấy, nhưng trong các cuộc phỏng vấn ghi hình, anh thì thầm vào tai một thành viên trong ban nhạc để người này lặp lại lời nói của mình cho người phỏng vấn[19]. Mana cũng được biết đến là người chỉ cần nhìn vào máy ảnh khi phụ đề xuất hiện, cũng như sử dụng thẻ Có/Không và thể hiện bản thân bằng kịch câm hoặc thông qua các nhạc cụ[3].
Tuy nhiên Mana cũng đã nói chuyện một vài lần. Trong buổi phỏng vấn năm 1996 trên chương trình truyền hình Hot Wave, anh nhẹ nhàng giới thiệu tên và nhiệm vụ trong ban nhạc; và thì thầm vào tai Gackt trong suốt phần còn lại của buổi phỏng vấn[20].
Mana thường mặc đồ nữ, và chia sẻ rằng bản thân muốn trở thành onnagata tối thượng[18] . Việc anh ít nói, kết hợp với phong cách ăn mặc nữ tính, khiến mọi người tin rằng anh thực sự là nữ[18]. Trang web âm nhạc Nhật Bản Barks tuyên bố rằng sau Mana và Malice Mizer, số lượng ban nhạc visual kei có thành viên onnagata đã tăng lên[18].
Ban nhạc đã tham gia
- Ves.tearge – chơi guitar với nghệ danh Serina (1986–1987)
- GIRL'E– chơi guitar, synthesizer với nghệ danh Serina (1988–1990)
- Matenrou (摩天楼) – bass (1990–1992)
- Malice Mizer – chơi guitar, bàn phím(1992–2001)
- Moi dix Mois – chơi guitar (2002–nay)
Góp mặt
- Art Marju Duchain – guitar (1994 Visual Art Collection Vol.1 ~喜劇的晚餐~ – 1996.11.08 "Visual Art Collection" ~喜劇的晚餐~, Shibuya O-West)
- Mana's Not Dead – trống (Dis Inferno Vol. V at Shibuya O-East on 2007.12.26, Visual-Kei DVD Magazine Vol. 2)
- JVM Roses Blood Symphony – guitar (2023)
Chú thích
- ^ Có tin đồn tên của anh là Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Tham khảo
- ^ a b "MOI-MÊME-MOITIÉ: HISTORY OF MANA'S GOTHIC LOLITA BRAND". jrocknews. ngày 13 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ^ a b c d e f g h i j k "MANA: HISTORY OF THE PIONEERING GOTHIC LOLITA GUITARIST". jrocknews. ngày 14 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ^ a b c d e f g h i j k l "Biography Special: Mana (Part 1 – Self-Discovery)". Jame World. ngày 10 tháng 11 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2012.
- ^ "ヴィジュアル系かく語りきvol.01 Mana様 × 千聖様". DMM.com (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "History of MALICE MIZER official" (bằng tiếng Nhật). malice-mizer-co-jp. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2021.
- ^ "Malice Mizer Discography (Midi:Nette)" (bằng tiếng Nhật). malice-mizer-co-jp. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Schwarz Stein". jpopasia.com. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Mana (MALICE MIZER / Moi dix Mois)、オンラインサロン開設". Barks (bằng tiếng Japanese). ngày 18 tháng 3 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2021.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ a b c "Biography Special: Mana (Part 2 - Beauty and Darkness)". Jame World. ngày 17 tháng 11 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ^ Tiffany Godoy (2007). Style Deficit Disorder: Harajuku Street Fashion - Tokyo. Chronicle Book. ISBN 9780811857963. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2020.
- ^ "MOI-MÊME-MOITIÉ 2018 PRODUCT SHOWCASE". jrocknews. ngày 17 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Japan's MOI DIX MOIS Schedule U.S. Tour Dates". blabbermouth.net. ngày 31 tháng 5 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Moi dix Mois to Tour South America | JaME U.S.A". Jame-world.com. ngày 26 tháng 7 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015.
- ^ "Moi dix Mois cancela su gira por Latinoamérica" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Jame World. ngày 22 tháng 11 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Versailles and MALICE MIZER's Leaders' Miraculous Joint Appearance". barks.jp. Bản gốc lưu trữ tháng 12 3, 2013. Truy cập tháng 5 13, 2024.
- ^ Profile Moi dix Mois (モワ ディス モワ) (bằng tiếng Anh), Crimson Lotus, ngày 21 tháng 3 năm 2025, truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2026
- ^ a b c "Mana様 × 桜井青". DMM.com (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
- ^ a b c d "【インタビュー】Mana × Közi、MALICE MIZERを語る「Kamiの約束が実現できる」". Barks (bằng tiếng Japanese). ngày 29 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2021.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ "MANA-SAMA SPEAKS, SORT OF: AN INTERVIEW WITH THE ECCENTRIC VISUAL KEI STAR". LA Weekly. ngày 2 tháng 7 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Malice Mizer on HOTWAVE 1996 (Mana talks!)". YouTube. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
Đường dẫn ngoài
- Website chính thức
- Website chính thức cũ
- Website chính thức của Midi:Nette
- Website chính thức của Moi-même-Moitié (bằng tiếng Nhật)
- Website quốc tế chính thức của Moi-même-Moitié Lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2012 tại Wayback Machine
- Signature ESP guitars
- Trang có lỗi kịch bản
- Nguồn CS1 tiếng Nhật (ja)
- Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ
- Nguồn CS1 tiếng Tây Ban Nha (es)
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Bài có mô tả ngắn
- Bài có mô tả ngắn dài
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Nhật (ja)
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Thành viên của Malice Mizer
- Nghệ sĩ visual kei