Nogometni klub Maribor (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Slovenia có trụ sở tại Maribor, Slovenia. Câu lạc bộ thi đấu tại Slovenian PrvaLiga, hạng đấu cao nhất của hệ thống giải bóng đá Slovenia. Có biệt danh là "Những người áo tím" (Vijoličasti), câu lạc bộ được thành lập vào ngày 12 tháng 12 năm 1960. Họ được xem là biểu tượng của bóng đá Slovenia, đặc biệt tại vùng quê nhà Styria ở đông bắc Slovenia.

Maribor
Tập tin:NK Maribor.svg
Tên đầy đủNogometni klub Maribor Branik[1]
Biệt danhVijoličasti (Những người áo tím)
Vijolice (Những bông violet)
Štajerski ponos (Niềm tự hào của Styria)
Thành lập12 tháng 12 năm 1960; 65 năm trước (1960-12-12)
SânLjudski vrt
Sức chứa11,709
Chủ tịchUroš Mlakar
Huấn luyện viên trưởngMitja Pirih (tạm quyền)
Giải đấuSlovenian PrvaLiga
2025–26Slovenian PrvaLiga, thứ 5 trên 10
Websitewww.nkmaribor.com

Maribor đã giành kỷ lục 16 chức vô địch Slovenian PrvaLiga, 9 Cúp bóng đá Slovenia và 4 Siêu cúp bóng đá Slovenia. Câu lạc bộ giành bảy chức vô địch quốc gia liên tiếp từ năm 1997 đến năm 2003, và năm chức vô địch liên tiếp từ năm 2011 đến năm 2015. Trước khi Slovenia độc lập vào năm 1991, Maribor thi đấu trong hệ thống giải bóng đá Nam Tư. Họ vô địch Giải hạng nhì Nam Tư vào năm 1967 và nhờ đó được thăng hạng lên Giải hạng nhất Nam Tư, nơi họ thi đấu đến năm 1972. Họ là một trong ba đội bóng Slovenia từng tham dự hạng đấu cao nhất của Nam Tư trong giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai năm 1945 đến khi Nam Tư tan rã năm 1991.

Maribor là câu lạc bộ Slovenia duy nhất từng lọt vào vòng bảng UEFA Champions LeagueUEFA Europa League. Ngoài ra, câu lạc bộ là một trong hai thành viên sáng lập của Slovenian PrvaLiga (cùng với Celje) chưa từng xuống hạng kể từ mùa giải khai mạc 1991–92.

Câu lạc bộ có kình địch lâu năm là Olimpija đến từ thủ đô Ljubljana, đối thủ mà họ đối đầu trong derby vĩnh cửu. Các kình địch khác bao gồm Celje, trong trận được gọi là derby Styria, và derby Prekmurje–Styria giữa Maribor và Mura. Sân nhà của Maribor là sân vận động Ljudski vrt, có sức chứa 11,709 chỗ ngồi. Màu truyền thống của câu lạc bộ là tím, vàng và trắng.

Lịch sử

Thành lập và những năm đầu (1960–1967)

Nogometni klub Maribor được thành lập vào ngày 12 tháng 12 năm 1960 bởi các quan chức và cầu thủ của NK Branik Maribor, một câu lạc bộ giải thể vài tháng trước đó.[2][3] Srečko Koren được bổ nhiệm làm chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ, còn Andrija Pflander là huấn luyện viên trưởng đầu tiên.[2] Câu lạc bộ chơi trận giao hữu đầu tiên vào ngày 5 tháng 2 năm 1961 gặp Kovinar, giành chiến thắng 2–1 với hai bàn thắng của Stefan Tolič.[4][5] Trong mùa giải đầu tiên, Maribor vô địch Slovenian Republic League (hạng ba của Nam Tư) và giành quyền tham dự Giải hạng nhì Nam Tư 1961–62 thông qua vòng play-off.[5] Năm 1961, câu lạc bộ cũng chuyển đến sân vận động Ljudski vrt mới xây. Sau sáu mùa giải ở hạng nhì, Maribor vô địch giải đấu và được thăng hạng lên Giải hạng nhất Nam Tư ở mùa giải 1966–67.[6]

Một ảnh đen trắng cho thấy một cầu thủ bóng đá sút bóng về phía khung thành, trong khi thủ môn đối phương cố gắng cản phá.
Maribor thi đấu trong trận play-off thăng hạng gặp Uljanik năm 1961.

Hạng đấu cao nhất Nam Tư (1967–1972)

Maribor chơi trận đầu tiên tại hạng đấu cao nhất Nam Tư gặp VardarSkopje; Maras ghi bàn thắng duy nhất cho Maribor trong trận hòa 1–1.[7] Chiến thắng đầu tiên của họ đến vào tháng 8 năm 1967, khi Maribor đánh bại Proleter Zrenjanin 3–0 trên sân nhà.[7] Trong mùa giải, trận đấu đầu tiên ở hạng đấu cao nhất Nam Tư giữa hai câu lạc bộ Slovenia đã diễn ra, khi Maribor tiếp đón kình địch Olimpija đến từ Ljubljana trong trận hòa không bàn thắng trước 13,000 khán giả.[7][8] Mỗi trận đấu giữa hai đội trong giai đoạn này đều thu hút lượng khán giả lớn, đôi khi lên tới 20,000 người.[9] Maribor kết thúc mùa giải đầu tiên ở hạng đấu cao nhất với vị trí thứ 12 trong số 16 đội.[10]

Một ảnh đen trắng cho thấy một vài cầu thủ bóng đá tranh bóng trên không.
Maribor thi đấu với Partizan năm 1969.

Trong mùa giải 1969–70, Maribor xếp thứ 10 trong số 18 câu lạc bộ, thứ hạng cao nhất của họ trong bóng đá Nam Tư.[11] Mùa giải cuối cùng của họ ở hạng đấu cao nhất là 1971–72, khi đội xếp cuối bảng với chỉ 20 điểm sau 34 trận.[12] Mladen Kranjc là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của Maribor trong cả năm mùa giải ở hạng đấu cao nhất Nam Tư, ghi tổng cộng 54 bàn tại giải vô địch, thành tích cuối cùng giúp ông chuyển đến một trong những câu lạc bộ hàng đầu Nam Tư, Dinamo Zagreb.[13] Trong năm năm thi đấu ở hạng đấu cao nhất Nam Tư, câu lạc bộ chơi tổng cộng 166 trận tại giải vô địch và đạt 40 trận thắng, 57 trận hòa và 69 trận thua.[7]

Những năm đen tối và bê bối hối lộ (1972–1991)

Ở mùa giải 1972–73, Maribor thi đấu ở hạng nhì. Họ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai, chỉ sau Zagreb,[14] đồng nghĩa với việc họ đủ điều kiện tham dự vòng play-off thăng hạng Giải hạng nhất Nam Tư.[15] Ở vòng loại đầu tiên gặp đội bóng Montenegro Budućnost, Maribor thắng bằng loạt sút luân lưu và giành quyền vào vòng quyết định gặp Proleter.[15] Trận lượt đi diễn ra trên sân nhà vào ngày 8 tháng 7 năm 1973, và được xem là một trong những trận đấu đáng nhớ nhất trong lịch sử Maribor, vì đến nay nó vẫn giữ kỷ lục khán giả sân nhà của câu lạc bộ.[15] Có 20,000 khán giả, trong đó 15,000 người đã có mặt trên khán đài gần ba giờ trước khi trận đấu bắt đầu, cuối cùng giúp Maribor thắng 3–1.[16] Tuy nhiên, lợi thế hai bàn là không đủ khi Proleter thắng trận lượt về 3–0 và giành quyền thăng hạng.[15] Khi tỉ số đang là 1–0 cho Proleter, Josip Ražić gỡ hòa ở phút 23, nhưng bàn thắng không được trọng tài công nhận. Sau đó, hình ảnh phát lại trên truyền hình cho thấy bóng thực tế đã đi qua vạch vôi và bàn thắng đáng lẽ phải được công nhận.[15]

Giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1991 là một trong những thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử câu lạc bộ. Ở mùa giải 1973–74 tiếp theo, câu lạc bộ không thể bám trụ gần nhóm đầu hạng nhì và kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 13.[17] Ở mùa giải 1974–75, Maribor lần đầu tiên sau 14 năm xuống hạng Slovenian Republic League hạng ba, nhưng câu lạc bộ lập tức trở lại hạng nhì sau khi đứng đầu bảng Republic League với cách biệt 15 điểm ở cuối mùa giải 1975–76.[18] Câu lạc bộ suýt trở lại hạng đấu cao nhất vào 1978–79 khi giành ngôi á quân hạng nhì, kém đội bóng Bosnia Čelik Zenica sáu điểm,[19] nhưng không thể giành chiến thắng ở vòng play-off thăng hạng.

Cuối mùa giải 1980–81, sau khi Maribor tránh được việc xuống hạng khỏi hạng nhì Nam Tư, một bê bối hối lộ nổ ra và khiến câu lạc bộ bị xuống hạng theo quyết định của ủy ban kỷ luật Liên đoàn bóng đá Nam Tư.[20][21] Câu lạc bộ bị cáo buộc có một quỹ bí mật dùng để hối lộ quan chức và đối thủ. Quỹ này bị bãi bỏ vào năm 1968 sau khi câu lạc bộ thăng hạng lên hạng nhất, nhưng sau đó được lập lại vào năm 1976.[20] Sau bê bối và việc xuống hạng sau đó, Maribor trải qua những năm tiếp theo lên xuống giữa hạng nhì và hạng ba Nam Tư cho đến khi Slovenia độc lập vào năm 1991.

Thống trị quốc nội sau độc lập (1991–2004)

Sau khi Slovenia độc lập vào tháng 6 năm 1991, Maribor là một trong những thành viên sáng lập của Giải hạng nhất Slovenia mới thành lập cho mùa giải khai mạc 1991–92.[23] Trong những mùa giải đầu tiên, kình địch của Maribor là Olimpija đến từ Ljubljana thống trị giải đấu.[24] Tuy vậy, Maribor đã giành chức vô địch Cúp bóng đá Slovenia lần đầu tiên vào năm 1992 sau khi đánh bại Olimpija 4–3 trên chấm luân lưu trong trận chung kết.[25] Ở mùa giải tiếp theo, Maribor ra mắt tại các giải đấu UEFA quốc tế, tham dự UEFA Cup Winners' Cup. Họ chơi trận quốc tế đầu tiên vào ngày 19 tháng 8 năm 1992, khi tiếp đón Ħamrun Spartans của Malta và thắng 4–0.[26] Ante Šimundža ghi bàn thắng đầu tiên tại châu Âu cho câu lạc bộ.[23] Maribor là á quân giải vô địch Slovenia các mùa 1991–92, 1992–931994–95, trước khi xếp thứ tư ở mùa giải 1995–96. Trong giai đoạn này, Maribor giành thêm một danh hiệu cúp ở mùa giải 1993–94, đánh bại Mura với tổng tỉ số 3–2 sau hai lượt trận ở chung kết.[27]

Mùa giải 1996–97 chứng minh là bước ngoặt trong lịch sử câu lạc bộ, khi Maribor vô địch giải đấu và lần đầu tiên trở thành nhà vô địch.[23] Trong mùa giải đó, lượng khán giả sân nhà trung bình của họ là 5,289 người, con số vẫn là kỷ lục cho đến nay.[28] Trận cuối cùng của mùa giải được chơi vào ngày 1 tháng 6 năm 1997 gặp Beltinci trước 14,000 khán giả,[29] đây cũng là đồng kỷ lục của hạng đấu cao nhất Slovenia.[30] Trong mùa giải đó, Maribor cũng vô địch Cúp bóng đá Slovenia 1996–97, qua đó giành cú đúp quốc nội, thành tích mà họ lặp lại ở mùa giải 1998–99. Sau chức vô địch đầu tiên vào mùa 1996–97, Maribor tiếp tục giành thêm sáu chức vô địch nữa, nâng tổng số lên bảy chức vô địch liên tiếp vào năm 2003.[31] Ở mùa giải 1999–2000, câu lạc bộ dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên trưởng Bojan Prašnikar đánh bại GenkLyon ở các vòng loại UEFA Champions League 1999–2000 và nhờ đó lần đầu tiên giành quyền vào vòng bảng của giải đấu.[32] Maribor được xếp vào bảng cùng Dynamo Kyiv, Bayer LeverkusenLazio. Họ xếp cuối bảng với bốn điểm sau sáu trận.[33]

Khó khăn tài chính (2004–2008)

Cúp bóng đá Slovenia 2003–04 là danh hiệu cuối cùng mà Maribor giành được trước khi câu lạc bộ sa sút trong vài năm. Từ năm 2004 đến năm 2007, câu lạc bộ bị bao phủ bởi những khó khăn tài chính nghiêm trọng, và có thời điểm thậm chí suýt bị giải thể.[34] Do khoản nợ lớn, có thời điểm lên tới hơn 3 triệu euro, câu lạc bộ không đủ khả năng mua cầu thủ mới.[34] Kết quả là đội một khi đó chủ yếu gồm các cầu thủ trẻ xen kẽ với một vài cầu thủ nước ngoài được đưa về theo dạng chuyển nhượng tự do. Vào mùa thu năm 2006, ban lãnh đạo câu lạc bộ thay đổi, và phải đến tháng 1 năm 2011 câu lạc bộ mới thông báo rằng khoản nợ đã được thanh toán đầy đủ.[35] Trong giai đoạn này, Maribor chưa bao giờ xếp cao hơn thứ ba tại giải vô địch và hai lần là á quân Cúp Slovenia, vào 20072008.[27] Tuy nhiên, họ là một trong mười một đội vô địch UEFA Intertoto Cup 2006, giải đấu mà họ đánh bại đội bóng Tây Ban Nha Villarreal với tổng tỉ số 3–2 ở vòng cuối, chỉ vài tháng sau khi Villarreal thi đấu ở bán kết UEFA Champions League.[36]

Kỷ nguyên vàng của Zlatko Zahovič (2008–2020)

Nhiều người ăn mừng trên bục với một chiếc cúp trên tay.
Các cầu thủ Maribor ăn mừng chức vô địch quốc gia thứ chín của câu lạc bộ năm 2011.

Tháng 7 năm 2007, Maribor bổ nhiệm cựu tuyển thủ Slovenia Zlatko Zahovič làm giám đốc thể thao của câu lạc bộ, đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên vàng của câu lạc bộ.[37][38]

Tháng 5 năm 2008, Maribor chơi trận đầu tiên tại sân vận động được cải tạo trước hơn 12,000 khán giả.[39] Trong cùng tháng, Darko Milanič, người sau này trở thành huấn luyện viên thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng.[40] Dưới sự dẫn dắt của ông, Maribor vô địch giải đấu ở mùa giải 2008–09, danh hiệu đầu tiên của họ sau sáu năm.[41] Mùa giải tiếp theo, họ không thể bảo vệ danh hiệu, xếp thứ hai sau Koper.[42] Tuy nhiên, họ giành chức vô địch cúp sau khi đánh bại Domžale 3–2 trong trận chung kết, cũng như danh hiệu Siêu cúp bóng đá Slovenia đầu tiên sau khi đánh bại Interblock.[43]

Cuối năm 2010, câu lạc bộ kỷ niệm 50 năm thành lập,[44] và cũng giành chức vô địch quốc gia Slovenia thứ chín trong mùa giải đó.[45] Trong những năm tiếp theo, Maribor giành thêm bốn chức vô địch liên tiếp, nâng tổng số danh hiệu vô địch lên 13,[46] trước khi cuối cùng mất danh hiệu vào năm 2016 vào tay kình địch lớn nhất Olimpija Ljubljana.[47] Năm 2012, Maribor cũng đạt số điểm kỷ lục (85).[48] Hơn nữa, Maribor cũng giành hai cú đúp liên tiếp trong giai đoạn này, đánh bại Celje trong cả hai trận chung kết cúp Slovenia 20122013.[49][50]

Năm 2011, Maribor tạo bước đột phá tại các giải đấu quốc tế. Họ loại Rangers ở vòng play-off UEFA Europa League 2011–12 và giành quyền vào vòng bảng UEFA Europa League 2011–12, lần đầu tiên họ góp mặt ở vòng bảng một giải đấu châu Âu sau hơn một thập kỷ.[51] Họ giành một điểm sau sáu trận, cầm hòa Braga 1–1 trên sân nhà.[52] Mùa giải tiếp theo, họ một lần nữa vào vòng bảng và giành được bốn điểm sau khi đánh bại Panathinaikos và hòa Tottenham Hotspur, đều trên sân nhà.[53]

Một số cầu thủ bóng đá mặc áo trắng vỗ tay hướng về người hâm mộ.
Các cầu thủ Maribor sau trận hòa 1–1 với Spartak Moscow tại UEFA Champions League 2017–18.

Trong lần thứ ba liên tiếp góp mặt ở vòng bảng, vào 2013–14, Maribor lần đầu tiên tiến vào vòng đấu loại trực tiếp của UEFA Europa League 2013–14.[54] Ở vòng 32 đội, họ bị đội sau đó vô địch giải đấu là Sevilla loại với tổng tỉ số 4–3.[55] Hành trình thành công tại châu Âu của họ được nâng tầm ở mùa giải 2014–15, khi Maribor cuối cùng giành quyền vào vòng bảng UEFA Champions League lần thứ hai trong lịch sử, sau khi loại Celticvòng play-off.[56] Họ được xếp vào Bảng G cùng Chelsea, Schalke 04Sporting CP. Sau một trận hòa và một trận thua trước mỗi đội, Maribor giành ba điểm sau sáu trận.[57]

Ở mùa giải 2015–16, Maribor không thể giành chức vô địch quốc gia lần đầu tiên sau sáu năm,[47] nhưng giành lại ngôi vương ở mùa giải tiếp theo, vô địch quốc gia lần thứ 14.[58] Với tư cách nhà vô địch Slovenia, Maribor đại diện Slovenia tại UEFA Champions League 2017–18 và lần thứ ba trong lịch sử câu lạc bộ lọt vào vòng bảng.[59] Maribor thi đấu tại Bảng E, cùng Spartak Moscow, Sevilla và Liverpool. Câu lạc bộ lại giành ba điểm sau sáu trận, giống như năm 2014, sau khi hòa Sevilla trên sân nhà và hai lần hòa Spartak.[60] Trận thua 0–7 trước Liverpool là thất bại nặng nhất trên sân nhà của câu lạc bộ tại các giải đấu châu Âu, và là thất bại nặng thứ hai của họ tại châu Âu nói chung.[61] Trong cùng mùa giải, Maribor không giành được danh hiệu nào lần đầu tiên kể từ 2007–08, để mất chức vô địch quốc gia vào tay Olimpija do thành tích đối đầu sau khi hai đội kết thúc với cùng số điểm.[62] Olimpija cũng loại Maribor ở tứ kết cúp quốc gia, và vì vậy Maribor lần đầu tiên kể từ mùa 2002–03 không lọt vào bán kết giải đấu.[63]

mùa giải 2018–19, Maribor giành chức vô địch quốc gia thứ 15 dưới sự dẫn dắt của Milanič, người giành danh hiệu vô địch quốc gia thứ sáu cùng câu lạc bộ và trở thành huấn luyện viên thành công nhất ở hạng đấu cao nhất Slovenia.[64][65] Tuy nhiên, Milanič và Zahovič rời câu lạc bộ vào tháng 3 năm 2020 sau một loạt kết quả kém.[66] Trong kỷ nguyên Zahovič, Maribor giành tám chức vô địch quốc gia và hai lần lọt vào vòng bảng UEFA Champions League.[67]

Bản sắc câu lạc bộ

Màu sắc, trang phục và biệt danh

Trong suốt lịch sử của NK Maribor, màu chủ đạo của câu lạc bộ là màu tím.[68] Vì lý do này, đội có biệt danh là "Những người áo tím" (Vijoličasti)[69][70] và "Những bông violet" (Vijolice).[71][72] Câu lạc bộ cũng được gọi là "Viole", chủ yếu ở khu vực Nam Tư cũ.[73][74]

Khi NK Maribor được thành lập, một số quan chức câu lạc bộ ủng hộ màu đỏ và trắng, lấy cảm hứng từ huy hiệu của thành phố Maribor.[75][76] Tuy nhiên, vì nhiều đội bóng ở Nam Tư khi đó đã mặc áo đỏ trắng, các quan chức Maribor quyết định chọn một sự kết hợp mới mẻ hơn.[76] Họ quyết định noi theo hình mẫu của Fiorentina với sự kết hợp tím và trắng.[68] Oto Blaznik, đội trưởng đầu tiên của câu lạc bộ, là người đề xuất màu tím sau khi xem đội bóng Ý thi đấu.[76] Cuối cùng, họ đổi màu phụ thành vàng.[68] Ngày nay, Maribor thi đấu các trận sân nhà trong trang phục màu tím và thi đấu sân khách trong trang phục màu vàng.[68] Khẩu hiệu của câu lạc bộ là "Một câu lạc bộ, một danh dự" (En klub, ena čast).[77]

Các nhà sản xuất trang phục thi đấu của Maribor gồm Adidas, Puma, Diadora, Nike, Umbro, Joma và Kelme. Kể từ tháng 7 năm 2021, nhà sản xuất trang phục của câu lạc bộ là Adidas.[78] Kể từ khi Slovenia độc lập năm 1991, các nhà tài trợ áo đấu chính là Pivovarna Laško, OTP banka (được gọi là Nova KBM trước năm 2024) và Zavarovalnica Sava (Zavarovalnica Maribor trước năm 2016).[79]

Nhà sản xuất trang phục

Giai đoạn Nhà sản xuất trang phục
0000–1995 Erreà[80]
1996–2006 Nike[81]
2007–2011 Zeus Sport[82]
2011–nay Adidas[83]

Huy hiệu

Huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ dựa trên huy hiệu chính thức của thành phố Maribor, vốn dựa trên một con dấu thế kỷ 14 với một số khác biệt nhỏ.[84] Huy hiệu có dạng một chiếc khiên và thể hiện lâu đài Piramida trước đây từng nằm trên đỉnh đồi Pyramid trước khi bị phá bỏ vào cuối thế kỷ 18.[85] Một bông violet tạo thành nền phía sau.[85] Khác với huy hiệu của thành phố Maribor, huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ không thể hiện một con chim bồ câu trắng hướng xuống lâu đài, mà là hình ảnh tối giản của một con người.[85] Ở phần trên của chiếc khiên có ghi tên câu lạc bộ và năm thành lập.[85] Toàn bộ huy hiệu chỉ sử dụng hai màu là tím và vàng.[85] Các phiên bản huy hiệu trước đây có thêm màu trắng, một trong những màu truyền thống của câu lạc bộ, dưới dạng một lâu đài trắng ở trung tâm và một quả bóng trắng ở phía trên chiếc khiên. Kể từ tháng 5 năm 2012, huy hiệu có thêm một ngôi sao màu vàng phía trên, biểu thị mười danh hiệu quốc nội đầu tiên đã giành được.[85][86]

Bài hát truyền thống

Kể từ năm 1992, bài hát chính thức của câu lạc bộ là "Heja, hej Viole", do ban nhạc Čudežna polja viết lời và sáng tác.[87] 80 thành viên của nhóm cổ động viên Viole Maribor cũng tham gia thu âm với vai trò hát bè.[87] Lần biểu diễn ra mắt bài hát diễn ra vào ngày 16 tháng 9 năm 1992, tại trận đấu European Cup Winners' Cup giữa Maribor và Atlético Madrid.[87][88]

Sân vận động

Một toàn cảnh Ljudski vrt trước khi khán đài Tây được cải tạo.

Maribor thi đấu các trận sân nhà tại Ljudski vrt kể từ tháng 6 năm 1961.[89] Trước đó, câu lạc bộ có một giai đoạn rất ngắn trong lịch sử ban đầu thi đấu tại Stadion ob Tržaški cesti.[89] Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, sân chỉ gồm một mặt sân cùng một khán đài nhỏ, sau đó bị phá hủy trong chiến tranh.[90] Khu vực này đã được sử dụng cho bóng đá ít nhất từ đầu thế kỷ 20; từ năm 1910 đến năm 1960, đây là sân nhà của nhiều đội bóng có trụ sở tại Maribor, bao gồm Marburger Sportvereinigung, SV Rapid Marburg, SK Hertha, SK Rote Elf, I. SSK MariborNK Branik Maribor.[91][92]

Sau chiến tranh, sân được cải tạo và mở cửa vào năm 1952,[93] nhưng khán đài chính chỉ được xây dựng vào đầu thập niên 1960.[94] Ngày 25 tháng 6 năm 1961, Maribor chơi trận đầu tiên tại sân vận động này, gặp Mladost Zabok, khi khán đài vẫn đang được xây dựng.[89][94]

Ljudski vrt là sân vận động duy nhất tại Maribor nằm ở tả ngạn sông Drava. Sân được xem là một địa danh tự nhiên, văn hóa, kiến trúc và thể thao của thành phố, đồng thời được đặt tên theo một công viên công cộng trước đây nằm trong khu vực này.[95] Đặc điểm nổi bật của khán đài là vòm bê tông dài 129,8 mét và cao 18,4 m.[95] Năm 1994, hệ thống đèn pha được lắp đặt và sân vận động tổ chức trận đấu ban đêm đầu tiên.[95] Kể từ đó, sân vận động đã trải qua nhiều lần cải tạo.[96] Đáng chú ý nhất là giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2008, khi ba trong bốn khán đài (Nam, Đông và Bắc) bị phá bỏ và xây dựng lại hoàn toàn.[97] Khán đài Tây được cải tạo hoàn toàn vào năm 2021,[98] nâng sức chứa hiện tại của sân lên 11,709 chỗ ngồi.[99]

Ngoài vai trò là sân nhà của Maribor, sân vận động này cũng thỉnh thoảng tổ chức các trận đấu của Đội tuyển bóng đá quốc gia Slovenia.[100] Kỷ lục khán giả của sân là 20,000 người, đạt được vào năm 1973 khi Maribor thi đấu với Proleter Zrenjanin trong vòng play-off thăng hạng Giải hạng nhì Nam Tư, trong khi kỷ lục cho một trận đấu thuộc giải vô địch Slovenia là 14,000 khán giả, đạt được ở vòng cuối mùa giải 1996–97.[16][29]

Cổ động viên và kình địch

Cổ động viên

Một sân vận động bóng đá đầy cổ động viên đang sử dụng pháo sáng và bom khói.
Viole Maribor ở khán đài Nam của Ljudski vrt

NK Maribor được biết đến với lực lượng cổ động viên trung thành và cuồng nhiệt.[101][102] Ngoài thành phố Maribor và khu vực xung quanh, câu lạc bộ cũng có lượng người hâm mộ lớn tại StyriaCarinthia, cùng các nhóm cổ động viên nhỏ hơn hiện diện ở những khu vực khác của Slovenia.[103][104] Sau khi thành lập, Maribor được xem là câu lạc bộ của tầng lớp thị dân, còn đối thủ cùng thành phố Železničar Maribor là câu lạc bộ của tầng lớp lao động.[105]

Kể từ khi Giải hạng nhất Slovenia được thành lập vào năm 1991, Maribor có lượng khán giả sân nhà trung bình cao nhất trong 29 trên 35 mùa giải.[106] Lượng khán giả trung bình cao nhất tại giải vô địch là ở mùa giải 1996–97, khi trung bình 5,289 người đến xem các trận sân nhà của Maribor, đây là kỷ lục của bóng đá câu lạc bộ Slovenia.[28] Ngoài ra, Maribor là đội đầu tiên thu hút tổng cộng hơn hai triệu khán giả tại các trận đấu thuộc Giải hạng nhất Slovenia.[106]

Câu lạc bộ có một nhóm ultras tên là Viole Maribor, thành lập năm 1989.[107] Tự mô tả là một nhóm phi chính trị,[108][109] họ đặt vị trí tại khán đài Nam của sân vận động. Kỷ lục số cổ động viên đi sân khách trong các giải quốc nội là vào năm 2001, khi 3,000 cổ động viên Maribor tập trung tại Ljubljana,[110] trong khi số lượng cổ động viên đông nhất ở nước ngoài là vào năm 2017 trong chiến dịch UEFA Champions League 2017–18 của câu lạc bộ, khi hơn 2,400 cổ động viên di chuyển đến Liverpool.[111]

Viole Maribor được biết đến với hành vi hooligan[112] và các cuộc đụng độ với cảnh sát cũng như người hâm mộ của các nhóm khác. Một trong những sự cố nghiêm trọng nhất xảy ra vào năm 2010, khi một thành viên của Viole đâm một thành viên của Green Dragons, nhóm cổ động viên của kình địch lớn nhất của Maribor là Olimpija, gần ga đường sắt Ljubljana.[113] Một sự cố đáng chú ý khác xảy ra vào năm 2014, khi bốn thành viên của Viole bị kết tội tấn công một xe buýt chở người hâm mộ Sevilla FC tại một trạm dừng trên đường cao tốc sau một trận đấu Europa League, gây ra nhiều thương tích và thiệt hại tài sản.[114]

Năm 2015, Maribor bị Liên đoàn bóng đá Slovenia phạt 15,000 euro sau khi cổ động viên trưng bày cờ thập tự Celt và các biểu ngữ mang thông điệp bài ngoại trong một trận đấu với Olimpija.[115] Năm 2024, trong một trận đấu giải vô địch với Mura, một quả lựu đạn choáng do một thành viên của Viole ném đã làm sáu cầu thủ Mura và một cậu bé nhặt bóng tuổi teen bị thương, dẫn đến án phạt 25,000 euro, trận đấu được xử thắng 3–0 cho Mura, và Maribor phải đóng cửa sân trong bốn trận.[116]

Lượng khán giả trung bình của Maribor tại giải vô địch theo khoảng năm năm
Mùa giải Khán giả trung bình Thay đổi
trong 5 năm
1991–92 1,512[117]
1996–97 5,289[118] +249.85%  
2001–02 2,947[119] –44.29%  
2006–07 1,944[120] –34.05%  
2011–12 3,800[121] +95.45%  
2016–17 4,222[122] +11.11%  
2021–22 3,053[123] –27.68%  

Kình địch

Kình địch lớn nhất của Maribor là Olimpija đến từ thủ đô Ljubljana, đối thủ mà họ đối đầu trong derby vĩnh cửu (Večni derbi).[124] Sự kình địch bắt nguồn từ đầu thập niên 1960, khi cả hai câu lạc bộ từng thi đấu tại Giải hạng nhì Nam Tư.[125] Trận đấu chính thức đầu tiên giữa hai câu lạc bộ diễn ra vào ngày 2 tháng 9 năm 1962 tại Sân vận động Bežigrad ở Ljubljana, trước khoảng 10,000 khán giả.[126]

Năm 2005, Olimpija cũ bị giải thể do khó khăn tài chính.[127] Cùng năm đó, một câu lạc bộ phượng hoàng được thành lập dưới tên NK Bežigrad, và sau đó được đổi tên thành NK Olimpija Ljubljana.[128] Trận derby đầu tiên giữa Maribor và câu lạc bộ mới thành lập diễn ra vào ngày 24 tháng 10 năm 2007 ở tứ kết Cúp Slovenia.[129] Khi Olimpija được thăng hạng lên Giải hạng nhất Slovenia vào năm 2009, sự kình địch sống lại.[130]

Maribor cũng phát triển sự kình địch với một câu lạc bộ khác của Styria là Celje, được gọi là derby Styria (Štajerski derbi).[131] Maribor và Celje từng gặp nhau trong ba trận chung kết Cúp Slovenia, tất cả đều do Maribor giành chiến thắng,[27] và cũng cạnh tranh chức vô địch quốc gia ở mùa giải 2002–03, khi Maribor đánh bại Celje 2–1 trong trận quyết định với hai bàn thắng cuối trận, qua đó giành chức vô địch thứ bảy liên tiếp.[132]

Một kình địch khác của Maribor là Mura đến từ Prekmurje, đối thủ mà họ đối đầu trong derby Prekmurje–Styria (Štajersko-prekmurski derbi).[133]mùa giải 2020–21, Maribor và Mura cạnh tranh chức vô địch trong trận đấu quyết định ở ngày cuối cùng của mùa giải. Một trận hòa là đủ cho Maribor, nhưng Mura thắng 3–1 và giành chức vô địch đầu tiên trong lịch sử.[134]

Cầu thủ

Đội hình hiện tại

Tính đến 11 tháng 6 năm 2026[135]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM   Ažbe Jug (đội trưởng)
3 HV   Čedomir Bumbić
4 TV   Nejc Viher
6 HV   Bradley M'bondo
7 TV   Tio Cipot
10 TV   Žiga Repas
11 TV   Ali Reghba
14 TV   Jean Michaël Seri
18 TV   Óscar Zambrano
20 TV   Luis Carrero (mượn từ Deportivo Táchira)
21 TV   Karol Borys (mượn từ Westerlo)
27   Luka Mlakar
29   Dario Vizinger
Số VT Quốc gia Cầu thủ
30   Benjamin Tetteh
34 HV   Timon Kikec
36   Matej Tadič
42 HV   Filip Slana
43 TM   Tanej Handanović
44 HV   Omar Rekik
45 TV   Kobi Bajc
47 TV   Tai Primc
50 HV   Lan Vidmar
55 HV   Mark Španring
70 TV   Isaac Tshipamba
79 TV   David Pejičić (mượn từ Udinese)
98 TM   Téva Gardies

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV   Tine Čuk (tại Ilirija 1911 đến tháng 12 năm 2026)
TV   Niko Grlić (tại Ilirija 1911 đến tháng 12 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV   Niko Osterc (tại Ilirija 1911 đến tháng 12 năm 2026)
TV   Eric Taylor (tại Aluminij đến tháng 12 năm 2026)

Số áo treo

Kể từ năm 2005, Maribor không trao số áo 19.[136] Số áo này được treo để vinh danh Stipe Balajić, người thi đấu cho câu lạc bộ trong tám mùa giải từ 1997–98 đến 2004–05.[137] Ông chơi trận cuối cùng cho câu lạc bộ vào ngày 7 tháng 7 năm 2005, một trận giao hữu với câu lạc bộ cũ Hajduk Split, trong đó ông được thay ra sau 19 phút thi đấu như một cử chỉ biểu tượng.[138] Tháng 5 năm 2021, câu lạc bộ treo thêm một số áo khác, số 33, để vinh danh thủ môn Jasmin Handanović, người có hơn 350 lần ra sân cho Maribor từ năm 2011 đến năm 2021.[139] Tháng 5 năm 2022, số 9 được treo để vinh danh Marcos Tavares, đội trưởng lâu năm, cầu thủ ra sân nhiều nhất và cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại của câu lạc bộ.[140]

Maribor cũng tạm thời treo ba số áo: 22, để vinh danh Martin Milec, 26, để vinh danh Aleksander Rajčević, và 28, để vinh danh Mitja Viler. Hai số áo sau được treo vào năm 2020 và sẽ không được trao đến năm 2030,[141][142] trong khi số áo của Milec được treo vào năm 2025 và sẽ không được trao đến năm 2035.[143]

Số VT Quốc gia Cầu thủ
9   Marcos Tavares (2008–2022)
19 TV   Stipe Balajić (1998–2005)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
33 TM   Jasmin Handanović (2011–2021)

Học viện trẻ

Học viện chịu trách nhiệm phát triển các cầu thủ trẻ của câu lạc bộ. Học viện gồm mười nhóm trẻ, từ U-8 đến U-19, với hơn 210 cầu thủ trẻ trong hệ thống.[144] Câu lạc bộ cũng mở rộng hoạt động của trường bóng đá đến các trường tiểu học trong thành phố Maribor, nơi khoảng 850 cầu thủ nhỏ tuổi nhất tập luyện trong khuôn khổ Trường bóng đá trẻ em (Otroška nogometna šola).[145]

Kể từ khi hệ thống đào tạo trẻ của Maribor được thành lập theo hình thức hiện tại vào năm 1990, học viện là một trong những học viện thành công nhất cả nước xét về số danh hiệu giành được.[144] Đội U-19 giữ kỷ lục quốc gia về số danh hiệu nhiều nhất, khi đã vô địch giải U-19 tám lần.[146] Đội này cũng đã năm lần giành Cúp trẻ.[147] Các đội khác cũng thành công không kém, khi cả đội U-17 và U-15 đều giữ kỷ lục về số danh hiệu nhiều nhất ở hạng tuổi của mình.[148][149] Ngoài ra, các đội trẻ của Maribor là những đội đầu tiên trong nước giành chức vô địch ở bốn hạng tuổi trẻ cao nhất (U-13, U-15, U-17 và U-19) trong cùng một mùa giải.[144] Năm 2012, kỷ lục tám cầu thủ Maribor được triệu tập vào đội tuyển U-17 Slovenia tham dự Giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu 2012.[150][151]

Năm 2016, đội trẻ của Maribor tham dự lần thứ tư của chương trình xã hội thiếu nhi quốc tế Football for Friendship, với các sự kiện cuối cùng diễn ra tại Milano.[152] Đội vô địch giải đấu sau khi đánh bại Debreceni VSC 1–0 trong trận chung kết.[153]

Chiến binh tím

Một người đàn ông gốc Phi-Brasil trong bộ đồ bóng đá trắng và tím.
Marcos Tavares đã sáu lần giành giải Chiến binh tím.

Chiến binh tím (Vijol'čni bojevnik) là danh hiệu được trao cho cầu thủ nổi bật nhất trong năm có thái độ tốt nhất đối với người hâm mộ và câu lạc bộ.[154] Người đoạt giải được quyết định bằng cuộc bỏ phiếu trên trang web chính thức của câu lạc bộ và trên trang Facebook chính thức của câu lạc bộ.[154] Để đủ điều kiện tham gia bình chọn, cầu thủ phải ra sân cho câu lạc bộ ít nhất 10 trận tại giải vô địch.[154]

Năm Người đoạt giải
2008   Lubomir Kubica
2009   Dejan Mezga
2010   Elvedin Džinić
2011   Marcos Tavares
2012   Marcos Tavares
2013   Marcos Tavares
2014   Marcos Tavares
2015   Marcos Tavares
2016   Jasmin Handanović
 
Năm Người đoạt giải
2017   Marcos Tavares
2018   Saša Ivković
2019   Rok Kronaveter
2020   Aljoša Matko
2021   Ognjen Mudrinski
2022   Martin Milec
2023   Ažbe Jug
2024   Hillal Soudani
2025   Hillal Soudani

Quản lý

Huấn luyện viên đáng chú ý

Các huấn luyện viên sau đã giành ít nhất một danh hiệu khi dẫn dắt Maribor kể từ khi Slovenia độc lập năm 1991:

Một người đàn ông da trắng mặc vest đen, đang theo dõi một trận bóng đá và chỉ đạo cầu thủ.
Darko Milanič là huấn luyện viên thành công nhất của Maribor
Tên Năm Danh hiệu
Marijan Bloudek[158] 1989–1993
1994–1995
Cúp Slovenia 1991–92
Branko Horjak[158] 1993–1994
1995
2004–2005
2007–2008
Cúp Slovenia 1993–94
Bojan Prašnikar[158] 1996–2000
2001–2002
Giải vô địch Slovenia 1996–97
Cúp Slovenia 1996–97
Giải vô địch Slovenia 1997–98
Giải vô địch Slovenia 1998–99
Cúp Slovenia 1998–99
Giải vô địch Slovenia 2001–02
Matjaž Kek[158] 2000
2001
2002–2004
Giải vô địch Slovenia 1999–2000
Giải vô địch Slovenia 2002–03
Cúp Slovenia 2003–04
Ivo Šušak[158] 2000–2001 Giải vô địch Slovenia 2000–01
Darko Milanič[159] 2008–2013
2016–2020
Giải vô địch Slovenia 2008–09
Siêu cúp bóng đá Slovenia 2009
Cúp Slovenia 2009–10
Giải vô địch Slovenia 2010–11
Giải vô địch Slovenia 2011–12
Cúp Slovenia 2011–12
Siêu cúp bóng đá Slovenia 2012
Giải vô địch Slovenia 2012–13
Cúp Slovenia 2012–13
Cúp Slovenia 2015–16
Giải vô địch Slovenia 2016–17
Giải vô địch Slovenia 2018–19
Ante Čačić[160] 2013 Siêu cúp bóng đá Slovenia 2013
Ante Šimundža[161] 2013–2015
2023–2024
Giải vô địch Slovenia 2013–14
Siêu cúp bóng đá Slovenia 2014
Giải vô địch Slovenia 2014–15
Radovan Karanović[162] 2021–2022 Giải vô địch Slovenia 2021–22

Danh hiệu

Với 16 chức vô địch Giải hạng nhất Slovenia và 9 danh hiệu Cúp Slovenia, Maribor là câu lạc bộ thành công nhất Slovenia xét về số danh hiệu giành được,[163][164] đồng thời giữ kỷ lục về số chức vô địch liên tiếp nhiều nhất, với bảy lần.[31] Họ cũng đã bốn lần giành cú đúp Giải vô địch Slovenia và Cúp Slovenia. Ngoài ra, họ là câu lạc bộ duy nhất từng giành phiên bản Slovenia của cú ăn ba, khi vô địch giải đấu, cúp và siêu cúp trong mùa giải 2012–13.[165] Trên trang web chính thức, UEFA nêu rằng Maribor đã giành một cúp quốc tế, khi câu lạc bộ là một trong mười một đội đồng vô địch UEFA Intertoto Cup năm 2006.[166] Tuy nhiên, chiếc cúp thực tế được trao cho Newcastle United.[167] Maribor có thành tích hạng đấu cao nhất tốt nhất trong lịch sử, khi chỉ hai lần kết thúc dưới vị trí thứ tư.[168] Năm 2008, họ trở thành đội đầu tiên giành hơn 1,000 điểm tại hạng đấu cao nhất Slovenia.[169]

Danh hiệu gần nhất của câu lạc bộ đến vào tháng 5 năm 2022, khi họ giành chức vô địch Giải hạng nhất Slovenia lần thứ 16.

Quốc nội

Giải vô địch
Cúp

Quốc tế

Cú đúp

Tham khảo

  1. ^ "Nogometni klub Maribor Branik". bizi.si (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2022.
  2. ^ a b "NK Maribor slavi 60 let". Slovenski nogometni portal (bằng tiếng Slovenia). ngày 12 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  3. ^ Planinšič, Borut (ngày 9 tháng 12 năm 2020). "60 let NK Maribor: Večerovo darilo bralcem in navijačem – vse najboljše, vijoličasti!". Večer (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  4. ^ Plestenjak, Rok (ngày 12 tháng 12 năm 2020). "Vse najboljše, slovenski velikan in evropski fenomen!" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  5. ^ a b "Zgodovina: 1961–1970" [Lịch sử: 1961–1970] (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011.
  6. ^ To. G. (ngày 11 tháng 12 năm 2020). "NK Maribor v soboto praznuje 60 let" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  7. ^ a b c d Vindiš, Tomaž (2008). "Slovenska nogometna kluba iz Maribora in Ljubljane v prvi jugoslovanski ligi med leti 1967–1972" (PDF). fsp.uni-lj.si (bằng tiếng Slovenia). Đại học Ljubljana. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  8. ^ "Maribor – Olimpija 0:0" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011.
  9. ^ "Večni derbiji z Mariborom". nkolimpija.com (bằng tiếng Slovenia). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010.
  10. ^ "Yugoslavia championship 1967/68". eu-football.info (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  11. ^ "Yugoslavia championship 1969/70". eu-football.info (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  12. ^ "Yugoslavia championship 1971/72". eu-football.info (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  13. ^ Gomzi, Zmago (ngày 22 tháng 10 năm 2008). "Mariborski črni biser". Večer (bằng tiếng Slovenia). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011.
  14. ^ "2. zvezna liga – Zahod – 1972/73" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  15. ^ a b c d e "Zgodovina: 1971–1980" [Lịch sử: 1971–1980] (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011.
  16. ^ a b "Prva finalna kvalifikacijska tekma za vstop v 1. Ligo" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2010.
  17. ^ "Yugoslavia 1973/74". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  18. ^ "Slovenska republiška liga – 1975/76" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  19. ^ "Yugoslavia 1978/79". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  20. ^ a b Balantič, Robert (ngày 15 tháng 11 năm 2012). "Maribor kot žrtveno jagnje". svet24.si (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016.
  21. ^ "Zgodovina: 1981–1990" [Lịch sử: 1981–1990] (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2010.
  22. ^ "Dinamo Kiev – Maribor Teatanic 0:1 (Champions League 1999/2000, Preliminary Gr. A)". worldfootball.net (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  23. ^ a b c "Zgodovina: 1991–2000" [Lịch sử: 1991–2000] (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011.
  24. ^ "Slovenia – List of Champions". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  25. ^ "Slovenia 1991/92". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  26. ^ "European Competitions 1992–93". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  27. ^ a b c "Slovenia – List of Cup Finals". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  28. ^ a b Suhadolnik, Jernej (ngày 12 tháng 8 năm 2016). "Po Mandariću in Jankoviću še naveza Eleke-Velikonja". Delo (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2019.
  29. ^ a b "Maribor Branik 5–1 Potrošnik Beltinci" (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. ngày 1 tháng 6 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2019.
  30. ^ R. Š. (ngày 8 tháng 5 năm 2016). "Stožice ujele Ljudski vrt". Slovenski nogometni portal (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  31. ^ a b Plestenjak, Rok (ngày 22 tháng 5 năm 2021). "Jubilejnih 30 let od prve krone Olimpije do prve krone Mure" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  32. ^ T. G.; M. R. (ngày 25 tháng 8 năm 2019). "20 let od zadetkov Šimundže in Balajića za Mariborovo prvo Ligo prvakov" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  33. ^ "Champions League 1999/2000 – Preliminary Gr. A". worldfootball.net (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  34. ^ a b M. J./STA (ngày 13 tháng 1 năm 2011). "NK Maribor: Dolgovi so preteklost". 24ur.com (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011.
  35. ^ R. V. (ngày 13 tháng 1 năm 2011). "V Mariboru se poštarjev ne bojijo več" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011.
  36. ^ Pavčnik, Martin (ngày 25 tháng 7 năm 2006). "Maribor hear echoes of glory years" (bằng tiếng Anh). UEFA. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
  37. ^ "Zahovič dve leti v Mariboru". sta.si (bằng tiếng Slovenia). Slovenian Press Agency. ngày 20 tháng 7 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  38. ^ Plestenjak, Rok (ngày 29 tháng 5 năm 2018). "Fenomen brez primere" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  39. ^ "Premiera pred 12.000 gledalci za čisto desetko" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. ngày 10 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2011.
  40. ^ "Milanič novi trener Maribora" (bằng tiếng Slovenia). Siol. ngày 29 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  41. ^ "Foto: Volaš Mariboru prinesel osmi naslov" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. ngày 9 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  42. ^ "Slovenia 2009/10". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  43. ^ M. R. (ngày 8 tháng 5 năm 2010). "Bunderla po superpokalu v vitrino Maribora prinesel še en pokal" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  44. ^ T. O. (ngày 13 tháng 12 năm 2010). "Vijoličasta zgodba je stara 50 let" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  45. ^ To. G. (ngày 21 tháng 5 năm 2011). "Berič po preobratu v Ajdovščini zadel za deveti naslov Maribora" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016.
  46. ^ "VIDEO in FOTO: Maribor dva kroga pred koncem potrdil peti zaporedni naslov prvaka". 24ur.com (bằng tiếng Slovenia). ngày 16 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  47. ^ a b R. K. (ngày 14 tháng 5 năm 2016). "Video/foto: Vse končano je! Olimpija prekinila vladavino Maribora" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016.
  48. ^ "Mariborčani rekordno sezono končali z remijem". 24ur.com (bằng tiếng Slovenia). ngày 20 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  49. ^ A. V. (ngày 23 tháng 5 năm 2012). "Foto/video: Vijoličasti dobili loterijo za sedmo pokalno lovoriko" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012.
  50. ^ A. V. (ngày 29 tháng 5 năm 2013). "Maribor na (kratke) počitnice z dvojno krono" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2013.
  51. ^ T. O. (ngày 25 tháng 8 năm 2011). "Video: Maribor junaško zdržal pritisk Ibrox Parka" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012.
  52. ^ "Europa League 2011/2012 – Group H". worldfootball.net (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  53. ^ "Europa League 2012/2013 – Group J". worldfootball.net (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  54. ^ "Europa League 2013/2014 – Group D". worldfootball.net (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  55. ^ "Europa League 2013/2014 – Round of 32". worldfootball.net. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  56. ^ "'Phenomenal feeling' for Šimundža and Maribor". UEFA. ngày 26 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014.
  57. ^ "Champions League 2014/2015 – Group G". worldfootball.net (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  58. ^ Vozel, Aleš (ngày 6 tháng 5 năm 2017). "Čas za "čago" v štajerski prestolnici: Maribor je spet prvak" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  59. ^ Vozel, Aleš; Subotić, Dolores (ngày 22 tháng 8 năm 2017). "Čaroben večer v Ljudskem vrtu: Maribor šampion v Ligi prvakov!" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017.
  60. ^ "Champions League 2017/2018 – Group E". worldfootball.net (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  61. ^ Plestenjak, Rok (ngày 18 tháng 10 năm 2017). "Maribor tretji na večni evropski lestvici" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  62. ^ Uredništvo (ngày 28 tháng 5 năm 2018). "Maribor prvič po letu 2008 brez lovorike" (bằng tiếng Slovenia). Nogomania. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018.
  63. ^ Plestenjak, Rok (ngày 30 tháng 11 năm 2017). "Dvojni udarec za Maribor" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018.
  64. ^ To. G. (ngày 21 tháng 5 năm 2019). "Vijol'čna sreda v Mariboru, kjer proslavljajo 15. državni naslov" (bằng tiếng Slovenia). Maribor: RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2019.
  65. ^ Uredništvo (ngày 16 tháng 5 năm 2019). "Milanič: Tega nam nihče ne more vzeti" (bằng tiếng Slovenia). Nogomania. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2019.
  66. ^ M. P. (ngày 12 tháng 3 năm 2020). "Maribor ne bo več, kar je bil: odhaja še Zahović" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  67. ^ Viškovič, Rok (ngày 28 tháng 6 năm 2020). "Zapuščina Zlatka Zahovića, ki vas utegne presenetiti" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  68. ^ a b c d "Barva in slogani" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2024.
  69. ^ Nogomania (ngày 16 tháng 7 năm 2010). "Vijoličasti v elitni druščini" (bằng tiếng Slovenia). Nogomania. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011.
  70. ^ Prebil, Andrej (ngày 17 tháng 3 năm 2011). "Vijoličasti še drugič poraženi" [Thất bại thứ hai cho Những người áo tím] (bằng tiếng Slovenia). RTS. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011.
  71. ^ Pertoci, Tina (ngày 7 tháng 8 năm 2010). "Nacional uspešnejši od "vijolic"" [Nacional thành công hơn "Những bông violet"] (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  72. ^ T. O. (ngày 8 tháng 4 năm 2010). "Vijolice bodo še bolj vzcvetele" [Những bông violet sẽ còn nở rộ hơn nữa] (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011.
  73. ^ Z. A. (ngày 20 tháng 2 năm 2014). "Raketa sjetjela u Maribor: Najskuplji igrač Seville asistencijama pokvario povijesno proljeće Viola u Europi!". Index.hr (bằng tiếng Croatia). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
  74. ^ Isanović, Edin (ngày 15 tháng 7 năm 2014). "Drugo pretkolo Lige prvaka: Zrinjski spremno dočekuje favorizovani Maribor" [Vòng loại thứ hai Champions League: Zrinjski sẵn sàng tiếp đón Maribor được đánh giá cao hơn]. Klix.ba (bằng tiếng Bosnia). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
  75. ^ Gomzi, Zmago (ngày 28 tháng 9 năm 2020). "Zakaj je Maribor vijoličen? Odločilna je bila revija". Večer (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.
  76. ^ a b c Plestenjak, Rok (ngày 11 tháng 12 năm 2020). "Zgodba o junaku, ki je pred 60 leti obarval Maribor v vijolično" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.
  77. ^ "En klub, ena čast" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. ngày 16 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2021.
  78. ^ "Nova vijol'čna oprema" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. ngày 1 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2021.
  79. ^ "V prodaji koledarja članskega moštva in nogometne šole" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. ngày 14 tháng 12 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2021.
  80. ^ "NK Maribor football shirt 1993–1995". oldfootballshirts.com (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2019.
  81. ^ "Nike pokrovitelj SCT Olimpije in Maribor Branika". sta.si (bằng tiếng Slovenia). Slovenian Press Agency. ngày 14 tháng 1 năm 1996. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2019.
  82. ^ "Zeus v Ljudskem vrtu". NK Maribor. ngày 17 tháng 1 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2019.
  83. ^ "Odslej v Adidasu". NK Maribor. ngày 7 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2019.
  84. ^ "Prenova simbolov Mestne občine Maribor". grboslovje.si (bằng tiếng Slovenia). ngày 18 tháng 10 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.
  85. ^ a b c d e f "Grb" [Huy hiệu] (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2024.
  86. ^ "Za navijače, za praznik na tribunah" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.
  87. ^ a b c Vogrin, Nina (ngày 5 tháng 5 năm 2016). "Glasbenika, ki sta napisala klubski himni Olimpije in Maribora" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2022.
  88. ^ Elvič, Gorazd (ngày 28 tháng 9 năm 2020). "Dan za spektakel: Maribor gostil Atletico in dobil svojo himno". Večer (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2022.
  89. ^ a b c "Prva tekma v Ljudskem vrtu" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2024.
  90. ^ "Zgodovina: Predvojni stadioni in igrišča na Slovenskem". Slovenski nogometni portal (bằng tiếng Slovenia). ngày 1 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2021.
  91. ^ Mudražija, Tin (2016). "Pionirska vloga Nemcev pri organiziranem igranju nogometa v Mariboru in mariborsko-nemški nogometni klubi". dlib.si (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2021.
  92. ^ "Prvi slovenski športni klub Maribor 1919–1941". zveza-msdbranik.si (bằng tiếng Slovenia). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2021.
  93. ^ Uredništvo (ngày 12 tháng 6 năm 2018). "Legendarni Ljudski vrt je spregovoril" (bằng tiếng Slovenia). Nogomania. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2021.
  94. ^ a b "Stadion Ljudski vrt" (bằng tiếng Slovenia). Liên đoàn bóng đá Slovenia. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2021.
  95. ^ a b c "Ljudski vrt: Zgodovina" [Ljudski vrt: Lịch sử] (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2024.
  96. ^ "Ljudski vrt, Maribor". Soccerway. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2011.
  97. ^ "Redko viden spektakel" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2021.
  98. ^ To. G. (ngày 15 tháng 10 năm 2021). "Ljudski vrt s prenovljenim zahodom dokončno prenovljen v celoti" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2021.
  99. ^ "Ljudski vrt – Info" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2024.
  100. ^ "Stadion Ljudski Vrt, Maribor, football venue". eu-football.info (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2021.
  101. ^ "Sladek zadetek Liverpoola proti Haribo... oprostite Mariboru". 24ur.com (bằng tiếng Slovenia). ngày 18 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2019.
  102. ^ "FOTO in VIDEO: Viole z veličastno bakljado razsvetlite Maribor". maribor24.si (bằng tiếng Slovenia). ngày 10 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2019.
  103. ^ Jurišič, Uroš (2016). Trženje navijaških artiklov kot način utrjevanja športne blagovne znamke – primer NK Maribor (PDF) (Luận văn). Đại học Ljubljana. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2019.
  104. ^ "Zgodovina Viol" [Lịch sử của Viole]. violemaribor.com. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019.
  105. ^ T. D. L. (ngày 25 tháng 12 năm 2014). "Nekoč so bili mestni derbiji (1. del)". Slovenski nogometni portal (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017.
  106. ^ a b "Statistika – Vse sezone" [Thống kê – Tất cả các mùa giải] (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019.
  107. ^ "Viole praznovale 31 let". Slovenski nogometni portal (bằng tiếng Slovenia). ngày 3 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2021.
  108. ^ "Viole zanikajo domnevno odgovornost za izgrede v Mariboru". Dnevnik (bằng tiếng Slovenia). ngày 27 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014.
  109. ^ "Viole Maribor: Nismo zanetili nasilja proti županu Kanglerju!" (bằng tiếng Slovenia). Siol. ngày 28 tháng 11 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014.
  110. ^ "Zgodovina: 2001–2010" [Lịch sử: 2001–2010] (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2010.
  111. ^ "Mariborčani na Otok z veliko zamudo". Dnevnik (bằng tiếng Slovenia). ngày 31 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2021.
  112. ^ Klipšteter, Tomaž (ngày 20 tháng 6 năm 2008). "Direktor policijske uprave Maribor Karol Turk: Viole so navadni huligani". Dnevnik (bằng tiếng Slovenia). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  113. ^ "Kateri viola zaklal zelenega zmaja?". Delo (bằng tiếng Slovenia). ngày 14 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  114. ^ B. V. (ngày 21 tháng 3 năm 2014). "Še trije obtoženi za napad na španske navijače priznali krivdo" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  115. ^ Košir, Izak (ngày 26 tháng 11 năm 2015). "Mariboru kazen za keltski križ in nestrpnost do migrantov. Višina: 15.000 evrov". Mladina (bằng tiếng Slovenia). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  116. ^ "Mariboru 25.000 evrov kazni, 3 točke Muri". Delo (bằng tiếng Slovenia). ngày 26 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  117. ^ "Statistika – 1. slovenska nogometna liga 91/92" (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  118. ^ "Statistika – 1. slovenska nogometna liga 96/97" (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  119. ^ "Statistika – Si.Mobil liga 01/02" (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  120. ^ "Statistika – Prva liga Telekom Slovenije 06/07" (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  121. ^ "Statistika – 1. slovenska nogometna liga 11/12" (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  122. ^ "Statistika – Prva liga Telekom Slovenije 16/17" (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  123. ^ "Statistika – Prva liga Telemach 21/22" (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  124. ^ M. R. (ngày 16 tháng 9 năm 2020). "Kako se je izoblikoval slovenski nogometni derbi?" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2021.
  125. ^ Rijavec, Matej; Gruden, Toni; Jerič, Slavko (ngày 11 tháng 3 năm 2011). "Statistični pregled derbijev med Olimpijo in Mariborom" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011.
  126. ^ "Olimpija – NK Maribor 1:1 (0:0)" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2019.
  127. ^ J. K. (ngày 11 tháng 11 năm 2010). "Simič: "Stefanović pošilja grožnje!"". Žurnal24 (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  128. ^ "Zgodovina kluba". nkolimpija.com (bằng tiếng Slovenia). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2016.
  129. ^ "Delite vtise z oživelega derbija" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. ngày 23 tháng 10 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2019.
  130. ^ Rožman, Andraž (ngày 10 tháng 8 năm 2009). "Večni derbi: Navijači razgrajali, Cime jih je pogrešal". Dnevnik (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2019.
  131. ^ "Mudrinski odločil 106. štajerski derbi" (bằng tiếng Slovenia). Siol. ngày 4 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2021.
  132. ^ Okorn, Tomaž (ngày 22 tháng 7 năm 2020). "Pušnik: Če bi Hadžić ostal, bi bila Olimpija prvak" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2023.
  133. ^ "Štajersko-prekmurski derbi brez zadetkov". Slovenski nogometni portal (bằng tiếng Slovenia). ngày 5 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2019.
  134. ^ "Prekmurci osvojili Ljudski vrt: Mura prvič državni prvak!" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. ngày 22 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2021.
  135. ^ "Igralski kader" [Đội hình một] (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2026.
  136. ^ "Viole spet poskrbele za pretep". Dnevnik (bằng tiếng Slovenia). ngày 8 tháng 7 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2021.
  137. ^ "Balajić Stipe – nastopi" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2021.
  138. ^ Planinšič, Borut (ngày 7 tháng 7 năm 2005). "Dalmatinska fešta pod Kalvarijo". Večer (bằng tiếng Slovenia). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011.
  139. ^ "Novopečeni trener vratarjev Jasmin Handanović: Morate verjeti v klub" (bằng tiếng Slovenia). Nogomania. ngày 26 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2021.
  140. ^ A. G. (ngày 14 tháng 5 năm 2022). "Vijoličasti strli Aluminij; Tavares: Nikoli si nisem mislil, da bom postal legenda" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2022.
  141. ^ Plestenjak, Rok; Pakiž, Sara (ngày 22 tháng 7 năm 2020). "Ganljivo slovo legende NK Maribor: Preplavile so me emocije #video" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2021.
  142. ^ R. P. (ngày 30 tháng 12 năm 2020). "Predsednik Kopra obdaril navijače, Maribor upokojil št. 28" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2021.
  143. ^ Dajčman, Miha (ngày 25 tháng 5 năm 2025). "(FOTO) Martin Milec: Iz Maribora odhajam z dvignjeno glavo. Račan že dogovorjen z novim klubom". Večer (bằng tiếng Slovenia). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2025.
  144. ^ a b c "Nogometna šola NK Maribor" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2024.
  145. ^ "Otroška nogometna šola" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
  146. ^ "1. slovenska mladinska liga – Dosedanji zmagovalci" (bằng tiếng Slovenia). Liên đoàn bóng đá Slovenia. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
  147. ^ "Mladinski pokal – Dosedanji zmagovalci" (bằng tiếng Slovenia). Liên đoàn bóng đá Slovenia. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
  148. ^ "1. slovenska kadetska liga – Dosedanji zmagovalci" (bằng tiếng Slovenia). Liên đoàn bóng đá Slovenia. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
  149. ^ "Liga U15 – Dosedanji zmagovalci" (bằng tiếng Slovenia). Liên đoàn bóng đá Slovenia. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
  150. ^ Uredništvo (ngày 27 tháng 4 năm 2012). "Ostalo jih je še 20" (bằng tiếng Slovenia). Nogomania. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012.
  151. ^ A. V. (ngày 27 tháng 4 năm 2012). "Kostić bo spisek 20 imen skrajšal še za dve" (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012.
  152. ^ "Football for Friendship: Syrian youth team make tournament debut in Milan". euronews.com. ngày 31 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2020.
  153. ^ "Vijol'čno slavje v Milanu" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. ngày 28 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2021.
  154. ^ a b c "Vijol'čni bojevnik" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2024.
  155. ^ "Osebna izkaznica" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  156. ^ "Nogometna šola – Strokovni štab" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
  157. ^ "Strokovni štab" [Ban huấn luyện] (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
  158. ^ a b c d e "Nekdanji podprli zdajšnje" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017.
  159. ^ Kovačevič, Marko (ngày 22 tháng 12 năm 2020). "Darko Milanič: Prepričan sem, da se lahko ponovi. Mora se!". Večer (bằng tiếng Slovenia). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2025. S šestimi naslovi državnega prvaka, s štirimi pokalnimi trofejami in z dvema superpokaloma po številu lovorik celo najuspešnejši v Sloveniji.
  160. ^ "A. Čačić". soccerway.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2019.
  161. ^ "Ante Šimundža – NK Maribor" (bằng tiếng Slovenia). NK Maribor. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2025. V prvi epizodi je osvojil tri lovorike – dva državna naslova in enega superpokalnega.
  162. ^ "Dejan Dončić se je poslovil, Maribor pa je že našel novega trenerja: Mladince vijoličastih bo v prihodnje vodil Radovan Karanović". Planet Nogomet (bằng tiếng Slovenia). ngày 30 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2025. Na čelo mladinske zasedbe se bo preselil Radovan Karanović, ki je bil s člani leta 2022 že državni prvak.
  163. ^ "Državni prvaki" (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018.
  164. ^ "Lovorike" (bằng tiếng Slovenia). Liên đoàn bóng đá Slovenia. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018.
  165. ^ Da. B.; Ig. K.; J. K. (ngày 29 tháng 5 năm 2013). ""Trojček" Maribora: tri krone za vijolične prvake". Žurnal24 (bằng tiếng Slovenia). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018.
  166. ^ "Club facts: Maribor" (bằng tiếng Anh). UEFA. ngày 1 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  167. ^ "Newcastle to lift Intertoto Cup". BBC Sport. ngày 16 tháng 12 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011.
  168. ^ "Maribor: Osnovne statistike" (bằng tiếng Slovenia). Slovenian PrvaLiga. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2020.
  169. ^ R. P. (ngày 26 tháng 12 năm 2008). "Mariborčani edini presegli tisoč točk" (bằng tiếng Slovenia). Siol. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
  170. ^ "Pokalni nogometni finale na območju NZ Maribor". Večer (bằng tiếng Slovenia). ngày 23 tháng 4 năm 1992. tr. 14.

Liên kết ngoài