Bước tới nội dung

Queens Park Rangers F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Queens Park Rangers FC)
Queens Park Rangers
Huy hiệu Queens Park Rangers
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Queens Park Rangers
Biệt danhThe Rs, Rangers, The Hoops, SuperHoops
Tên ngắn gọnQPR
Thành lập1882; 144 năm trước (1882), với tên Christchurch Rangers
SânSân vận động Loftus Road
Sức chứa18.439[1]
Chủ sở hữu
Chủ tịch điều hànhLee Hoos
Huấn luyện viên trưởngJulien Stéphan
Giải đấuChampionship
2025–26Championship, hạng 15 trên 24
Websiteqpr.co.uk
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Queens Park Rangers (tiếng Anh: Queens Park Rangers Football Club), thường được viết tắt là QPR, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Shepherd's Bush, Tây Luân Đôn, Anh. Đội hiện đang thi đấu tại EFL Championship, hạng đấu thứ hai trong Hệ thống giải bóng đá Anh.

Câu lạc bộ được thành lập với tên gọi Christchurch Rangers vào năm 1882 và lấy tên hiện tại sau khi sáp nhập với St Judes Institute bốn năm sau đó, gần các khu vực Queen's ParkKensal.[2] Sau khi giành chức vô địch West London League mùa giải 1898-99, QPR gia nhập Southern LeagueWestern League, nơi đội giành danh hiệu ở cả hai giải. Chính trong giai đoạn này, câu lạc bộ đã hai lần vào chung kết FA Charity Shield vào các năm 19081912. QPR được bầu vào Football League năm 1920. Câu lạc bộ thi đấu ở Third Division South cho đến khi giành quyền thăng hạng với tư cách nhà vô địch mùa giải 1947-48. Đội xuống hạng vào năm 1952, nhưng dần được tái thiết dưới sự dẫn dắt của Alec Stock, với đỉnh cao là chức vô địch Third Division và cũng là danh hiệu lớn duy nhất của đội cho đến nay, League Cup, ở mùa giải 1966-67. Sau khi thăng hạng từ Second Division vào mùa giải 1967-68, đội xuống hạng chỉ sau một mùa tại First Division. QPR giành quyền thăng hạng trở lại vào mùa giải 1972-73 và sau đó chỉ suýt vô địch giải vô địch Anh mùa giải 1975-76, khi kém đội vô địch Liverpool đúng một điểm. Sau khi xuống hạng năm 1979, họ vào tới chung kết Cúp FA với tư cách một đội hạng hai tại năm 1982, nhưng thua Tottenham Hotspur sau một trận đá lại.

QPR giành thêm một chức vô địch Second Division nữa ở mùa giải 1982-83 và là đội thua trong chung kết League Cup 1986. Câu lạc bộ trụ lại hạng đấu cao nhất trong mười ba năm, trở thành thành viên sáng lập của Premier League năm 1992, trước khi xuống hạng vào năm 1996. Sau khi lại xuống hạng vào năm 2001, đội giành quyền thăng hạng từ cấp độ thứ ba vào cuối mùa giải 2003-04. QPR vô địch Championship để thăng hạng ở mùa giải 2010-11, dù sau đó xuống hạng khỏi Premier League sau hai mùa giải. Họ lập tức thăng hạng trở lại thông qua play-off vào năm 2014, nhưng lại xuống hạng ở mùa giải kế tiếp và kể từ đó vẫn ở lại Championship.

Sau giai đoạn đầu tồn tại khá phiêu bạt, QPR đã chơi các trận sân nhà tại Loftus Road מאז năm 1917, ngoại trừ hai giai đoạn ngắn thi đấu tại White City Stadium. Đội có nhiều mối kình địch với các câu lạc bộ khác; nổi bật nhất là họ tham dự West London derby với Chelsea.

Lịch sử

Lịch sử ban đầu (1882-1920s)

Tập tin:St Jude's Hall, Ilbert Street, West Kilburn, London W9 (tháng 6 năm 2021) (6).jpg
St Jude's Institute, nơi câu lạc bộ được thành lập.

Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1886, khi một đội bóng có tên St Jude's (thành lập năm 1884) sáp nhập với Christchurch Rangers (thành lập năm 1882).[3] Đội bóng mới mang tên Queen's Park Rangers, và năm thành lập chính thức được xem là 1882, tức năm thành lập ban đầu của Christchurch Rangers. Tên câu lạc bộ xuất phát từ việc phần lớn cầu thủ đến từ khu vực Queen's Park ở phía tây bắc London. St Jude's Institute trên phố Ilbert, W10, hiện vẫn được sử dụng như một hội trường cộng đồng, và vào tháng 7 năm 2011, biểu tượng của câu lạc bộ Stan Bowles đã khánh thành một tấm biển ghi dấu vị trí của nơi này trong lịch sử QPR. 1882: QPR được thành lập với tên Queens Park Rangers bởi một nhóm học sinh đến từ khu vực Queen's Park ở tây bắc London. Ban đầu, câu lạc bộ thi đấu ở các giải địa phương và là một phần của phong trào bóng đá nghiệp dư.

QPR trở thành một đội chuyên nghiệp vào năm 1889. Câu lạc bộ được bầu vào Southern Football League năm 1899. Trong mùa giải 1899-1900, họ gây tiếng vang khi lọt vào vòng chính thức đầu tiên của Cúp FA sau chiến thắng 1-0 trước Wolverhampton Wanderers ngay trên sân đối phương. The Guardian đã viết rằng "Queens Park Rangers, một đội bóng trước đó còn vô danh, đến từ vùng ngoại ô tây bắc London...đã làm đảo lộn mọi dự đoán".[4]

Vào thời điểm đó, khu vực cổ động cốt lõi của câu lạc bộ, như được phản ánh trong phạm vi tiếp thị, là một vùng thuộc tây Luân Đôn, phía tây của đường A5 (Roman Watling Street), trong và xung quanh các borough cũ của PaddingtonWillesden. Khi Luân Đôn tiếp tục mở rộng về phía tây, lực lượng người hâm mộ của câu lạc bộ cũng phát triển theo.[5]

Lần đầu tiên họ vô địch Southern Football League vào mùa giải 1907-08. Với tư cách nhà vô địch Southern League năm đó, họ tham dự trận Charity Shield đầu tiên trong lịch sử, gặp nhà vô địch Football League là Manchester United. Câu lạc bộ thua 0-4 trong trận đá lại sau khi trận đầu kết thúc với tỉ số 1-1. Cả hai trận đều diễn ra tại Stamford Bridge. QPR giành chức vô địch Southern League lần thứ hai vào mùa giải 1911-12.

Vươn lên thành đội bóng đáng chú ý (1920s-1960s)

Câu lạc bộ gia nhập Football League vào năm 1920, khi Third Division được thành lập, chủ yếu từ các câu lạc bộ thuộc Southern League. Khi Third Division được chia thành khu vực Bắc và Nam ở mùa giải tiếp theo, QPR, giống như phần lớn các câu lạc bộ cũ của Southern League đã gia nhập Football League để تشکیل Third Division, được xếp vào Third Division (South).

QPR đã chơi các trận sân nhà tại gần 20 sân vận động khác nhau — một kỉ lục của giải đấu — trước khi ổn định lâu dài tại Loftus Road vào năm 1917; tuy vậy đội đã hai lần ngắn hạn cố gắng thu hút lượng khán giả lớn hơn bằng cách thi đấu tại White City Stadium: từ năm 1931 đến 1933, và trong mùa giải 1962-63.[6]

Tập tin:QPR League Performance.svg
Biểu đồ thể hiện tiến trình thứ hạng của QPR tại giải đấu từ mùa giải 1920-21 đến hiện tại

Câu lạc bộ thăng hạng với tư cách nhà vô địch Division 3 South ở mùa giải 1947-48. Dave Mangnall là người quản lí trong giai đoạn câu lạc bộ thi đấu bốn mùa ở Second Division, trước khi xuống hạng ở mùa giải 1951-52. Tony Ingham được chiêu mộ từ Leeds United và sau đó trở thành cầu thủ có số lần ra sân nhiều nhất cho QPR tại giải vô địch (519 trận). Người có thể xem là huấn luyện viên vĩ đại nhất trong lịch sử câu lạc bộ,[7] Alec Stock, đến trước khi mùa giải 1959-60 bắt đầu. Mùa giải 1960-61 chứng kiến QPR giành chiến thắng đậm nhất trong lịch sử cho đến lúc đó: 9-2 trước Tranmere Rovers ở một trận đấu thuộc Division 3. Theo thời gian, Stock, cùng với Jim Gregory — người trở thành chủ tịch vào giữa thập niên 1960 — đã giúp thực hiện một cuộc thay đổi toàn diện đối với câu lạc bộ và môi trường xung quanh.

Trong mùa giải 1966-67, QPR vô địch Division Three và trở thành câu lạc bộ đầu tiên của Third Division giành được League Cup, vào thứ Bảy, ngày 4 tháng 3 năm 1967, sau khi đánh bại West Bromwich Albion 3-2 dù bị dẫn trước hai bàn, qua đó giành danh hiệu lớn đầu tiên và cũng là duy nhất trong lịch sử câu lạc bộ. Đây cũng là trận chung kết League Cup đầu tiên được tổ chức tại Sân vận động Wembley. Sau khi giành quyền thăng hạng lên hạng đấu cao nhất lần đầu tiên trong lịch sử vào năm 1968, Rangers xuống hạng chỉ sau một mùa và trải qua bốn năm tiếp theo ở Division Two.

Thời kì hoàng kim (1970s)

Terry Venables gia nhập từ Spurs vào đầu mùa giải 1969-70 và Rodney Marsh được bán cho Manchester City. Trong giai đoạn này, những người hùng mới của QPR xuất hiện, trong đó có Phil Parkes, Don Givens, Dave ThomasStan Bowles. Những bản hợp đồng mới này bổ sung cho lớp cầu thủ trưởng thành từ đội trẻ như Dave Clement, Ian Gillard, Mick LeachGerry Francis.

Năm 1972, QPR giành quyền thăng hạng lên Division One (hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh thời điểm đó), dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Gordon Jago.

Năm 1974, Dave Sexton trở thành huấn luyện viên và ở mùa giải 1975-76 đã đưa QPR tới vị trí á quân tại First Division, bỏ lỡ chức vô địch chỉ vì kém một điểm, với một đội hình có bảy tuyển thủ Anh cùng các tuyển thủ đến từ các home nations. Sau khi hoàn tất mùa giải 42 trận của mình, QPR đứng đầu bảng, hơn Liverpool một điểm, nhưng Liverpool sau đó thắng Wolverhampton Wanderers để giành chức vô địch. Wolves cũng xuống hạng Second Division ở chính mùa giải đó. Cuối thập niên 1970 cũng chứng kiến một số thành công ở đấu trường cúp khi Rangers vào tới bán kết League Cup và trong lần đầu tham dự cúp châu Âu, đội đã lọt vào tứ kết UEFA Cup, nơi họ thua AEK Athens trong loạt sút luân lưu. Sau khi Sexton rời đi năm 1977, câu lạc bộ cuối cùng rớt xuống Second Division vào năm 1979.

Thăng hạng, xuống hạng và hai trận chung kết cúp (thập niên 1980)

Năm 1980, Terry Venables tiếp quản vị trí huấn luyện viên và năm 1981 câu lạc bộ lắp đặt một mặt sân cỏ nhân tạo. Năm 1982, QPR, khi đó vẫn chơi tại Second Division, lọt vào chung kết Cúp FA lần duy nhất trong lịch sử câu lạc bộ, đối đầu với đội đương kim vô địch Tottenham Hotspur. Tottenham thắng 1-0 sau trận đá lại. Mùa giải tiếp theo, QPR vô địch Second Division và trở lại hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Sau vị trí thứ năm đáng khích lệ và suất tham dự UEFA Cup ở mùa giải sau đó, Venables rời đi để trở thành huấn luyện viên của Barcelona. Năm 1988, câu lạc bộ có một chủ tịch mới, Richard Thompson, khi ấy 24 tuổi. Trong bảy năm tiếp theo, nhiều huấn luyện viên khác nhau đến rồi đi tại Loftus Road, còn đội bóng trải qua nhiều mùa giải đứng giữa bảng và tránh được xuống hạng. Mùa giải thành công nhất trong giai đoạn này là mùa giải 1987-88, khi QPR đứng thứ năm, dù bỏ lỡ cơ hội dự UEFA Cup do lệnh cấm các câu lạc bộ Anh tham dự cúp châu Âu sau thảm họa Heysel. Họ cũng là á quân ở chung kết League Cup 1986, thua Oxford United.

Tập tin:Queens Park Rangers badge.png
Huy hiệu QPR được sử dụng từ năm 1982 đến năm 2008

Những năm Premier League và việc xuống hạng (thập niên 1990)

Gerry Francis, một cầu thủ chủ chốt của QPR trong thập niên 1970 và đã khẳng định được tài năng huấn luyện cùng Bristol Rovers, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào mùa hè năm 1991. Trong mùa giải đầu tiên dưới quyền ông, đội đứng giữa bảng xếp hạng, và ở mùa giải 1992-93 họ trở thành thành viên sáng lập của Premier League đầu tiên, kết thúc ở vị trí thứ năm với tư cách đội bóng London có thứ hạng cao nhất. Francis cũng chỉ đạo một trong những chiến thắng nổi tiếng nhất của QPR, khi đội thắng 4-1 tại Old Trafford trước truyền hình trực tiếp vào ngày đầu năm mới 1992. Giữa mùa giải 1994-95, Francis từ chức và nhanh chóng trở thành huấn luyện viên của Tottenham Hotspur, còn Ray Wilkins được bổ nhiệm làm cầu thủ kiêm huấn luyện viên. Wilkins đưa QPR đến vị trí thứ tám tại Premiership. Vào tháng 7 năm 1995, chân sút số một của câu lạc bộ là Les Ferdinand được bán cho Newcastle United với mức phí kỉ lục của câu lạc bộ là 6 triệu bảng.

QPR gặp khó khăn trong suốt mùa giải tiếp theo và xuống hạng vào cuối mùa giải 1995-96. Sau đó, QPR thi đấu ở Division 1 cho đến năm 2001 dưới quyền một loạt huấn luyện viên, trong đó có huyền thoại câu lạc bộ Gerry Francis, người được bổ nhiệm trở lại trong nhiệm kì thứ hai, với thành tích chủ yếu là đứng giữa bảng và nửa dưới bảng xếp hạng.

Xuống hạng, thăng hạng, khó khăn tài chính và sự xuất hiện của Bernie cùng Flavio (thập niên 2000)

Sau nhiều năm chật vật ở hạng hai, QPR bị cuốn vào những tranh cãi về tài chính và ban lãnh đạo. Dù câu lạc bộ đã được niêm yết trên Alternative Investment Market vào năm 1991, đến năm 2001 đội rơi vào tình trạng quản lí tài sản. Một giai đoạn khó khăn về tài chính tiếp diễn, và câu lạc bộ rời khỏi tình trạng đó sau khi nhận được khoản vay khẩn cấp 10 triệu bảng với lãi suất cao, khoản nợ tiếp tục đè nặng lên đội bóng.[8] Mùa giải 00-01 là một thảm họa và Gerry Francis từ chức vào đầu năm 2001.[9] Cựu tiền vệ Rangers là Ian Holloway được bổ nhiệm làm huấn luyện viên nhưng không thể ngăn câu lạc bộ xuống hạng ba vào cuối mùa giải, lần đầu tiên kể từ thập niên 1960. Sau khi xuống hạng, Holloway xây dựng một đội hình với nhiều người hâm mộ QPR trong đội ngũ cầu thủ, gồm Kevin Gallen, Marc BirchamRichard Langley, cùng những cầu thủ quan trọng khác như Danny Shittu, Gareth AinsworthClarke Carlisle. Trong mùa giải thứ hai ở hạng ba, câu lạc bộ vào tới trận chung kết play-off tại Cardiff, nhưng thua Cardiff City 0-1 sau hiệp phụ. Ở mùa giải tiếp theo, QPR gác lại nỗi thất vọng ở play-off và trở lại Division 1 với tư cách á quân, sau chiến thắng nổi tiếng 3-1 trên sân Hillsborough trước sự chứng kiến của 7.000 cổ động viên QPR theo chân đội.

Rangers chật vật trong việc duy trì phong độ ổn định trong hai mùa giải tiếp theo trước khi Holloway bị đình chỉ công tác giữa lúc xuất hiện tin đồn ông sắp chuyển sang Leicester City.[10] Chuỗi kết quả nghèo nàn và sự thiếu tiến triển tại câu lạc bộ khiến những người kế nhiệm Holloway là Gary Waddock rồi John Gregory — đều là các cựu cầu thủ — không thể giữ được ghế huấn luyện viên.

Những vụ bê bối liên quan đến các giám đốc, cổ đông và những nhân vật khác xuất hiện trong mùa giải 2005-06, bao gồm các cáo buộc tống tiền và đe dọa bạo lực nhằm vào chủ tịch câu lạc bộ Gianni Paladini.[11] Trong một sự việc không liên quan, QPR còn bị chấn động thêm bởi vụ sát hại cầu thủ đội trẻ Kiyan Prince vào ngày 18 tháng 5 năm 2006[12] và, vào tháng 8 năm 2007, cái chết của cầu thủ tuổi teen đầy triển vọng đội một Ray Jones trong một vụ tai nạn ô tô.[13]

Rangers tiếp tục đối mặt với áp lực tài chính ngày càng gia tăng, và vào tháng 9 năm 2007, người ta thông báo rằng câu lạc bộ đã được các doanh nhân Formula One giàu có là Flavio BriatoreBernie Ecclestone mua lại (xem Quyền sở hữu và tài chính ở bên dưới).[14] Nhiệm kì của John Gregory trên cương vị huấn luyện viên kết thúc vào tháng 10 năm 2007 sau một chuỗi kết quả tệ hại khiến QPR đứng cuối Championship, và ông được thay bằng Luigi De Canio cho đến hết mùa giải 2007-08. Đầu năm 2008, khoản đầu tư tiếp theo được rót vào khi câu lạc bộ hướng tới mục tiêu thăng hạng lên Premier League trong vòng bốn năm, dựa trên nền tảng tài chính ổn định hơn.[15] Ngày 14 tháng 5 năm 2008, Iain Dowie được công bố là huấn luyện viên để bắt đầu chiến dịch đưa Rangers trở lại hạng đấu cao nhất.[16][17] Tuy nhiên, vào ngày 24 tháng 10 năm 2008, Dowie bị sa thải sau chỉ 15 trận dẫn dắt câu lạc bộ.[18]

Tập tin:Queensparkrangersfclogo.svg
Huy hiệu được giới thiệu dưới thời Flavio Briatore và sử dụng từ năm 2008 đến năm 2016

Ngày 19 tháng 11 năm 2008, QPR bổ nhiệm cựu tiền vệ Bồ Đào Nha Paulo Sousa làm huấn luyện viên đội một mới.[19] Tuy nhiên, vào ngày 9 tháng 4 năm 2009, hợp đồng của ông bị chấm dứt sau khi ông bị cáo buộc tiết lộ thông tin mật mà không được cho phép.[20] Cùng ngày Sousa bị sa thải, cầu thủ kiêm huấn luyện viên Gareth Ainsworth được bổ nhiệm làm cầu thủ/huấn luyện viên tạm quyền lần thứ hai. Vào tháng 6 năm 2009, Jim Magilton được chọn làm huấn luyện viên mới của QPR. Dù đã đưa QPR khởi đầu tốt ở mùa giải 2009-10, sự sa sút phong độ kết hợp với một vụ bị cáo buộc húc đầu tiền vệ người Hungary Ákos Buzsáky đã khiến câu lạc bộ tiếp tục chìm trong tranh cãi.[21] Magilton rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung vào ngày 16 tháng 12 năm 2009, cùng với trợ lí John Gorman.[22] Họ được thay thế bởi Paul HartMick Harford vào ngày hôm sau.[23]

Trở thành câu lạc bộ yo-yo (thập niên 2010)

Chưa đầy một tháng và chỉ sau năm trận đấu kể từ khi trở thành huấn luyện viên của QPR, Paul Hart chia tay câu lạc bộ vào ngày 14 tháng 1 năm 2010; lí do ông rời đội không được công bố.

Ngày 1 tháng 3 năm 2010, huấn luyện viên giàu kinh nghiệm ở EFL Championship là Neil Warnock gia nhập Queens Park Rangers trên cương vị huấn luyện viên theo bản hợp đồng ba năm rưỡi, sau khi đạt được thỏa thuận đền bù với Crystal Palace. Sau khi giúp câu lạc bộ thoải mái trụ hạng ở mùa giải 10-11, Warnock xây dựng một đội hình chủ yếu gồm các cầu thủ dày dạn kinh nghiệm ở Championship như Shaun Derry, Clint Hill, Paddy Kenny, còn nhạc trưởng từng thi đấu theo dạng cho mượn Adel Taarabt được trao vai trò trung tâm trong đội hình và mang băng đội trưởng.

Ngày 30 tháng 4 năm 2011, QPR giành quyền thăng hạng lên Premier League sau khi vô địch Championship với chiến thắng 2-0 trước Watford.[24] Một cuộc điều tra sau đó của FA liên quan đến việc QPR chiêu mộ Alejandro Faurlín đã đe dọa trừ điểm đội bóng và đặt việc thăng hạng của câu lạc bộ vào thế nguy hiểm. Cuộc điều tra kết thúc vào ngày 7 tháng 5 năm 2011, với việc QPR bị xác định có lỗi ở hai trong bảy cáo buộc và bị phạt 875.000 bảng. Tuy nhiên, FA không trừ điểm, và quyền thăng hạng lên Premier League của QPR vẫn được giữ nguyên.[25]

Sau khi câu lạc bộ thăng hạng, Eccleston và Briatore bán cổ phần của mình cho tỉ phú Malaysia và chủ sở hữu Air Asia là Tony Fernandes, sự xuất hiện của ông đã châm ngòi cho một đợt chi tiêu mạnh tay vào ngày cuối kì chuyển nhượng để tăng cường lực lượng cho đội hình QPR.

Vào tháng 1 năm 2012, Fernandes sa thải Warnock và bổ nhiệm Mark Hughes làm huấn luyện viên của đội. Sau khởi đầu khó khăn tại Loftus Road và rồi chuỗi năm chiến thắng liên tiếp trên sân nhà, Hughes và QPR đã thoát xuống hạng bất chấp thất bại kịch tính 2-3 trước Manchester City ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải.[26]

Ngày 23 tháng 11 năm 2012, Mark Hughes bị sa thải sau khởi đầu tệ hại ở mùa giải 2012-13,[27] khi chỉ giành được bốn điểm sau 12 trận và câu lạc bộ đứng cuối Premier League bất chấp khoản đầu tư tài chính lớn vào cầu thủ mới trong 11 tháng Hughes cầm quân. Một ngày sau, Harry Redknapp được xác nhận là huấn luyện viên mới.[28] Ngày 28 tháng 4 năm 2013, trong trận hòa 0-0 trước đối thủ cạnh tranh trụ hạng là Reading, và khi mùa giải còn ba trận, QPR xuống hạng từ Premier League xuống Championship sau hai mùa giải ở hạng đấu cao nhất.[29]

Trong mùa giải 13-14, QPR đứng thứ tư tại Championship và giành quyền vào vòng play-off, nơi đội đánh bại Wigan Athletic ở bán kết. Trong trận chung kết gặp ứng cử viên nặng kí Derby County ngày 24 tháng 5 năm 2014, QPR thắng 1-0 nhờ bàn thắng ở phút 90 của Bobby Zamora, qua đó trở lại Premier League ngay trong lần nỗ lực đầu tiên.[30]

Sau khi thăng hạng trở lại Premier League, QPR trải qua một mùa giải 2014-15 đầy khó khăn. Harry Redknapp từ chức vào tháng 2 sau chuỗi kết quả nghèo nàn và sự thất vọng lẫn nhau với ban lãnh đạo. Ông được thay thế bởi Chris Ramsey. Câu lạc bộ kết thúc mùa giải ở vị trí cuối bảng, chỉ giành được 30 điểm, và xuống hạng trở lại Championship chỉ sau một mùa giải. Sau khởi đầu tệ hại ở mùa giải tiếp theo, Ramsey bị sa thải vào tháng 11 năm 2015 và cựu huấn luyện viên Neil Warnock trở lại trong vai trò tạm quyền. Ngày 4 tháng 12 năm 2015, Jimmy Floyd Hasselbaink được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của câu lạc bộ theo hợp đồng gia hạn từng giai đoạn.[31] Hasselbaink bị sa thải vào ngày 5 tháng 11 năm 2016, chỉ 11 tháng sau khi nhậm chức.[32] Sáu ngày sau đó, QPR tái bổ nhiệm Ian Holloway, người từng dẫn dắt đội mười năm trước.[33] Trong nhiệm kì thứ hai của mình, Holloway tập trung vào việc đưa các cầu thủ trẻ lên thay thế một số cầu thủ lớn tuổi trong đội hình với mức lương cao. Holloway trao cơ hội ra mắt cho các cầu thủ đội trẻ Eberechi EzeIlias Chair, đồng thời biến những cầu thủ trẻ khác như Darnell Furlong, Ryan ManningBright Osayi-Samuel thành những nhân tố chủ chốt của đội bóng. Kết quả trên sân dưới thời Holloway thiếu ổn định và câu lạc bộ đều kết thúc ở khu vực giữa nửa dưới bảng xếp hạng trong cả hai mùa giải của nhiệm kì thứ hai này. Holloway rời câu lạc bộ vào cuối mùa giải 2017-18.[34]

Ngày 17 tháng 5 năm 2018, QPR bổ nhiệm cựu huấn luyện viên Anh Steve McClaren làm huấn luyện viên.[35] Dù có nửa đầu mùa giải đầy hứa hẹn, khi đội từng đứng cao đến vị trí thứ tám vào dịp Giáng sinh, kết quả nhanh chóng sa sút sau bước sang năm mới và McClaren bị sa thải vào tháng 4 năm 2019 sau thất bại 1-2 trước Bolton.[36]

Giai đoạn tái thiết (thập niên 2020)

Câu lạc bộ tiếp tục xây dựng dựa trên quá trình phát triển tài năng trẻ, với trọng tâm là đào tạo thêm nhiều cầu thủ cây nhà lá vườn, và cạnh tranh suất thăng hạng trong cả ba mùa giải dưới quyền Mark Warburton. Tuy nhiên, đội đều không thể giành suất dự play-off ở bất cứ mùa nào.[cần dẫn nguồn] Hợp đồng của Warburton không được gia hạn sau mùa giải 2021-22, trong đó giai đoạn cuối mùa đáng thất vọng khiến Rangers rơi khỏi nhóm play-off, nơi đội đã hiện diện trong phần lớn mùa giải, và kết thúc ở vị trí thứ 11.[cần dẫn nguồn].

Trước thềm mùa giải 2022-23, cựu trợ lí huấn luyện viên của Aston Villa và huấn luyện viên đội một của RangersMichael Beale được bổ nhiệm làm huấn luyện viên theo hợp đồng ba năm vào ngày 1 tháng 6 năm 2022.[37][38] Chỉ hai tuần sau khi cam kết trung thành với câu lạc bộ, Beale nhận được lời tiếp cận từ câu lạc bộ Scotland Rangers, đội sau đó bổ nhiệm ông làm huấn luyện viên vào tháng 11 năm 2022.[39] Ngày 11 tháng 12 năm 2022, cựu huấn luyện viên Blackpool và trợ lí của Aston VillaNeil Critchley được bổ nhiệm làm huấn luyện viên QPR sau khi kí hợp đồng ba năm rưỡi.[40] Tuy nhiên, sau chuỗi phong độ tệ hại và việc tụt xuống vị trí thứ 20 tại EFL Championship, Neil Critchley bị sa thải chỉ sau 46 ngày cầm quân, rời đội với tỉ lệ thắng thấp nhất trong lịch sử các huấn luyện viên của câu lạc bộ, chỉ thắng một trong mười hai trận.[cần dẫn nguồn] Ông được thay thế bởi cựu cầu thủ Gareth Ainsworth, được đưa về từ Wycombe Wanderers.[41]

Sau khởi đầu nghèo nàn ở mùa giải 2023-24, Gareth Ainsworth bị sa thải khi câu lạc bộ đứng thứ 23 tại Championship, trước khi được thay thế bởi Martí Cifuentes.[42] Dù phải dành phần lớn mùa giải trong khu vực xuống hạng, Cifuentes đã xoay chuyển vận mệnh của đội, giúp đội trụ lại Championship bằng chiến thắng 4-0 trên sân nhà trước ứng cử viên thăng hạng Leeds United. Vào tháng 4 năm 2025, Cifuentes được cho nghỉ làm theo chế độ gardening leave và Kevin Betsy cùng Xavi Calm phụ trách trận cuối cùng của mùa giải. Cifuentes chia tay câu lạc bộ vào tháng 6 năm 2025 và được thay thế bởi Julien Stéphan.

Trang phục

Tập tin:QPRHomeKit2012-13.jpg
Áo đấu sân nhà của Queens Park Rangers FC ở mùa giải 2012-13
Giai đoạn Nhà sản xuất trang phục Nhà tài trợ áo đấu
1974-1975 Admiral Không có
1975-1976 Umbro
1976-1983 Adidas
1983-1986 Guinness
1986-1987 Blue*Star
1987-1989 Hà LanFly KLM
1989-1990 Influence
1990 Aug – 1990 Dec Influence Leisure
1990 Dec – 1991 Hà LanFly KLM
1991-1992 Brooks Brooks
1992-1993 Clubhouse Classic FM
1993-1994 CSF
1994-1995 Compaq
1995-1996 View From
1996-1997 Ericsson
1997-2001 Le Coq Sportif
2001-2003 JD Sports
2003-2006 Binatone
2006-2008 Cargiant.co.uk
2008-2011 Lotto GulfAir.com
2011-2012 Malaysia Airlines (sân nhà) và AirAsia (sân khách và bộ thứ ba)
2012-2014 AirAsia
2014-2016 Nike
2016-2017 Dryworld Smarkets
2017-2020 Erreà Royal Panda[43]
2020 BetUK.com
2020-2021 Football Index[44]
2021 Senate Bespoke
2021 Ashville Holdings[45]
2022-2024 Convivia[46]
2024- CopyBet[47]

Sân bãi

Queens Park Rangers đã có một lịch sử tồn tại khá phiêu bạt. Một số sân mà câu lạc bộ sử dụng trước năm 1886 hiện không rõ, nhưng có lẽ nằm trong khu vực Queen's Park của Luân Đôn (trong đó sân đầu tiên chính là The Queen's Park). Sau đó, câu lạc bộ thi đấu tại 15 địa điểm khác nhau ở tây London và tây bắc London, nhưng kể từ khi gia nhập the Football League vào năm 1920,[48] họ chỉ thi đấu trên hai sân là Loftus Road (trong thời gian ngắn được gọi là Kiyan Prince Foundation Stadium từ năm 2019 đến năm 2022) và White City Stadium.

Tập tin:Loftus Road before QPR vs Nottingham Forest, 27 tháng 11 năm 2019.jpg
Loftus Road là sân vận động của QPR trong phần lớn lịch sử câu lạc bộ
Các sân bãi của QPR kể từ khi trở thành chuyên nghiệp vào năm 1898, trải rộng trên ba London borough.
  1. ^ Các sân bãi tại Park Royal, London.

Đã từng có kế hoạch xây một sân vận động mới 40.000 chỗ ngồi mang tên New Queens Park; tuy nhiên, kế hoạch này đã bị gác lại khi câu lạc bộ chuyển sang hướng xây dựng một sân vận động 30.000 chỗ trên khu đất của Linford Christie Stadium. Câu lạc bộ cho rằng điều này sẽ mang lại cú hích tài chính lớn cho khu vực địa phương,[50] nhưng kế hoạch của họ đã vấp phải sự hoài nghi ban đầu[51] từ Hammersmith & Fulham Council.

QPR cũng đã vướng vào một cuộc chiến pháp lí kéo dài nhằm xây dựng sân tập tại Warren Farm[52]Southall. Vào tháng 11 năm 2018, các thẩm phán của Tòa án Tối cao đã bác đơn kháng cáo cuối cùng của các nhóm phản đối địa phương[53] đối với đề xuất này,[54] mở đường cho việc tái phát triển khu đất được bắt đầu. Tuy nhiên, vào ngày 6 tháng 5 năm 2020, câu lạc bộ chính thức từ bỏ kế hoạch xây sân tập tại Warren Farm và thay vào đó là kế hoạch phát triển địa điểm này thành một trung tâm thể thao cộng đồng, trong bối cảnh câu lạc bộ kí thỏa thuận không tiết lộ với một bên chưa được nêu tên liên quan đến quyền sở hữu lâu dài của một khu đất khác.[55][56] Ngày 6 tháng 7, có thông báo rằng câu lạc bộ đã chính thức bảo đảm quyền sở hữu lâu dài đối với Heston Sports Ground từ Imperial College, với ý định phát triển khu đất này thành sân tập cho câu lạc bộ, trong khi các cuộc thảo luận giữa câu lạc bộ và Hounslow Council vẫn đang tiếp diễn.[57][58]

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, câu lạc bộ nhận được giấy phép quy hoạch cho việc tái phát triển Heston Sports Ground thành một sân tập hiện đại, với điều kiện phải được chuyển hồ sơ lên Bộ trưởng. Câu lạc bộ nhận được sự ủng hộ chính thức từ Bộ trưởng vào ngày 27 tháng 9 năm 2021, cùng với giấy phép quy hoạch cuối cùng do Hounslow Council cấp, và công trình chính thức khởi công vào ngày 1 tháng 10 năm 2021.[59] Câu lạc bộ đặt mục tiêu chuyển đến cơ sở trị giá 20 triệu bảng này (trong đó 6,75 triệu bảng được huy động thông qua chương trình trái phiếu) vào đầu mùa giải 2022-23, với mốc hoàn thiện cuối cùng là mùa giải 2023-24.[60]

Vào tháng 6 năm 2019, câu lạc bộ đã trao quyền đặt tên sân vận động cho The Kiyan Prince Foundation, một tổ chức từ thiện địa phương do cha của Kiyan Prince thành lập. Prince là một cựu cầu thủ trẻ của QPR, người đã bị đâm chết vào năm 2006.[61][62] Ngày 25 tháng 5 năm 2022, câu lạc bộ thông báo tên sân sẽ trở lại là Loftus Road trước thềm mùa giải 2022-23.[63]

Cộng đồng cổ động viên và văn hóa câu lạc bộ

QPR có một cộng đồng người hâm mộ không quá đông nhưng trung thành, đến từ khắp tây London và các hạt lân cận. Câu lạc bộ có các hội cổ động viên trên khắp thế giới, bao gồm Cộng hòa Ireland, Hoa Kỳ, Australia, Na Uy và Sierra Leone. Tạp chí cổ động lâu đời nhất của câu lạc bộ là A Kick Up The R's, được phát hành hàng tháng từ tháng 8 năm 1987 và được bán ở cả các trận sân nhà lẫn sân khách.

QPR có những mối kình địch lâu năm với một số câu lạc bộ khác do vị trí của mình ở tây London. Đáng chú ý nhất trong số đó là trận derby tây London với Chelsea. Những mối kình địch khác bao gồm Brentford, Cardiff City, Millwall, FulhamLuton.

Những người hâm mộ QPR cuồng nhiệt nhất trong các trận sân nhà thường tập trung ở các khu Q, P và R, nơi họ thường chọn đứng và tạo ra các bài hát cổ động để phần còn lại của người hâm mộ tại Loft và khán đài Stanley Bowles hát theo.

Người hâm mộ Rangers đứng tại Loft End trước trận đấu với Luton Town năm 2022

Bài hát và khẩu hiệu cổ động

Khi câu lạc bộ giành chiến thắng trong trận chung kết League Cup năm 1967, câu lạc bộ đã phát hành đĩa đơn "QPR – The Greatest" về chiến thắng nổi tiếng đó, với phần giọng hát của cầu thủ chạy cánh Rangers Mark Lazarus.

Khi đội bước ra sân tại Loftus Road và khi đội ghi bàn, ca khúc Papa's Got a Brand New Pigbag của ban nhạc post-punk Pigbag được phát, và người hâm mộ hô "HOOPS" sau tiếng trumpet thứ năm.[64]

Tại các trận đấu, người hâm mộ Rangers hát những câu cổ động như "Come On You Rs", "We are the pride of West London, The Blue & The White", "Captain Jack" và "We Are the Rangers Boys".[65]=

Linh vật

Jude The Cat là linh vật hiện tại của QPR, được lấy cảm hứng từ một con mèo đen bắt đầu sống tại sân vận động vào thập niên 1990 và được huấn luyện viên khi đó là Gerry Francis xem là một nguồn may mắn cho đội bóng. Cả con mèo lẫn linh vật đều được đặt tên là 'Jude' để gợi nhắc tới cội nguồn của câu lạc bộ là St.Jude's Institute.[66]

Người hâm mộ nổi tiếng

QPR có một số người hâm mộ nổi tiếng, bao gồm diễn viên hài Bill Bailey, các nhạc sĩ Pete Doherty (người từng viết một tạp chí cổ động của QPR có tên All Quiet on the Western Avenue), Ian Gillan của Deep Purple, Robert Smith của The Cure, Mick Jones của The ClashGlen Matlock của The Sex Pistols; các chính trị gia Michael GoveAlan Johnson; diễn viên Martin Clunes; nhà làm phim tài liệu Louis Theroux, và cựu tuyển thủ cricket Anh Alex Tudor.[67]

Kỉ lục và thống kê

Tập tin:Christopher Samba 2012.jpg
QPR chiêu mộ Christopher Samba với mức phí kỉ lục câu lạc bộ là 12,5 triệu bảng từ Anzhi Makhachkala vào tháng 1 năm 2013, rồi bán anh trở lại với mức phí khi đó là kỉ lục bán ra của câu lạc bộ là 12 triệu bảng vào tháng 7
  • Số khán giả cao nhất: 41.097 tại White City Stadium trong trận gặp Leeds United ở một trận Cúp FA năm 1932.
  • (Loftus Road): 35.353 trước Leeds United, ngày 27 tháng 4 năm 1974, Division 1
  • Số khán giả cao nhất toàn chỗ ngồi: 19.002 trước Manchester City, ngày 6 tháng 11 năm 1999, Division 1
  • Chiến thắng đậm nhất tại giải vô địch: 9-2 trước Tranmere Rovers, ngày 3 tháng 12 năm 1960, Division 3
  • Thất bại đậm nhất tại giải vô địch: 1-8 trước Manchester United, ngày 19 tháng 3 năm 1969, Division 1
  • Thất bại sân nhà đậm nhất: 0-6 trước Newcastle United, ngày 13 tháng 9 năm 2016
  • Cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều lần nhất: Alan McDonald, 52 lần, Bắc Ireland
  • Cầu thủ ra sân nhiều nhất tại giải vô địch: Tony Ingham, 519 trận, 1950-63
  • Cầu thủ lớn tuổi nhất: Ray Wilkins, 39 tuổi 352 ngày, ngày 1 tháng 9 năm 1996, Division 1
  • Cầu thủ trẻ tuổi nhất: Frank Sibley, 15 tuổi 275 ngày
  • Nhiều bàn thắng nhất tại giải vô địch trong một mùa giải: George Goddard, 37 bàn, Division 3 South, 1929-30
  • Nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải: Rodney Marsh, 44 bàn (30 tại giải vô địch, 3 tại Cúp FA, 11 tại League Cup) mùa giải 1966-67
  • Nhiều bàn thắng nhất tại giải vô địch trong toàn bộ sự nghiệp tại câu lạc bộ: George Goddard, 174 bàn, 1926-34
  • Nhiều bàn thắng nhất trên mọi đấu trường trong toàn bộ sự nghiệp tại câu lạc bộ: George Goddard, 186 bàn, 1926-34
  • Kỉ lục phí chuyển nhượng thu về: 19,5 triệu bảng từ Crystal Palace cho Ebere Eze, tháng 8 năm 2020
  • Kỉ lục phí chuyển nhượng chi ra: 12,5 triệu bảng cho Christopher Samba từ Anzhi Makhachkala, tháng 1 năm 2013

QPR tại châu Âu

Lần đầu tiên QPR bước ra đấu trường châu Âu là khi giành quyền tham dự Cúp UEFA 1976-77, vào tới tứ kết, nơi họ bị AEK Athens loại sau loạt sút luân lưu. Câu lạc bộ cũng giành quyền tham dự Cúp UEFA 1984-85, nhưng bị loại ở vòng Hai bởi Partizan Belgrade.

Cầu thủ

Đội hình đội một

Tính đến 18 tháng 3 năm 2026[68]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Pháp Paul Nardi
2 HV Úc Kealey Adamson
3 HV Cộng hòa Ireland Jimmy Dunne (đội trưởng)
5 HV Anh Steve Cook
6 HV Anh Jake Clarke-Salter
7 TV Anh Karamoko Dembélé
10 TV Maroc Ilias Chair
11 TV Bắc Ireland Paul Smyth
13 TM Anh Joe Walsh
14 TV Nhật Bản Kōki Saitō
15 TV Jamaica Isaac Hayden
16 Jamaica Rumarn Burrell
17 TV Ghana Kwame Poku
18 HV Wales Rhys Norrington-Davies (mượn từ Sheffield United)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
20 TV Cộng hòa Ireland Harvey Vale
21 TV Anh Kieran Morgan
22 Bờ Biển Ngà Richard Kone
23 Úc Daniel Bennie
24 TV Đan Mạch Nicolas Madsen
26 Algérie Rayan Kolli
27 HV Sénégal Amadou Mbengue
28 HV Brasil Esquerdinha
29 TM Anh Ben Hamer
34 TV Anh Elijah Dixon-Bonner
37 HV Anh Ronnie Edwards
38 HV Pháp Ziyad Larkeche
40 TV Martinique Jonathan Varane
46 Trinidad và Tobago Justin Obikwu

Cho mượn

Tính đến 27 tháng 3 năm 2026[69]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
4 HV Scotland Liam Morrison (cho Aberdeen mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
8 TV Anh Sam Field (cho Norwich mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
9 Slovenia Žan Celar (cho Fortuna Düsseldorf mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
19 HV Séc Timothy Akindileni (cho Morecambe mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
36 TV Anh Emmerson Sutton (cho Harrogate Town mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
42 TV Wales Alfie Tuck (cho Farnborough mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
43 HV Anh Jaiden Putman (cho Bath City mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
44 HV Anh Alex Wilkie (cho Chippenham Town mượn đến ngày 26 tháng 4 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
51 HV Anh Jake Leahy (cho Hungerford Town mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
TM Anh Murphy Cooper (cho Sheffield Wednesday mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
TM Anh Joel Halliday (cho Wingate & Finchley mượn đến ngày 14 tháng 4 năm 2026)
HV Anh Gabriel Cuthbert (cho Uxbridge mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
HV Anh Jack McDowell (cho Bracknell Town mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
HV Brasil Hevertton Santos (cho Gil Vicente mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
Anh Alfie Lloyd (cho Lincoln City mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
Anh Rohan Vaughan (cho Dartford mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)

Các đội phát triển

Đội phát triển

Tính đến 27 tháng 3 năm 2026

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
25 TV Úc Jaylan Pearman
30 HV Cộng hòa Nam Phi Tylon Smith
32 TM Brasil Matteo Salamon
35 TM Anh Charlie Warren
41 HV Scotland Noah McCann
45 Cộng hòa Ireland Cian Dillon
48 TV Thụy Điển Isak Alemayehu
Số VT Quốc gia Cầu thủ
HV Anh Kobe Agbude
HV Scotland Rocco Friel
HV Úc Christian Pullella
TV Anh Jake Coomes
TV Anh Kaleb Dyke
TV Anh Archie O'Brien

Đội hình U-18

Tính đến 18 tháng 3 năm 2026[70]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
33 Anh Ridwan Hassan
39 TV Anh Teddy Tarbotton
50 TV Bermuda Kalen Brunson
55 Colombia Ashley Trujillo
TM Anh Alfie Fittall
TM Anh Kasey Taylor
HV Ghana Cory Adjetey-Brew
HV Nigeria Isaiah Balogun
HV Anh Nkhai Majesty
HV Anh Shaquille Sandiford
HV Anh Mason Skeete
HV Wales Charlie Street
TV Cộng hòa Ireland Harvey Boddy
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV Anh Giovanni Ikoroha
TV Anh Rico Kennedy
TV Scotland James McAvoy
TV Anh Kyreece Moore
TV Anh Fraser Neill
TV Kosovo Enis Neziri
TV Anh Philip Sanyaolu
TV Wales Leon Scarlett
TV Anh Thomas Wiles
Anh Kemuel Edouard-Marisson
Anh Gabriel Oluwabusola
Cộng hòa Ireland Joshua Wright

Các cựu cầu thủ nổi bật

Số áo treo vĩnh viễn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
31 Anh Ray Jones (2006-2007) vinh danh sau khi qua đời

Cầu thủ xuất sắc nhất năm của người hâm mộ QPR

Năm Người chiến thắng Vị trí
1992-93 Anh Andy Impey Tiền vệ
1993-94 Anh Andy Impey Tiền vệ
1994-95 Anh Andy Impey Tiền vệ
1995-96 Không trao giải
1996-97 Không trao giải
1997-98 Wales Karl Ready Hậu vệ
1998-99 Jamaica Danny Maddix Hậu vệ
1999-00 Anh Stuart Wardley Hậu vệ
2000-01 Anh Peter Crouch Tiền đạo
2001-02 Anh Terrell Forbes Hậu vệ
 
Năm Người chiến thắng Vị trí
2002-03 Anh Kevin Gallen Tiền đạo
2003-04 Cộng hòa Ireland Martin Rowlands Tiền vệ
2004-05 Anh Paul Furlong Tiền đạo
2005-06 Nigeria Danny Shittu Hậu vệ
2006-07 Anh Lee Cook Tiền vệ
2007-08 Cộng hòa Ireland Martin Rowlands Tiền vệ
2008-09 Jamaica Damion Stewart Hậu vệ
2009-10 Argentina Alejandro Faurlín Midfielder
2010-11 Cộng hòa Ireland Paddy Kenny Thủ môn
2011-12 Anh Clint Hill Hậu vệ
 
Năm Người chiến thắng Vị trí
2012-13 Anh Clint Hill Hậu vệ
2013-14 Anh Charlie Austin Tiền đạo
2014-15 Anh Charlie Austin Tiền đạo
2015-16 Anh Grant Hall Hậu vệ
2016-17 Anh Alex Smithies Thủ môn
2017-18 Úc Massimo Luongo Tiền vệ
2018-19 Anh Luke Freeman Tiền vệ
2019-20 Anh Eberechi Eze Tiền vệ
2020-21 Anh Rob Dickie Hậu vệ
2021-22 Anh Chris Willock Tiền vệ
 
Năm Người chiến thắng Vị trí
2022-23 Anh Sam Field Tiền vệ
2023-24 Anh Steve Cook Hậu vệ
2024-25 Cộng hòa Ireland Jimmy Dunne Hậu vệ

Nguồn: Myfootballfacts.com Lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2023 tại Wayback Machine

Đội hình tiêu biểu mọi thời đại của Queens Park Rangers FC

Đội hình tiêu biểu số một mọi thời đại của Queens Park Rangers F.C.

Người hâm mộ Queens Park Rangers đã được mời bỏ phiếu cho đội hình mạnh nhất mọi thời đại của họ vào năm 2008.

Cập nhật ngày 14 tháng 5 năm 2019.[35][71][72][73][74][75]

Ban điều hành câu lạc bộ

Nhân sự hiện tại

Cập nhật ngày 10 tháng 8 năm 2023.[71]

Ban chuyên môn bóng đá

Chức vụ Tên Quốc tịch
Huấn luyện viên trưởng Julien Stéphan  France
Trợ lí huấn luyện viên trưởng Alou Diarra  France
Huấn luyện viên đội một Steve Bould  England
Huấn luyện viên thủ môn Andrew Sparkes  Wales
Giám đốc thành tích Ben Williams  England
Quản lí trang phục Gary Doyle  England

Hội đồng quản trị và ban quản lí cấp cao

Chức vụ Tên Quốc tịch
Chủ sở hữu Ruben Gnanalingam  Malaysia
Lakshmi Mittal và gia đình  India
Richard Reilly Tập tin:Flag of the United States.svg United States
Chủ tịch Lee Hoos Tập tin:Flag of the United States.svg United States
Thành viên hội đồng quản trị Ruben Gnanalingam  Malaysia
Amit Bhatia  India
Richard Reilly Tập tin:Flag of the United States.svg United States
Lee Hoos Tập tin:Flag of the United States.svg United States
Giám đốc điều hành Christian Nourry  England
Giám đốc tài chính Ruban Ghandi  Malaysia
Giám đốc thương mại Euan Inglis  Scotland
Trưởng bộ phận truyền thông và giao tiếp Paul Morrissey  England
Trưởng bộ phận vận hành Joshua Scott  England
Giám đốc điều hành QPR in the Community Trust Andy Evans  England
Đại sứ câu lạc bộ Andy Sinton  England
Thư kí bóng đá Terry Springett  England
Giám đốc học viện Alex Carroll  England

Lịch sử huấn luyện viên

Tính đến 26 tháng 2 năm 2026

Mười huấn luyện viên chính thức gần nhất của QPR:

Tên QT Từ Đến Thời gian dẫn dắt Tr Th H B % thắng[A] Danh hiệu và/hoặc ghi chú Tham khảo
Chris Ramsey Anh Anh 12 tháng 2 năm 2015 4 tháng 11 năm 2015 206 ngày &0000000000000030.00000030 &0000000000000008.0000008 &0000000000000006.0000006 &0000000000000016.00000016 &0000000000000026.70000026.7 [76]
Jimmy Floyd Hasselbaink Hà Lan Hà Lan 4 tháng 12 năm 2015 5 tháng 11 năm 2016 337 ngày &0000000000000038.00000038 &0000000000000011.00000011 &0000000000000015.00000015 &0000000000000012.00000012 &0000000000000028.90000028.9 [77]
Ian Holloway Anh Anh 11 tháng 11 năm 2016 10 tháng 5 năm 2018 1 năm, 180 ngày &0000000000000080.00000080 &0000000000000026.00000026 &0000000000000014.00000014 &0000000000000040.00000040 &0000000000000032.50000032.5
Steve McClaren Anh Anh 18 tháng 5 năm 2018 1 tháng 4 năm 2019 Error: Need valid year, month, day &0000000000000046.00000046 &0000000000000016.00000016 &0000000000000009.0000009 &0000000000000021.00000021 &0000000000000034.80000034.8 [78]
Mark Warburton Anh Anh 8 tháng 5 năm 2019 1 tháng 6 năm 2022 Error: Need valid year, month, day &0000000000000150.000000150 &0000000000000056.00000056 &0000000000000035.00000035 &0000000000000059.00000059 &0000000000000037.30000037.3 [79]
Michael Beale Anh Anh 1 tháng 6 năm 2022 28 tháng 11 năm 2022 Error: Need valid year, month, day &0000000000000022.00000022 &0000000000000009.0000009 &0000000000000005.0000005 &0000000000000008.0000008 &0000000000000046.20000040.9 [37]
Neil Critchley Anh Anh 11 tháng 12 năm 2022 19 tháng 2 năm 2023 Error: Need valid year, month, day &0000000000000007.00000012 &0000000000000001.0000001 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000005 &0000000000000006.0000006 &0000000000000014.3000008.33 Tỉ lệ thắng thấp nhất trong số mọi huấn luyện viên chính thức của QPR. [80]
Gareth Ainsworth Anh Anh 21 tháng 2 năm 2023 29 tháng 10 năm 2023 Error: Need valid year, month, day &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000028 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000005 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000004 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000019 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000017.85 [81]
Martí Cifuentes Tây Ban Nha Tây Ban Nha 30 tháng 10 năm 2023 24 tháng 6 năm 2025 2 năm, 283 ngày &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000082 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000028 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000023 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000031 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000034.14 [82]
Julien Stéphan Pháp Pháp 25 tháng 6 năm 2025 Nay 1 năm, 45 ngày &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000036 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000013 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000008 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000015 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.00000036.11 [83]

Quyền sở hữu và tài chính

Doanh nhân người Anh trong lĩnh vực âm nhạc, truyền thông và thể thao Chris Wright mua lại QPR vào năm 1996, rồi cuối cùng từ bỏ cổ phần chi phối của mình vào năm 2001 sau khi đã đầu tư 20 triệu bảng vào Loftus Road trong năm năm trước đó; câu lạc bộ gặp khó khăn tài chính và rơi vào tình trạng quản lí tài sản ngay trong năm đó.[84][85] Sau các cuộc đàm phán kéo dài vào tháng 12 năm 2004, Wright đồng ý bán nốt 15% cổ phần còn lại của mình; 50% số tiền được trả cho ông được hoàn lại cho QPR, đây là một khoản tiền rất quan trọng đối với câu lạc bộ.[86]

Sau nhiều năm khó khăn tài chính, trong đó có một giai đoạn bị quản lí tài sản, QPR được các ông trùm Formula One và triệu phú Bernie Ecclestone cùng Flavio Briatore mua lại trong thương vụ trị giá 14 triệu bảng vào tháng 8 năm 2007. Khi chi ra 690.000 bảng để mua 69% cổ phần chi phối của câu lạc bộ từ một tập đoàn có trụ sở tại Monaco do người đại diện bóng đá Ý Antonio Caliendo đứng đầu, Ecclestone chi 150.000 bảng cho 15% cổ phần của mình, còn Briatore mua 54% với giá 540.000 bảng thông qua một công ty đăng kí tại Quần đảo Virgin thuộc Anh, Sarita Capital. Ngoài ra, Briatore và Ecclestone được cho là đã hứa cung cấp các khoản vay chuyển đổi trị giá 5 triệu bảng để hỗ trợ mua cầu thủ và đã gánh 13 triệu bảng nợ, nâng tổng cam kết với câu lạc bộ lên khoảng 20 triệu bảng. Tại thời điểm mua lại, 31% cổ đông còn lại đã từ chối lời đề nghị 1 xu mỗi cổ phiếu.[87]

Ngày 20 tháng 12 năm 2007, có thông báo rằng gia đình tỉ phú Lakshmi Mittal đã mua 20% cổ phần của câu lạc bộ từ Flavio Briatore. Giá mua cho 20% cổ phần này chỉ là 200.000 bảng. Trong khuôn khổ khoản đầu tư, con rể của Lakshmi Mittal là Amit Bhatia có một ghế trong hội đồng quản trị.[88] Trong khi Gianni Paladini vẫn giữ vai trò chủ tịch câu lạc bộ bóng đá, Alejandro Agag, với tư cách chủ tịch của QPR Holdings (công ty mẹ), mới là chủ tịch thực quyền,[87] cho đến khi ông được thay bằng Flavio Briatore vào đầu tháng 2 năm 2008.[89] Agag chuyển sang vai trò giám đốc điều hành, với Ali Russell — người chuyển đến từ HeartsScottish Premier League — làm phó giám đốc điều hành hỗ trợ.[89]

Mặc dù tình hình tài chính của QPR trong mùa giải 2007-08 khá nguy hiểm, tổng tài sản cá nhân kết hợp của các ông chủ mới của câu lạc bộ — trong đó có Lakshmi Mittal, người giàu thứ tám thế giới vào thời điểm đó — đã làm dấy lên suy đoán rằng QPR sẽ nhận được thêm những khoản đầu tư đáng kể từ các nhà bảo trợ giàu có mới, khiến người ta liên tưởng tới những hàng xóm giàu có cùng ở tây London là ChelseaFulham.[90] Tuy nhiên, ngoài số vốn được bơm vào khi mua cổ phần, không có nguồn quĩ lớn nào khác thực sự được cấp cho câu lạc bộ, và phần lớn hoạt động chuyển nhượng cầu thủ sau đó liên quan đến các thương vụ mượn hoặc chuyển nhượng tự do. Thật vậy, vào tháng 1 năm 2008 có tin rằng các nhà đầu tư vẫn chưa thanh toán khoản vay 10 triệu bảng từ ABC Corporation — được bảo đảm bằng chính sân vận động của câu lạc bộ — cùng với khoản lãi hằng năm 1 triệu bảng, bất chấp doanh thu hằng năm dự kiến của câu lạc bộ vào khoảng 10-15 triệu bảng. Hơn nữa, khoảng 2 triệu bảng vẫn còn nợ cựu giám đốc kiêm cổ đông lớn Antonio Caliendo, người đã xóa 4,5 triệu bảng tiền vay khi Briatore và Ecclestone mua câu lạc bộ. Khi đó người ta dự đoán khoản vay của ABC sẽ được thanh toán vào tháng 6 năm 2008 khi đáo hạn, còn khoản nợ với Caliendo sẽ được trả "vào đầu năm 2008" theo một chiến lược tài chính mà Ecclestone công khai tuyên bố sẽ không biến việc các ông chủ giàu có chỉ đơn giản là bơm tiền nuôi câu lạc bộ.[90] Trên thực tế, khoản vay của ABC đã được thanh toán vào hoặc khoảng ngày 31 tháng 7 năm 2008.[91]

Người ta cho rằng khoản đầu tư của Mittal chủ yếu được thúc đẩy bởi mối quan tâm của con rể ông, và Mittal bản thân được giả định sẽ là một nhà đầu tư im lặng, trong khi Briatore, Ecclestone và Bhatia cùng nhau triển khai chiến lược từ từ xây dựng câu lạc bộ trước khi hướng tới mục tiêu thăng hạng Premier League vào năm 2009. Các ông chủ mới cũng cam kết cải tạo Loftus Road và tận dụng kinh nghiệm của họ trong Formula One để tăng doanh thu tài trợ.[87] Ngày 25 tháng 3 năm 2008, QPR xác nhận rằng từ mùa giải 2008-09 và trong năm mùa giải tiếp theo, trang phục của họ sẽ do Lotto Sport Italia cung cấp trong khuôn khổ một số quan hệ đối tác mới do Flavio Briatore thiết lập.[92] Tiềm lực đầu tư của các nhà hậu thuẫn mới của câu lạc bộ đã dẫn tới một loạt câu chuyện đồn đoán rất mạnh trên báo chí bóng đá trong suốt mùa giải 2007-08, bao gồm cả các tin đồn về việc chiêu mộ những cựu Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFALuís FigoZinedine Zidane, trong đó người sau còn được nhắc đến như một ứng viên huấn luyện viên.[93]

Vào tháng 5 năm 2008, tỉ phú Vijay Mallya được liên hệ với việc mua cổ phần tại câu lạc bộ, như một phần của liên danh Ecclestone, Briatore và Mittal.[cần dẫn nguồn] Sau khi các hợp đồng tài trợ của câu lạc bộ với Car Giant, Le Coq SportifSellotape chấm dứt vào cuối mùa giải 2007-08, vào đầu tháng 7 năm 2008 người ta chờ đợi thông báo rằng Gulf Air sẽ trở thành nhà tài trợ áo đấu mới trong ba năm.[94] Nhiều gói tài trợ khác cũng được công bố, trong đó có Abbey Financial ServicesLotto Sport Italia.[95] Ngày 12 tháng 9 năm 2011, Malaysia AirlinesAirAsia công bố tài trợ áo đấu của QPR trong hai mùa giải, với giá trị tài trợ vào khoảng 6,2 triệu bảng.[96]

Tập tin:Tony Fernandes.jpg
Tony Fernandes là chủ tịch của Queens Park Rangers

Tương lai của Flavio Briatore trên cương vị chủ tịch QPR bị đặt dấu hỏi vào tháng 9 năm 2009 sau khi ông rời đội đua Renault F1 giữa bối cảnh cáo buộc dàn xếp tai nạn.[97][98] Ban quản trị Football League đã thảo luận vấn đề này vào ngày 8 tháng 10 năm 2009 và tuyên bố rằng họ sẽ chờ phản hồi của Briatore cho nhiều câu hỏi trước khi đưa ra bình luận tiếp theo.[99] Trong lúc đó, câu lạc bộ tiếp tục thua lỗ (18,8 triệu bảng trong mùa giải 2008-09 và 13,7 triệu bảng trong mùa giải 2009-10). Briatore bán 62% cổ phần của mình cho Ecclestone vào tháng 12 năm 2010, trong đó người Ý có thể vẫn giữ quyền ưu tiên mua lại nếu Ecclestone bán cổ phần, và ban đầu lùi khỏi việc điều hành thường nhật để nhường chỗ cho Amit Bhatia và Ishan Saksena, lần lượt giữ chức chủ tịch công ty và giám đốc điều hành. Tuy nhiên, ảnh hưởng của ông dần quay trở lại, và xung đột giữa Briatore với Bhatia và Saksena ở phía bên kia đã khiến cả Bhatia lẫn Saksena rời QPR vào tháng 5 năm 2011.[100]

Ngày 18 tháng 8 năm 2011, doanh nhân Malaysia Tony Fernandes được công bố là cổ đông chi phối sau khi mua lại 66% cổ phần của Ecclestone trong câu lạc bộ với mức giá được đồn đoán khoảng 35 triệu bảng, trong khi gia đình Mittal vẫn giữ lại 33% cổ phần. Amit Bhatia được khôi phục vào vị trí phó chủ tịch.[101] Phillip Beard được công bố là giám đốc điều hành mới của câu lạc bộ, còn Gianni Paladini bị loại khỏi vị trí chủ tịch câu lạc bộ. Briatore và Ecclestone không còn liên quan đến câu lạc bộ nữa, không có đại diện trong hội đồng quản trị cũng như không còn ràng buộc tài chính khác. Bhatia cũng giải thích trong thông báo tiếp quản rằng khoản vay đại diện cho món nợ ABC Corporation đã được tái cấp vốn, được bảo đảm bằng sân vận động của câu lạc bộ, nay đã được chế độ sở hữu mới "mua lại" — tức được tái cấp vốn bằng khoản nợ mới. Người ta cho rằng khoản nợ hiện tại được thể hiện dưới dạng khoản vay cổ đông cho câu lạc bộ và không tính lãi.[102] Dù câu lạc bộ đã thành công trong việc thu hút nhà đầu tư, đội bóng vẫn tiếp tục chìm trong các tranh cãi từ những chế độ sở hữu trước đó và đã phải đối mặt với các thủ tục pháp lí từ các cựu nhà đầu tư Dunga và Antonio Caliendo.[103][104]

Ngày 15 tháng 8 năm 2018, Bhatia tiếp quản vị trí chủ tịch câu lạc bộ.[105] Ngày 10 tháng 7 năm 2023, Fernandes thông báo rằng ông sẽ thoái toàn bộ cổ phần tại câu lạc bộ để tập trung vào việc tái thiết doanh nghiệp hàng không của mình.[106]

Danh hiệu

Lưu ý: các giải đấu và hạng đấu của bóng đá Anh đã thay đổi phần nào theo thời gian, vì vậy ở đây chúng được nhóm theo cấp độ tương ứng của chúng trong Hệ thống giải bóng đá Anh vào thời điểm các danh hiệu được giành để giúp việc so sánh thành tích được dễ dàng hơn

Nguồn:[107]

Giải vô địch

Cúp

Danh hiệu nhỏ

  • Bruges Matins: 1977
  • Division 1966-67 Three South (North Region): 1945-46
  • Wartime League South B: 1939-40
  • Á quân West London Challenge Cup: 1890-91
  • West London Observer Cup: 1891-92, 1892-93
  • London Cup: 1895
  • London Challenge Cup
    • Vô địch: 1932-33, 1938-39, 1955-56, 1965-66
  • Southern Charity Cup: 1913
  • Copa De Ibiza: 2005
  • Trofeo Bortolotti: 2011
  • Dryworld Cup: 2016

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ "Queens Park Rangers". The Football League. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2013.
  2. ^ "QPR History in 125 years". Brent & Kilburn Times (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2023.
  3. ^ "Our History – Key dates". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2016.
  4. ^ "The Football Field". The Manchester Guardian. ngày 4 tháng 2 năm 1900. tr. 4.
  5. ^ History of QPR website: qprland.larsnorlin.se/blogg/qprland/qprland.html
  6. ^ Inglis, Simon (1996) [1985]. Football Grounds of Britain (ấn bản thứ 3). London: CollinsWillow. tr. 305-6. ISBN 978-0-00-218426-7.
  7. ^ Alec Stock Obituary Lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2008 tại Wayback Machine tại QueensParkRangersFC.com
  8. ^ "The Independent". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2007.
  9. ^ "Francis resigns as manager of QPR". The Guardian. ngày 16 tháng 2 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2025.
  10. ^ "QPR suspend Foxes target Holloway". BBC Sport. ngày 6 tháng 2 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2025.
  11. ^ "QPR boss recalls gunpoint threats". BBC News. ngày 8 tháng 5 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2012.
  12. ^ Roberts, Geneviève. "Boy, 15, stabbed to death outside school". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2008.
  13. ^ "QPR's Ray Jones dies in car crash". BBC Sport. ngày 25 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2019.
  14. ^ "Formula One Bosses Confirm Deal for QPR". CNBC. ngày 3 tháng 9 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2025.
  15. ^ Wade, Alex (ngày 11 tháng 2 năm 2008). "QPR fans give thanks a billion times over". The Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2008.
  16. ^ "QPR bring in Dowie as new coach". BBC Sport. ngày 14 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2008.
  17. ^ "Dowie targets the Premier League". BBC Sport. ngày 20 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  18. ^ "QPR part company with boss Dowie". BBC Sport. ngày 24 tháng 10 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2008.
  19. ^ "Sousa is new QPR first team coach". BBC Sport. ngày 19 tháng 11 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2008.
  20. ^ "Club statement". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009.
  21. ^ Jackson, James. "QPR suspend Jim Magilton after row with Akos Buzsaky". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2021.
  22. ^ Baldwin, Alan (ngày 16 tháng 12 năm 2009). Linden, Julian (biên tập). "Magilton leaves QPR after reported bust-up". Reuters. London. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2025.
  23. ^ Fifield, Dominic (ngày 16 tháng 12 năm 2009). "Paul Hart set to join QPR as Jim Magilton's departure is confirmed". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2025.
  24. ^ "Watford 0-2 QPR". BBC Sport. ngày 30 tháng 4 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011.
  25. ^ Ashdown, John (ngày 7 tháng 5 năm 2011). "Joy and relief for QPR after FA clear the path to promotion". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011.
  26. ^ McNulty, Phil (ngày 13 tháng 5 năm 2012). "Man City snatch dramatic Premier League victory". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2012.
  27. ^ "Mark Hughes Sacked". Thesackrace.com. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
  28. ^ "QPR: Harry Redknapp takes over as manager". BBC Sport. ngày 24 tháng 11 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012.
  29. ^ James, Stuart (ngày 28 tháng 4 năm 2013). "Reading and QPR relegated from Premier League after goalless draw". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2014.
  30. ^ Moore, Glenn (ngày 24 tháng 5 năm 2014). "QPR promoted to the Premier League: Bobby Zamora's £80m goal seals play-off victory for Rangers". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2014.
  31. ^ "Jimmy Floyd Hasselbaink: QPR appoint Burton manager as boss". BBC Sport. ngày 4 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2023.
  32. ^ "Jimmy Floyd Hasselbaink sacked as Queens Park Rangers manager". BBC Sport. ngày 5 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2016.
  33. ^ "Ian Holloway: QPR reappoint ex-Crystal Palace & Blackpool boss". BBC Sport. ngày 11 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2016.
  34. ^ "Manager Ian Holloway departs QPR". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. ngày 10 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2018.
  35. ^ a b "Steve McClaren named new QPR manager". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
  36. ^ "Steve McClaren: QPR sack ex-England manager after less than year in charge". BBC Sport. ngày 1 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2019.
  37. ^ a b Webb, Matt (ngày 1 tháng 6 năm 2022). "Michael Beale named QPR head coach". QPR (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2022.
  38. ^ "Aston Villa confirm Michael Beale departure". Aston Villa Football Club. ngày 1 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2022.
  39. ^ "Beale appointed new Rangers manager on a contract to 2026". Reuters. ngày 28 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2023.
  40. ^ Morrissey, Paul (ngày 11 tháng 12 năm 2022). "Neil Critchley named QPR head coach". Queens Park Rangers. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2023.
  41. ^ "Gareth Ainsworth: QPR appoint Wycombe boss as head coach; Matt Bloomfield to be Wanderers boss". BBC Sport. ngày 21 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2023.
  42. ^ "Marti Cifuentes: QPR appoint Hammarby boss as new head coach". BBC Sport. ngày 30 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2023.
  43. ^ Royal Panda signs three-year QPR shirt sponsorship deal Lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2022 tại Wayback Machine RoyalPanda.com. 22 tháng 7 năm 2017.
  44. ^ "Football Index confirmed as new shirt sponsors". QPR. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2020.
  45. ^ "Ashville Holdings confirmed as new shirt sponsor". QPR. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2021.
  46. ^ "Convivia announced as new shirt sponsor of QPR Football Club". Business Leader. ngày 27 tháng 6 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2022.
  47. ^ "2024/25 home kit unveiled". QPR. ngày 25 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  48. ^ "QPR: A Potted History". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2014.
  49. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p Bản mẫu:Chú thích báopaper The Times
  50. ^ "New QPR stadium could generate £60m a year for local area, report finds". West London Sport. ngày 20 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  51. ^ "Council point finger at QPR's owners over stadium campaign". West London Sport. ngày 22 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  52. ^ "QPR's seven-year battle for a training ground at Warren Farm: a timeline". West London Sport. ngày 1 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  53. ^ "Save Warren Farm". savewarrenfarm.com. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  54. ^ "Supreme Court rejects appeal against QPR training ground". West London Sport. ngày 1 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  55. ^ "Community sports facilities commitment for Warren Farm". QPR (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2020.
  56. ^ Pitcher, Greg (ngày 13 tháng 5 năm 2020). "QPR scraps Populous training ground plans". The Architects' Journal (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2021.
  57. ^ "QPR exchanges contracts on new training ground". QPR (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2020.
  58. ^ Collings, Simon (ngày 6 tháng 7 năm 2020). "New QPR training ground a step closer as club exchanges contracts". Evening Standard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2021.
  59. ^ "Planning permission approved for new training ground". Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2021.
  60. ^ "QPR obtain planning permission for Heston redevelopment". QPR (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2021.
  61. ^ "Kiyan Prince Foundation: QPR's stadium being renamed". BBC Sport. ngày 9 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2021.
  62. ^ "QPR's Loftus Road becomes The Kiyan Prince Foundation Stadium". The Stadium Business. ngày 7 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2021.
  63. ^ "QUEENS Park Rangers Football Club can confirm the name of our home stadium will return to Loftus Road ahead of the 2022/23 campaign". QPR. ngày 25 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2022.
  64. ^ "73 QPR Musical History". www.footballandmusic.co.uk. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2012.
  65. ^ "73 Queens Park Rangers songs, QPR football chants lyrics". www.fanchants.com. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2012.
  66. ^ FC, QPR. "Official website of Queens Park Rangers for the latest news from Loftus Road". QPR FC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2026.
  67. ^ "5 CELEBRITIES YOU MAY NOT HAVE KNOWN WERE QPR FANS". footballleagueworld.co.uk. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2012.
  68. ^ "First Team". Queens Park Rangers F.C. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2024.
  69. ^ "QPR Loan Review". QPR. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2025.
  70. ^ "Under-18s". Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024.
  71. ^ a b "QPR Contacts and Directory". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012.
  72. ^ "Matt Gardiner joins QPR backroom team". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
  73. ^ "QPR welcome new Head Physio". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
  74. ^ "Mark Warburton named QPR manager". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2019.
  75. ^ "Mark Warburton adds Neil Banfield to backroom team". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2019.
  76. ^ Smith, Ben (ngày 13 tháng 2 năm 2015). "QPR: Chris Ramsey named manager until end of season". BBC Sport. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015.
  77. ^ "Jimmy Floyd Hasselbaink: QPR appoint Burton manager as boss". BBC. ngày 4 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2015.
  78. ^ "Steve McClaren named new QPR manager". QPR.
  79. ^ "Mark Warburton to take charge at QPR". Sky Sports. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2019.
  80. ^ "Neil Critchley named QPR head coach". Queens Park Rangers FC. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2023.
  81. ^ "Gareth Ainsworth is back". Queens Park Rangers FC. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2023.
  82. ^ "Martí Cifuentes arrives as QPR head coach". Queens Park Rangers FC. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2023.
  83. ^ "Julien Stéphan named QPR Head Coach". Queens Park Rangers FC. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  84. ^ "QPR put into administration". BBC Sport. ngày 2 tháng 4 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2016.
  85. ^ Clark, Andrew (ngày 3 tháng 4 năm 2001). "Wright dumps QPR into financial relegation zone". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2016.
  86. ^ "QPR strike deal with Wright". BBC Sport. ngày 30 tháng 12 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2016.
  87. ^ a b c Bond, David (ngày 10 tháng 1 năm 2008). "QPR tycoons hesitate on spending spree". The Daily Telegraph. London. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008.[liên kết hỏng]
  88. ^ "QPR secure huge investment boost". BBC. ngày 20 tháng 12 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2007.
  89. ^ a b "Briatore is QPR Holdings chairman". BBC. ngày 4 tháng 2 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2008.
  90. ^ a b Garside, Kevin (ngày 21 tháng 12 năm 2007). "Lakshmi Mittal pushes QPR up the rich list". The Daily Telegraph. London. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008.
  91. ^ "QPR complete payment of £10m loan". BBC Sport. ngày 5 tháng 8 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2008.
  92. ^ "CLUB STATEMENT: QPR & LOTTO SPORT ITALIA". QPR Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2008.
  93. ^ "Figo dismisses QPR move rumours". BBC Sport. ngày 18 tháng 3 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2008.
  94. ^ "New soccer strip". Gulf Daily News.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2008.
  95. ^ QPR signs Abbey as its financial partner Lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2022 tại Wayback Machine, Marketing Week, 19 tháng 6 năm 2008
  96. ^ Mas unveils QPR deal Lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2011 tại Wayback Machine, The Star (Malaysia), 15 tháng 9 năm 2011
  97. ^ "Briatore's QPR role in spotlight". BBC Sport. ngày 17 tháng 9 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2009.
  98. ^ Kempson, Russell; Jacob, Gary (ngày 17 tháng 9 năm 2009). "'Crashgate' could force QPR to find new owner". The Times. UK. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2009.
  99. ^ "Briatore's QPR fate put on hold". BBC Sport. ngày 8 tháng 10 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2009.
  100. ^ The Four Year Plan: The QPR documentary explained by director Mat Hodgson Lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2016 tại Wayback Machine. YouTube (13 tháng 5 năm 2012). Retrieved on 14 tháng 7 năm 2013.
  101. ^ "Lotus boss Tony Fernandes completes QPR takeover". BBC News. ngày 18 tháng 8 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2011.
  102. ^ McIntyre, David (ngày 18 tháng 8 năm 2011). "Change had to happen – Bhatia". West London Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2011.
  103. ^ "Ex-Brazil coach Dunga issues legal claim over QPR loan". BBC Sport. ngày 14 tháng 8 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2011.
  104. ^ Smith, Rory (ngày 10 tháng 2 năm 2010). "FA asked to investigate QPR sale to Flavio Briatore". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2011.
  105. ^ Scriven, David (ngày 15 tháng 8 năm 2018). "Amit Bhatia appointed new chairman of QPR". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2018.
  106. ^ "Tony Fernandes Disposes of All Shares in QPR, To Focus on Rebuilding Airline Business". BERNAMA (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2023.
  107. ^ "History". QPR.co.uk. Queens Park Rangers FC. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2017.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Queens Park Rangers F.C.

Bản mẫu:Bernie Ecclestone Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).