San Diego Padres
San Diego Padres là một câu lạc bộ bóng chày chuyên nghiệp Hoa Kỳ có trụ sở tại San Diego, California, và là thành viên phân khu miền Tây của chi giải National League (NL) tại Hệ thống giải bóng chày nhà nghề Mỹ (MLB). Đội thi đấu trên sân nhà tại sân vận động Petco Park ở trung tâm thành phố San Diego. Được thành lập với tư cách thành viên mới của giải vào năm 1969, Padres lấy tên từ đội bóng tại Giải bờ biển Thái Bình Dương (PCL) có mặt tại San Diego từ năm 1936. Biệt danh có nghĩa là "các cha xứ" trong tiếng Tây Ban Nha của đội và tiền thân nhằm tôn vinh các tu sĩ dòng Phanxicô, những người đã thành lập Giáo xứ San Diego de Alcalá vào năm 1769.
| San Diego Padres | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Tập tin:Baseball current event.svg San Diego Padres mùa giải 2026 | |||||
| Thành lập năm 1969 | |||||
| |||||
| Giải đấu | |||||
| |||||
| Đồng phục hiện nay | |||||
| Số áo kỷ niệm | |||||
| Màu áo | |||||
| Tên gọi | |||||
| |||||
| Tên gọi khác | |||||
| |||||
| Sân vận động | |||||
| |||||
| Danh hiệu lớn | |||||
| World Series (0) | Không có | ||||
| Vô địch NL (2) | |||||
| Bảng miền Tây (5) | |||||
| Suất wild card (4) | |||||
| Ban điều hành | |||||
| Chủ sở hữu | José E. Feliciano | ||||
| Huấn luyện viên | Craig Stammen | ||||
| Giám đốc | A. J. Preller | ||||
| Chủ tịch điều hành bóng chày | A. J. Preller | ||||
Năm 1976, Randy Jones trở thành cầu thủ Padres đầu tiên giành được giải thưởng Cy Young. Vào những năm 1980, Tony Gwynn đã vươn lên trở thành một ngôi sao lớn, với tám danh hiệu quán quân đánh bóng của National League (NL). Dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Dick Williams, Padres giành được chức vô địch NL đầu tiên, nhưng lại để thua Detroit Tigers trong loạt World Series năm 1984 với tỷ số 5 trận. Năm 1996, dưới sự điều hành của tân giám đốc Kevin Towers, Ken Caminiti trở thành cầu thủ Padres đầu tiên giành được giải thưởng MVP. Năm 1998, Padres giành được chức vô địch NL thứ hai với ngôi sao giao bóng tiếp sức là Trevor Hoffman, nhưng đã bị New York Yankees vùi dập không gỡ tại World Series.
Đội Padres thuộc sở hữu của gia đình Peter Seidler, chủ sở hữu CLB từ năm 2012 cho đến khi qua đời vào năm 2023. Như đã nói trên, đội đã giành được hai chức vô địch NL, vào năm 1984 và 1998, nhưng đều thất bại tại World Series; và cùng với đội đồng lứa Milwaukee Brewers là những đội lâu đời nhất chưa từng vô địch World Series. Tính đến mùa giải 2025, Padres đã có 19 mùa giải thắng lợi (tỷ lệ thắng trận trên .500) trong lịch sử câu lạc bộ, và dù đã lọt vào vòng play-off sáu lần từ năm 2005 đến năm 2025, đội vẫn chưa thể trở lại World Series. Từ năm 1969 đến năm 2025, Padres có tổng thành tích là 4,217 thắng – 4,789 bại – 2 hòa ( ,468 ).[3]
Lịch sử
Đội Padres lấy biệt danh từ đội bóng cùng tên của giải Pacific Coast League (PCL), một đội bóng đến San Diego vào năm 1936 và đã giành chức vô địch PCL năm 1937, với công lớn thuộc về huyền thoại Ted Williams, người San Diego, khi đó mới 18 tuổi.
Năm 1969, Padres được thành lập và trở thành một trong bốn thành viên mới của hệ thống Giải bóng chày nhà nghề Mỹ (MLB), cùng với Montreal Expos (nay là Washington Nationals), Kansas City Royals và Seattle Pilots (nay là Milwaukee Brewers).
Một trong những chủ sở hữu đầu tiên của đội là C. Arnholt Smith, một doanh nhân nổi tiếng ở San Diego với kinh nghiệm sở hữu đội Padres tại PCL. Mặc dù có khởi đầu lạc quan trong cấu trúc điều hành, với các giám đốc kỳ cựu như Eddie Leishman và Buzzie Bavasi, cùng với một sân vận động mới, đội bóng vẫn chật vật khi đứng cuối bảng trong sáu mùa giải đầu tiên tại bảng miền Tây NL, bốn trong số đó thua từ 100 trận trở lên. Một trong số ít điểm sáng của đội trong những năm đầu là cầu thủ chơi ở vị trí chốt một và tay đánh bóng hạng nặng Nate Colbert, một tân binh được chọn từ đội Houston Astros trong đợt tuyển quân mở rộng và là người nắm kỷ lục CLB về số home run ghi được trong thời gian dài cho đến khi bị Manny Machado vượt qua năm 2024.
Đội dần cải thiện được thành tích thi đấu khi họ giành được 5 chức vô địch miền Tây National League và hai lần lọt vào World Series, vào các năm 1984 và năm <span typeof="mw:Transclusion" data-mw="{"parts":[{"template":{"target":{"wt":"Wsy","href":"./Bản_mẫu:Wsy"},"params":{"1":{"wt":"1998"}},"i":0}}]}"></span> nhưng đều thất bại. Ngôi sao lớn nhất của của Padres trong những năm 1980 và 1990 là huyền thoại Tony Gwynn, người đã giành được 8 danh hiệu quán quân đánh bóng của NL. Họ chuyển đến sân nhà hiện tại là Petco Park, vào năm 2004.
Vào ngày 20 tháng 8 năm 2020, Padres trở thành đội đầu tiên trong lịch sử MLB ghi được cú grand slam trong bốn trận liên tiếp, và qua đó được người hâm mộ phong cho biệt danh "Slam Diego Padres".[4]
Padres đã là đội cuối cùng trong MLB không có cầu thủ nào ném được trận no-hit, khi phải chờ tới ngày 9 tháng 4 năm 2021, khi Joe Musgrove đạt được thành tích này trước Texas Rangers.[5] Trước đó vào ngày 5 tháng 9 năm 1997, Andy Ashby đã suýt ném được trận no-hit trước khi hỏng ăn tại hiệp thứ chín.[6] Năm 2024, Dylan Cease đã ném được trận no-hit thứ hai của CLB trước Nationals vào ngày 25 tháng 7.[7]
Vào ngày 14 tháng 11 năm 2023, Peter Seidler, chủ sở hữu Padres từ năm 2012, qua đời ở tuổi 63.[8][9] Giới chủ sở hữu MLB đã chấp thuận chuyển giao quyền sở hữu CLB về tay con ông là John Seidler vào ngày 6 tháng 2 năm 2025. [10] Tháng 4 năm 2026, một thỏa thuận bán quyền sở hữu Padres cho José E. Feliciano với giá 3,9 tỷ đô la đã được hoàn tất.[11]
Vào ngày 2 tháng 5 năm 2026, CLB Padres thông báo đã được bán cho Feliciano và Kwanza Jones, và hiện đang chờ cuộc họp tiếp theo của giới chủ tại MLB dự kiến diễn ra vào tháng 6 để hoàn tất phê duyệt chuyển giao.[12]
Thành tựu nổi bật
Những người được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Quốc gia
- Cầu thủ và huấn luyện viên được in đậm được tạc chân dung tại Đại sảnh với mũ mang phù hiệu của San Diego Padres.
- * San Diego Padres được liệt là đội chính của cầu thủ theo trang web của Đại sảnh Danh vọng
Số áo treo
|
Sảnh danh vọng
16 cá nhân sau đây đã được vinh danh vào Sảnh Danh vọng San Diego Padres kể từ khi thành lập vào năm 1999.[15]
| Ghi danh năm | Tên | Vị trí | Năm | Số áo | Chú thích |
|---|---|---|---|---|---|
| 1999 | Randy Jones | P | 1973–1980 | 35^ | |
| Nate Colbert | 1B | 1969–1974 | 17 | ||
| Ray Kroc† | Chủ sở hữu | 1974–1984 | – | ||
| 2000 | Dave Winfield* | OF | 1973–1980 | 31^ | |
| 2001 | Buzzie Bavasi | Giám đốc điều hành | 1969–1977 | – | |
| Jerry Coleman | Phát thanh viên / HLV trưởng | 1972–2013 | 2 | ||
| 2002 | Tony Gwynn* | OF | 1982–2001 | 19^ | |
| 2009 | Dick Williams* | HLV trưởng | 1982–1985 | 23 | |
| 2014 | Trevor Hoffman* | Pitcher | 1994–2008 | 51^ | |
| 2015 | Benito Santiago | C | 1986-1992 | 9, 09 | |
| Garry Templeton | SS | 1982–1991 | 1 | ||
| 2016 | Ted Williams†* | OF | 1936–1937[21] | 19 | |
| Ken Caminiti† | 3B | 1995–1998 | 21 | ||
| 2017 | Jack McKeon | Giám đốc điều hành / HLV trưởng | 1980–1990 | 15 | |
| 2018 | Kevin Towers† | Giám đốc điều hành | 1995–2009 | — | |
| 2022 | Larry Lucchino | Chủ tịch / CEO | 1995–2001 | — | [25] |
| Ted Leitner | BLV | 1980–2020 | — | ||
| 2023 | Jake Peavy | P | 2002–2009 | 44 | [26] |
| John Moores | Chủ sở hữu | 1994–2009 | — |
{{#section-h:San Diego Padres Hall of Fame|Inductees}}
Sảnh những nhà vô địch San Diego
Gwynn, Winfield, Fingers, Gossage, Randy Jones và Graig Nettles (3B, 1984–1987) là thành viên của Sảnh những nhà vô địch San Diego, nơi dành cho các vận động viên sinh ra tại khu vực San Diego (như Nettles) cũng như những người từng thi đấu cho các đội thể thao tại San Diego (như Gwynn).
Hệ thống dự bị hạng dưới
| Lớp học | Đội | Liên minh | Vị trí | Sân bóng chày | Liên kết |
|---|---|---|---|---|---|
| AAA | El Paso Chihuahuas | Pacific Coast League | El Paso, Texas | Southwest University Park | 2014 |
| AA | San Antonio Missions | Texas League | San Antonio, Texas | Sân vận động thành phố Nelson W. Wolff | 2021 |
| High-A | Fort Wayne TinCaps | Midwest League | Fort Wayne, Indiana | Parkview Field | 1999 |
| A | Lake Elsinore Storm | California League | Lake Elsinore, California | Sân bóng chày Lake Elsinore | 2001 |
| Tân binh | ACL Padres | Giải khu phức hợp Arizona | Peoria, Arizona | Khu liên hợp thể thao Peoria | 2021 |
| DSL Padres Brown | Giải mùa hè Dominica | Boca Chica, Santo Domingo | Khu phức hợp San Diego Padres | 2023 | |
| DSL Padres Gold |
Đối thủ
Phân khu
Los Angeles Dodgers
Lịch sử đối đầu giữa Padres và Los Angeles Dodgers từ trước tới nay thường nghiêng hẳn về phía LA; tuy nhiên, sự trỗi dậy mạnh mẽ của hai đội trong những năm 2020 đã làm tăng thêm sự căng thẳng, cộng thêm khoảng cách địa lý rất gần giữa Los Angeles và San Diego (từ sân vận động Dodger đến sân Petco chỉ cách nhau một đoạn cao tốc liên bang số 5). Người hâm mộ San Diego thường có ác cảm với Los Angeles, một phần là do San Diego là nơi đã không thể giữ chân nhiều đội thể thao chuyên nghiệp như Chargers và Clippers, và mất những đội này vào tay thành phố Los Angeles do nguồn tài chính ổn định hơn. Sau khi Chargers chuyển đến Los Angeles vào năm 2017, Padres trở thành đội duy nhất trong bốn giải đấu thể thao nhà nghề còn trụ tại thị trường San Diego, khiến ác cảm của người hâm mộ San Diego đối với thể thao Los Angeles nói chung càng gia tăng. Dodgers hiện đang có ưu thế đối đầu với tỷ số 504–412, và cả hai đội đã gặp nhau ba lần ở vòng loại trực tiếp (Los Angeles thắng tại NLDS năm 2020 và năm 2024, trong khi San Diego thắng năm 2022). Ngoài sân cỏ, hai đội cũng cạnh tranh gay gắt không kém, khi cả hai đội đã tích cực tranh giành trên thị trường chuyển nhượng tự do để đem về nhiều cầu thủ ngôi sao, bao gồm cả một thỏa thuận trao đổi để có được sự phục vụ của Juan Soto.[27]
Liên giải
Seattle Mariners (Cúp Vedder)
Mối kình địch bất thường nay giữa Padres và Seattle Mariners của American League (AL)[28] được chỉ định là một trong 15 "mối kình địch tự nhiên" khi giải đấu bắt đầu áp dụng thi đấu liên giải vào năm 1997 và hai đội đã thi đấu với nhau hàng năm kể từ đó, ngoại trừ năm 2017.[29][30]
Thoạt nhìn, dường như không có lí do cạnh tranh gay gắt thực sự nào giữa hai đội, vì cả hai thi đấu ở các chi giải khác nhau và khoảng cách giữa hai thành phố không gần (1.250 dặm, ở hai đầu bắc nam bờ tây Hoa Kỳ). Tuy nhiên, họ cùng sử dụng một cơ sở tập huấn mùa xuân ở Peoria, Arizona,[31] và thường xuyên tranh nhau để giành quyền chọn các cầu thủ trẻ cả trong vào ngoài draft với chung đặc điểm thành tích tệ hại tại vòng play-off.[32][33] Tuy nhiên thay vì là một mối thâm thù, mối kình địch này được các đội và hầu hết người hâm mộ nhìn nhận nhẹ nhàng và khôi hài.[34][35]
Cuộc đối đầu này từ lâu đã được gọi không chính thức là Cúp Vedder theo tên của thủ lĩnh ban nhạc Pearl Jam là Eddie Vedder, người coi cả Seattle và San Diego là quê hương của mình, dù bản thân là một fan cuồng của đội Chicago Cubs.[36][37][38] Bắt đầu từ năm 2025, tên gọi trên được chính thức công nhận, với người chiến thắng của loạt trận trong mùa giải được trao một chiếc cúp do chính Vedder thiết kế.[39][40][41][42][43]
Ghi chú
- ^ Tên gọi bao gồm SVĐ San Diego (1967 - 1980), SVĐ Jack Murphy (1980 - 1997), và SVĐ Qualcomm từ năm 1997 đến 2017.
Tài liệu tham khảo
- ^ Cassavell, AJ (ngày 9 tháng 11 năm 2019). "Padres unveil new uniforms: 'Brown is back'". Padres.com. MLB Advanced Media. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2019.
- ^ Landers, Chris (ngày 11 tháng 2 năm 2020). "Feast your eyes on each uniform change for '20". MLB.com. MLB Advanced Media. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2020.
After nearly three decades in various forms of navy blue, San Diego is going back to its roots -- while also looking forward, updating its classic look with a shimmering gold that pops against a deep, rich shade of brown.
- ^ "San Diego Padres Team History & Encyclopedia". Baseball Reference. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Padres hit four grand slams in four games". MLB.com. ngày 20 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Musgrove makes history, spins SD's 1st no-no". MLB.com. MLB Advanced Media. ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Ashby No-Hitter Foiled in Ninth". Los Angeles Times. ngày 6 tháng 9 năm 1997. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2021.
- ^ "'Magnificent' Cease spins 2nd no-hitter in Padres history". MLB.com. MLB Advanced Media. ngày 25 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2024.
- ^ Acee, Kevin (ngày 14 tháng 11 năm 2023). "Padres Chairman Peter Seidler dies at 63". San Diego Union Tribute. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2023.
- ^ O'Neill, Shaun (ngày 14 tháng 11 năm 2023). "Padres mourn passing of owner Peter Seidler". MLB.com-Padres. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2023.
- ^ Castillo, Jorge (ngày 6 tháng 2 năm 2025). "MLB owners approve John Seidler as Padres' new control person". Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2025.
- ^ Gonzalez, Alden (ngày 17 tháng 4 năm 2026). "Source: Padres finalizing sale for MLB-record $3.9 billion". ESPN.com. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2026.
- ^ Cassavell, AJ (ngày 2 tháng 5 năm 2026). "Padres announce agreement to sell team to Kwanza Jones, José E. Feliciano". MLB.com. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2026.
- ^ a b c d e "Dressed to the Nines". National Baseball Hall of Fame and Museum. Lưu trữ bản gốc 25/4/2015.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|archive-date=(trợ giúp) - ^ Chass, Murray (ngày 14 tháng 4 năm 2001). "Winfield Chooses Padres Over Yanks". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2015.
- ^ "Padres Hall of Fame". Padres.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
- ^ a b c d e f "Padres Hall of Fame".
- ^ "Dave Winfield Returns to San Diego".
- ^ Center, Bill (August 9, 2009).
- ^ Wood, Matthew (August 5, 2014).
- ^ a b Lin, Dennis (July 9, 2015).
- ^ Thi đấu cho đội Padres tại PCL, chứ chưa bao giờ thi đấu cho CLB Padres hiện tại
- ^ a b Acee, Kevin (June 30, 2016).
- ^ Sanders, Jeff (March 29, 2017).
- ^ Sanders, Jeff (March 20, 2018).
- ^ "Padres announce Class of 2022 Hall of Fame inductees" (Press release).
- ^ Cassavell, AJ (March 22, 2023).
- ^ "San Diego Padres trade for Washington Nationals slugger Juan Soto". ESPN.com. ngày 2 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2022.
- ^ "Western Front: A Brief History of the Vedder Cup". ngày 12 tháng 6 năm 2012.
- ^ Togerson, Derek (ngày 30 tháng 5 năm 2016). "How the Vedder Cup Came to Be". NBC San Diego.
- ^ "Mariners "Heating Up" the Rivalry". Gaslamp Ball. SB Nation. ngày 14 tháng 3 năm 2013.
- ^ "Power Ranking Every 'Hometown' Interleague Rivalry". Bleacher Report.
- ^ "Devils Talking Padres – Padres drop series to Dodgers, return home for Vedder Cup". East Village Times. ngày 4 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Padres Head to Seattle For Vedder Cup". Friars on base. ngày 12 tháng 5 năm 2015.
- ^ Gorra, Jeff (ngày 3 tháng 6 năm 2016). "The Legacy of the Vedder Cup". Artist Waves.
- ^ Muck, Jeremy (ngày 5 tháng 3 năm 2015). "Vedder Cup has finally gotten some Intrigue!". nwaonline.com.
- ^ "Unlike past years, 'Vedder Cup' series between M's and Padres will have intrigue". ngày 3 tháng 3 năm 2015.
- ^ "The Rotation: A History of the Vedder Cup, Baseball's Strangest Rivalry". ngày 24 tháng 5 năm 2019.
- ^ Brock, Corey; Lin, Dennis (ngày 20 tháng 4 năm 2020). "A Vedder Cup unlike any other: Simming the 2022 World Series". The Athletic. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2025.
- ^ Stumbaugh, Julia. "Padres, Mariners to Compete in MLB's Vedder Cup; Trophy Designed by Pearl Jam Singer". Bleacher Report. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Introducing the Vedder Cup". MLB.com.
- ^ "Who's the 'Better Man'? Mariners, Padres make Vedder Cup official". MLB.com.
- ^ "Padres drop Game 1 of Vedder Cup to Mariners". ngày 16 tháng 5 năm 2025.
- ^ "The Rotation: A History of the Vedder Cup, Baseball's Strangest Rivalry". ngày 24 tháng 5 năm 2019.
Đọc thêm
- Papucci, Nelson (2002). The San Diego Padres, 1969–2002: A Complete History. Big League Press. ISBN 9780971946606.
- Mitchell, Jane (2010). One on One: My Journey with Hall of Famers, Fan Favorites, and Rising Stars. SDP Publishing Solutions. ISBN 978-0-9824461-7-1.
Liên kết ngoài
| Giải thưởng và thành tích | ||
|---|---|---|
| Tiền nhiệm Philadelphia Phillies 1983 |
Vô địch National League 1984 |
Kế nhiệm St. Louis Cardinals 1985 |
| Tiền nhiệm Florida Marlins 1997 |
Vô địch National League 1998 |
Kế nhiệm Atlanta Braves 1999 |