Miami Marlins
| Miami Marlins | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Thành lập năm 1993 | |||||
| |||||
| Giải đấu | |||||
| |||||
| Đồng phục hiện nay | |||||
| Số áo kỷ niệm | 42 | ||||
| Màu áo | |||||
| Tên gọi | |||||
| Tên gọi khác | |||||
| |||||
| Sân vận động | |||||
| |||||
| Danh hiệu lớn | |||||
| World Series (2) | |||||
| Vô địch NL (2) | |||||
| Bảng miền Đông (0) | None | ||||
| Suất wild card (4) | |||||
| Ban điều hành | |||||
| Chủ sở hữu | Bruce Sherman | ||||
| Huấn luyện viên | Clayton McCullough | ||||
| Giám đốc | Gabe Kapler | ||||
| Chủ tịch điều hành bóng chày | Peter Bendix | ||||
Miami Marlins là một câu lạc bộ bóng chày chuyên nghiệp Hoa Kỳ có trụ sở tại Miami. Marlins là thành viên khu vực miền Đông của chi giải National League (NL) tại Giải bóng chày nhà nghề Mỹ (MLB). Câu lạc bộ thi đấu trên sân nhà tại sân vận động LoanDepot Park.
Được thành lập với tư cách là một đội thành viên mới kể từ mùa giải 1993 với tên gọi Florida Marlins, đội Marlins ban đầu lấy sân nhà tại Sân vận động Joe Robbie chung với đội Miami Dolphins của Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia (NFL). Vào năm 2012, câu lạc bộ chuyển đến sân nhà riêng đầu tiên của họ tại sân LoanDepot Park (bấy giờ được gọi là Marlins Park).[4][5] Thể theo một phần của thỏa thuận sử dụng sân LoanDepot với chủ sở hữu sân là chính quyền quận Miami-Dade, đội bóng đã đổi tên thành Miami Marlins trước thềm mùa giải 2012.[6]
Với thành tích 2,382 thắng – 2,792 bại (,460), Marlins có tỷ lệ thắng thấp thứ hai và có số lần tham dự vòng play-off ít nhất (bốn) trong số các câu lạc bộ MLB hiện đang hoạt động.[7] Mặc dù vậy, Marlins đã giành chức vô địch World Series trong hai lần tham dự vòng playoff đầu tiên vào các năm 1997 và 2003. Trong đó, chỉ có ba cầu thủ đã có mặt trong cả hai lần CLB vô địch World Series: Jeff Conine, Luis Castillo và Rick Helling (Conine và Castillo còn là những cầu thủ duy nhất từng có 1000 trận ra sân cho Marlins).[8]
Cả bốn lần xuất hiện ở vòng play-off của Marlins đều với tư cách là đội wild card. Do đó, Marlins là một trong hai đội bóng MLB (cùng với Colorado Rockies) chưa từng giành được chức vô địch miền, cũng như là đội bóng duy nhất chưa từng xuất hiện ở vòng playoff hai mùa liên tiếp. Marlins là đội đầu tiên giành chức vô địch World Series với tư cách là đội wild card.[9]
Số áo duy nhất được treo vĩnh viễn của đội là số 42 của Jackie Robinson, vốn là số được treo vĩnh viễn trên toàn giải đấu.[a] Tuy nhiên, số 16 cũng đã không còn được sử dụng kể từ khi José Fernández qua đời vào năm 2016, và CLB đã từng có ý định treo số áo này.
Sự cạnh tranh
Citrus Series
Do yếu tố địa lý, Tampa Bay Rays được xem là đội kình địch của Miami Marlins tại giai đoạn thi đấu liên giải. Tampa Bay hiện đang có lợi thế đối đầu với thành tích 81 thắng – 60 thua trước Marlins.[10]
Các chức vô địch World Series
Đội Marlins đã vô địch World Series vào các năm 1997 và 2003, nhưng theo sau cả hai danh hiệu đều là những động thái gây tranh cãi khi CLB lập tức bán tháo tất cả các cầu thủ đắt giá và xây dựng lại đội hình với mục đích tiết kiệm quỹ lương. Hai lần vô địch World Series trên cũng đánh dấu lần duy nhất họ tham dự vòng play-off trong giai đoạn từ năm 2003 đến 2019. Ba lần lọt vào vòng play-off và bảy mùa giải thắng lợi là con số thấp nhất trong số các câu lạc bộ MLB.
Mặc dù chưa từng vô địch bảng miền, Florida Marlins là câu lạc bộ duy nhất lọt vào vòng play-off và vô địch World Series ngay trong hai mùa giải đầu tiên thắng nhiều hơn thua.
Số áo lưu niệm
|
Sảnh danh vọng các huyền thoại Marlins
Vào ngày 9 tháng 2 năm 2025, Marlins đã công bố thành lập Sảnh Danh vọng Huyền thoại, nơi vinh danh các cựu cầu thủ, huấn luyện viên, quản lý và nhân viên đã có những thành tựu và đóng góp quan trọng cho đội bóng và cộng đồng tại Nam Florida. Lứa ghi danh Sảnh Danh vọng đầu tiên năm 2025 gồm bốn thành viên, mỗi người được vinh danh vào những thời điểm khác nhau trong mùa giải.[11]
| Năm | Năm được vinh danh |
|---|---|
| In đậm | Thành viên của Đại sảnh Danh vọng Quốc gia |
| Thành viên của Đại sảnh Danh vọng với tư cách là cầu thủ của đội Marlins | |
| In đậm | Được trao tặng Giải thưởng Ford C. Frick của Đại sảnh Danh vọng |
| Đại sảnh danh vọng của các huyền thoại Marlins | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Năm | KHÔNG. | Tên | Chức vụ | Nhiệm kỳ | Ngày |
| 2025 | 34, 1 | Luis Castillo | 2B | 1996–2005 | 24 tháng 8 năm 2025 |
| 18, 19 | Jeff Conine | 1B/LF | 1993–1997
|
30 tháng 3 năm 2025 | |
| 10 | Jim Leyland | HLV | 1997–1998 | 6 tháng 7 năm 2025 | |
| 15, 25 | Jack McKeon | HLV | 2003–2005
|
3 tháng 8 năm 2025 | |
| 2026 | 61, 21 | Josh Beckett | P | 2001–2005 | 6 tháng 9 năm 2026 |
| 35 | Dontrelle Willis | P | 2003–2007 | 13 tháng 9 năm 2026 | |
Đối tác dự bị hạng dưới
| Lớp học | Đội | Liên minh | Vị trí | Sân bóng chày | Liên kết |
|---|---|---|---|---|---|
| AAA | Jacksonville Jumbo Shrimp | International League | Jacksonville, Florida | VyStar Ballpark | 2009 |
| AA | Pensacola Blue Wahoos | Southern League | Pensacola, Florida | Blue Wahoos Stadium | 2021 |
| High-A | Beloit Sky Carp | Midwest League | Beloit, Wisconsin | ABC Supply Stadium | 2021 |
| A | Jupiter Hammerheads | Florida State League | Jupiter, Florida | Roger Dean Chevrolet Stadium | 2002 |
| Tân binh | FCL Marlins | Florida Complex League | 1992 | ||
| DSL Marlins | Dominican Summer League | Boca Chica, Santo Domingo | Academia de Prospecto Complex | 1993 | |
| DSL Miami | 2022 |
Văn hoá
Năm 1989, phim Trở về tương lai phần II có nhắc đến việc đội Chicago Cubs đánh bại một đội bóng chày đến từ Miami trong World Series 2015, chấm dứt cơn khát danh hiệu vô địch dài nhất trong cả bốn giải đấu thể thao nhà nghề Bắc Mỹ.[12] Trên thực tế, Cubs đã bị New York Mets đánh bại trong bốn trận ở chung kết National League (NLCS), còn Marlins không lọt vào vòng play-off, và chức vô địch World Series năm 2015 thuộc về Kansas City Royals sau khi đánh bại Mets trong năm ván đấu. Ngoài ra, vì cả Cubs và Marlins đều thuộc National League, việc hai đội này gặp nhau tại World Series là điều không thể.
Marlins là đội đầu tiên trong Giải bóng chày Major League có đội hoạt náo viên. Ra mắt vào năm 2003 với tên gọi "Marlins Mermaids", đội hoạt náo của Marlins đã dẫn tới các đội MLB khác phát triển các đội cổ động của riêng họ.[13] Năm 2008, Florida Marlins ra mắt "The Marlins Manatees ", đội hoạt nào toàn nam đầu tiên tại MLB, xuất hiện cùng đội Mermaids.[14] Tính đến năm 2012, Marlins đã từ bỏ mô hình hoạt náo "Mermaids" và "Manatees", và thay vào đó sử dụng một đội hoạt náo hỗn hợp nam nữ.[15] Năm 2019, Marlins đã đưa Mermaids trở lại lần đầu tiên kể từ năm 2012.
Tài liệu tham khảo
- ^ Frisaro, Joe (ngày 15 tháng 11 năm 2018). "Marlins unveil club's new logo, colors". MLB.com. MLB Advanced Media. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2018.
- ^ "A new look, a new style, a new vision: introducing our colores -- the next-generation identity of the Miami Marlins". Marlins.com (Thông cáo báo chí). MLB Advanced Media. ngày 15 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2018.
- ^ "Marlins 2019 Uniforms". Marlins.com. MLB Advanced Media. ngày 16 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2022.
- ^ Frisaro, Joe (ngày 27 tháng 9 năm 2011). "Sun to set on Sun Life Stadium". MLB Advanced Media. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2015.
- ^ Tompkins, Wayne (ngày 24 tháng 5 năm 2007). "Commissioners OK plan to have Marlins change name, spring-training site". Miami Today. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2018.
- ^ Frisaro, Joe (ngày 10 tháng 11 năm 2011). "New name, but deep-rooted tradition in Miami". MLB.com. MLB Advanced Media. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2011.
- ^ "Miami Marlins Team History & Encyclopedia". Baseball-Reference.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
- ^ Navarro, Manny; Fernandez, Andre (ngày 26 tháng 5 năm 2020). "Which Florida Marlins World Series-championship team is better: 1997 or 2003?". The New York Times.
- ^ "Miami Marlins Franchise Timeline 1990s". Miami Marlins. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2022.
- ^ "mcubed.net : MLB : Series records : Miami Marlins against Tampa Bay Rays". Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2014.
- ^ De Nicola, Christina (ngày 9 tháng 2 năm 2025). "4 World Series champs named to inaugural Marlins Legends Hall of Fame class". MLB.com. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2025.
- ^ Oz, Mike (ngày 10 tháng 12 năm 2014). "Reminder: The Cubs won the 2015 World Series in 'Back to the Future 2'". Yahoo! Sports. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2015.
- ^ Goodnough, Alex (ngày 18 tháng 10 năm 2003). "For Marlins, Bandwagon Fills Up Fast". The New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2024.
- ^ Rocco, Claudia La (ngày 30 tháng 3 năm 2008). "The Manatees - Baseball - Dance". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2019.
- ^ McCorquodale, Amanda (ngày 13 tháng 1 năm 2012). "Marlins Mermaids Replaced By 'Energy Team'?". HuffPost. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2018.
Ghi chú
- ^ Marlins ban đầu treo vĩnh viễn số áo 5 cho chủ tịch đầu tiên của CLB là Carl Barger, người đã qua đời sau khi qua đời vì đột quỵ sau Đại hội mùa đông năm 1992. Theo CLB Marlins, số áo 5 nhằm vinh danh cầu thủ yêu thích của Barger là Joe DiMaggio, nhưng sau đó câu lạc bộ đã quyết định thay đổi hình thức vinh danh Barger bằng một bức phù điêu tại sân nhà mới LoanDepot. Bản thân số áo 5 đã được sử dụng trở lại, bắt đầu từ Logan Morrison vào năm 2012.
Liên kết ngoài
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Website chính thức không có trên Wikidata
- Đội của Major League Baseball
- Grapefruit League
- Miami Marlins
- Trang sử dụng bản mẫu nhiều hình với các hình được chia tỷ lệ tự động
- Đội thể thao Miami
- Bóng chày Florida
- Đội của National League