Bước tới nội dung

Soyuz TMA-04M

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Soyuz TMA-04M
Tập tin:Soyuz TMA-04M spacecraft departs from the ISS a.jpg
Soyuz TMA-04M rời khỏi ISS
Nhà đầu tưRoscosmos
COSPAR ID2012-022A
Số SATCAT38291
Thời gian nhiệm vụ124 ngày, 23 giờ và 51 phút
Quỹ đạo đã hoàn thành~1,945[1]
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Dạng thiết bị vũ trụSoyuz-TMA 11F747
Nhà sản xuấtEnergia
Phi hành đoàn
Quy mô phi hành đoàn3
Thành viênGennady Padalka
Sergei Revin
Joseph M. Acaba
Tín hiệu gọiAltair
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóng15 tháng 5 năm 2012, 03:01:23 UTC[2][3]
Tên lửaSoyuz-FG
Địa điểm phóngBaikonur 1/5
Kết thúc nhiệm vụ
Ngày hạ cánh17 tháng 9 năm 2012, 02:53 UTC[4]
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếuQuỹ đạo Trái Đất
Chế độQuỹ đạo Trái Đất tầm thấp
Cận điểm410 kilômét (250 mi)
Viễn điểm433 kilômét (269 mi)
Độ nghiêng51.64 độ
Chu kỳ92.86 phút
Kỷ nguyên17 tháng 9 năm 2012, 01:22:43 UTC[1]
Ghép nối với ISS
Cổng ghép nốiPoisk zenith
Ngày ghép nối17 tháng 5 năm 2012, 04:36 UTC
Ngày ngắt ghép nối16 tháng 9 năm 2012, 23:09 UTC
Thời gian ghép nối132 ngày, 18 giờ và 33 phút
Tập tin:Soyuz TMA-04M crew.jpg
(l-r) Acaba, Padalka và Revin
Chương trình Soyuz
(Nhiệm vụ có người lái)
 

Soyuz TMA-04M là một chuyến bay lên quỹ đạo Trái Đất thấp, đưa ba thành viên của phi hành đoàn Expedition 31 tới Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS), được phóng ngày 15 tháng 5 năm 2012 và hạ cánh ngày 17 tháng 9 năm 2012.[3] TMA-04M là chuyến bay thứ 113 của tàu vũ trụ Soyuz kể từ lần phóng đầu tiên năm 1967, và là lần phóng thứ tư của dòng Soyuz TMA-M đã được cải tiến (lần đầu phóng ngày 7 tháng 10 năm 2010). Theo kế hoạch sứ mệnh, con tàu được giữ lại ghép với trạm để làm tàu thoát hiểm khẩn cấp trong suốt thời gian Expedition 31.

Sứ mệnh được phóng thành công lên Trạm Vũ trụ Quốc tế từ Sân bay vũ trụ Baikonur tại Kazakhstan vào thứ Ba, ngày 15 tháng 5 năm 2012, lúc 3:01:23 UTC (9:01:23 giờ địa phương).[5] Tàu Soyuz ghép nối thành công với ISS ngày 17 tháng 5 lúc 4:36 UTC.[6] Con tàu mang theo lên ISS một phi hành đoàn ba người (Gennady Padalka, Nga; Sergei Revin, Nga; Joseph Acaba, Hoa Kỳ).[5] Sứ mệnh hạ cánh thành công tại Kazakhstan ngày 17 tháng 9 năm 2012, lúc 2:53 UTC.[4]

Phi hành đoàn

Vai trò[7][8] Phi hành đoàn
Chỉ huy Nga Gennady Padalka, Roscosmos
Expedition 31
Chuyến bay thứ tư
Kĩ sư chuyến bay 1 Nga Sergei Revin, Roscosmos
Expedition 31
Chuyến bay duy nhất
Kĩ sư chuyến bay 2 Hoa Kỳ Joseph M. Acaba, NASA
Expedition 31
Chuyến bay thứ hai

Phi hành đoàn dự phòng

Vai trò[9] Phi hành đoàn[10]
Chỉ huy Nga Oleg Novitskiy, Roscosmos
Kĩ sư chuyến bay 1 Nga Evgeny Tarelkin, Roscosmos
Kĩ sư chuyến bay 2 Hoa Kỳ Kevin A. Ford, NASA

Tàu vũ trụ

Soyuz TMA-04M là sứ mệnh thứ tư sử dụng tàu vũ trụ Soyuz TMA-M đã nâng cấp, với hệ thống điều khiển bay hiện đại hóa và khối lượng giảm. Tàu được thiết kế và chế tạo bởi Energia, công ty lớn nhất của ngành công nghiệp vũ trụ Nga.[11]

Điểm nổi bật

Soyuz TMA-04M được phóng thành công tới Trạm Vũ trụ Quốc tế từ Sân bay vũ trụ BaikonurKazakhstan vào thứ Ba, ngày 15 tháng 5 năm 2012, lúc 3:01:23 UTC (9:01:23 giờ địa phương Baikonur).[5] Tàu vũ trụ ghép nối với ISS vào thứ Năm, ngày 17 tháng 5 lúc 4:36 UTC, kết nối với mô-đun ghép nối Poisk.[6]

Sau khi Soyuz TMA-03M rời trạm ngày 1 tháng 6, các thành viên phi hành đoàn của TMA-04M đảm nhiệm phần đầu của Expedition 32 cho tới khi phần hai bắt đầu, với sự đến nơi của các thành viên còn lại trên tàu Soyuz TMA-05M vào giữa tháng 7.[6] Con tàu tách khỏi ISS lúc 23:09 UTC ngày 16 tháng 9 và hạ cánh lúc 2:53 UTC ngày 17 tháng 9 tại Kazakhstan.[4][12]

Hình ảnh

Tham khảo

  1. ^ a b Peat, Chris (ngày 17 tháng 9 năm 2012). "SOYUZ-TMA 4M - Orbit". Heavens Above. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
  2. ^ William Harwood (ngày 12 tháng 2 năm 2012). "Russia Orders Soyuz Delays In Wake Of Test Mishap". SpaceflightNow.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012.
  3. ^ a b "Three New Crew Members En Route to Station". Latest News. NASA. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012.
  4. ^ a b c "Expedition 32 Lands Safely in Kazakhstan". National Aeronautics and Space Administration. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2012.
  5. ^ a b c Harwood, William (ngày 18 tháng 5 năm 2012). "Latest manned space launch safely takes flight to orbit". Spaceflight Now. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012.
  6. ^ a b c Harwood, William (ngày 17 tháng 5 năm 2012). "Three-man crew docks at International Space Station". Spaceflight Now. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2012.
  7. ^ NASA HQ (2009). "NASA and its International Partners Assign Space Station Crews". NASA. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2009.
  8. ^ NASA HQ (2010). "NASA And Partners Assign Crews For Upcoming Space Station Missions". NASA. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2010.
  9. ^ "Орбитальные полёты". 2012.
  10. ^ NASA (2012). "Expedition 31 Backup Crew Members Field Questions from Roscosmos Officials". NASA. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  11. ^ "Soyuz TMA-M manned transport vehicle of a new series". RSC Energia (bằng tiếng Anh). S.P. Korolev Rocket and Space Corporation Energia. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025.
  12. ^ "Soyuz TMA-04M Spacecraft Undocks from Space Station". RIA Novosti. ngày 16 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012.

Liên kết ngoài