Bước tới nội dung

Thành phố Zanzibar

6°10′N 39°12′Đ / 6,167°N 39,2°Đ / -6.167; 39.200
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thành phố Zanzibar
Tập tin:Malawi Rd, Zanzibar Town, Tanzania - panoramio.jpg
Mặt tiền bến cảng Thị trấn Đá Zanzibar nhìn từ công viên Vườn Forodhani.

Hiệu kỳ

Ấn chương
Lỗi Lua trong Mô_đun:Location_map tại dòng 461: Giá trị "<strong class="error"><span class="scribunto-error mw-scribunto-error-8830ed40">Lỗi Lua trong Mô_đun:Thông_tin_khu_dân_cư tại dòng 426: attempt to index field &#039;wikibase&#039; (a nil value).</span></strong>" không phải là kinh độ hợp lệ.
Quốc giaTanzania
Vùng tự trịZanzibar
VùngUrban West
HuyệnĐô thị Zanzibar (Zanzibar Urban)
Chính quyền
 • Thị trưởngMahmoud Muhammad Mussa
Diện tích[1]
 • Thành phố41,6 km2 (16,1 mi2)
 • Đô thị15,8 km2 (6,1 mi2)
Dân số (2022 est.)[2]
 • Thành phố709.809
 • Mật độ17.062/km2 (44.093/mi2)
 • Đô thị502.000
 • Mật độ đô thị31.772/km2 (82.295/mi2)
Websitehttps://www.zanzibarcity.go.tz/

Thành phố Zanzibar (Wilaya ya Zanzibar Mjini hoặc Jiji la Zanzibar trong tiếng Swahili) là thủ phủ, thành phố lớn nhất và là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa huyết mạch của vùng tự trị Zanzibar thuộc nước Cộng hòa Liên bang Tanzania.[3] Thành phố tọa lạc trên bờ biển phía tây của đảo Unguja (hòn đảo chính của Quần đảo Zanzibar), hướng thẳng ra Eo biển Zanzibar nông hẹp đối diện với dải đất liền miền duyên hải của Đông Phi.[4]

Theo kết quả điều tra dân số quốc gia năm 2022, khu vực đô thị mở rộng của Thành phố Zanzibar có tổng dân số đạt 709.809 người, với mật độ dân cư vô cùng đông đúc lên tới 17.062 người trên một kilômét vuông (khoảng 44.093 người trên một dặm vuông).[2] Đô thị cổ kính này đóng vai trò là một hải cảng quốc tế sầm uất, kết nối các mạng lưới giao thương du lịch, hàng hải và xuất khẩu lâm thổ sản gia vị lớn của khu vực Hồ Lớn châu Phi ra Ấn Độ Dương.[5]

Về mặt cấu trúc không gian và bách khoa lịch sử, Thành phố Zanzibar được phân tách làm hai khu vực hoàn toàn tương phản về mặt cảnh quan kiến trúc, ngăn cách nhau bởi một lạch nước ngầm cũ nay đã được san lấp thành đại lộ Benjamin Mkapa: khu lõi lịch sử Thị trấn Đá Zanzibar (Mji Mkongwe) tráng lệ bằng đá san hô và khu đô thị mới Ng'ambo (nghĩa là "Phía bên kia") hiện đại trải rộng về phía đông.[6] Do những giá trị văn hóa bách khoa Swahili độc đáo, Thị trấn Đá Zanzibar đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 2000.[7]

Tập tin:Zanzibar Boys on a bike.jpg
Trẻ em đạp xe đạp tại Khu phố cổ Stone Town.

Khu vực

Thành phố Zanzibar đóng vai trò là thủ phủ hành chính của Vùng Urban West, được chia tách thành hai khu vực nội đô cốt lõi dựa trên các thời kỳ lịch sử phát triển địa lý tự nhiên và nhân văn:[6]

Nằm trên một bán đảo hình tam giác nhô ra Eo biển Zanzibar ở sườn phía tây thành phố,Thị trấn Đá Zanzibar là trung tâm bách khoa lịch sử lâu đời của quần đảo.[7] Kiến trúc nơi đây được cấu thành từ đá vôi san hô và gỗ rầm, phản ánh sự hòa quyện tráng lệ của các yếu tố Swahili, Ả Rập, Ba Tư, Ấn Độ và thuộc địa châu Âu.[5]

Cảnh quan của Thị trấn Đá bị thống trị bởi một mạng lưới dày đặc các con hẻm nhỏ hẹp, ngoằn ngoèo, nơi các phương tiện cơ giới lớn không thể lưu thông.[7] Dọc hai bên hẻm là những ngôi nhà cổ có khoảng sân trong râm mát, nổi tiếng với những bộ cửa gỗ lớn chạm khắc tinh xảo. Các công trình kiến trúc biểu tượng hàng đầu tại đây bao gồm Ngôi nhà Kỳ quan (Beit al-Ajaib), Pháo đài cổ (Old Fort), Cung điện Sultan, và Nhà thờ Lớn Anh giáo được xây dựng kiên cố ngay trên nền của khu chợ nô lệ Đại Tây Dương cũ.[8]

Khu đô thị mới Ng'ambo

Trải rộng ra toàn bộ khu vực nội địa phía đông, Ng'ambo ban đầu là nơi định cư của những người lao động châu Phi bản địa trong thời kỳ vương quốc Sultan thống trị.[6] Cái tên "Ng'ambo" có nghĩa là "Phía bên kia", dùng để chỉ vị trí của nó đối diện với khu quý tộc Thị trấn Đá qua một con lạch bùn rạn ngập triều cũ (sau này được san lấp thành phố lộ vào thập niên 1950).[9]

Hiện nay, Ng'ambo đã vươn mình trở thành trung tâm dân cư và thương mại hiện đại của Thành phố Zanzibar, sở hữu diện tích rộng gấp nhiều lần Thị trấn Đá. Nơi đây được quy hoạch với các đại lộ lớn, các khối nhà chung cư cao tầng theo phong cách kiến trúc hiện đại (được xây dựng dưới sự trợ giúp của các kỹ sư Đông Đức sau cuộc Cách mạng năm 1964), các tòa nhà văn phòng chính phủ tự trị, hệ thống ngân hàng và các khu chợ ngoài trời sầm uất như Mwanakwerekwe.[6]

Tập tin:Plan der Stadt Sansibar - Map of Zanzibar - Oscar Baumann.jpg
Bản đồ thành phố Zanzibar do Oscar Baumann vẽ năm 1892.

Địa chất và địa hình

Nền địa chất của Thành phố Zanzibar nằm trên một dải thềm đá vôi san hô Pleistocene nhô cao thuộc rìa lục địa Đông Phi.[4] Địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, với độ cao trung bình dưới 15 mét so với mực nước biển. Sự phong hóa karst của lớp đá vôi san hô ngầm đã hình thành nên hệ thống các hang động ngầm chứa nước ngọt có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động cấp nước cho cư dân thành phố, tiêu biểu là mạch ngầm Masingini ở dãy đồi phía bắc ngoại ô đô thị.[10]

Khí hậu

Thành phố Zanzibar mang kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa (Am theo Phân loại khí hậu Köppen), chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa phân cực ngoài khơi Ấn Độ Dương. Thời tiết tại thành phố nóng và ẩm ướt quanh năm, với độ ẩm trung bình luôn duy trì trên mức 75%.[11]

Chế độ mưa gió mùa

Thành phố trải qua hai mùa mưa rõ rệt dựa trên sự chuyển dịch của Đới hội tụ liên nhiệt đới (ITCZ):[11]

  • Mùa mưa dài (Masika): Diễn ra mạnh mẽ từ tháng 3 đến tháng 5, mang theo những trận mưa giông dối dả, chiếm hơn một nửa tổng lượng mưa hàng năm của thành phố.
  • Mùa mưa ngắn (Vuli): Diễn ra rải rác từ tháng 11 đến tháng 12 với lượng mưa ít và gián đoạn hơn.
  • Mùa khô nóng (Xagaa/Jilal): Các tháng từ tháng 1 đến tháng 2 là giai đoạn nóng nhất trong năm, khi nhiệt độ ban ngày thường xuyên vượt ngưỡng 33 °C (91 °F). Từ tháng 6 đến tháng 10, luồng gió mùa Đông Nam (Kusi) tràn về mang lại bầu không khí mát mẻ, trong lành và dễ chịu nhất cho khu vực đô thị.[12]

Bảng dữ liệu Khí hậu tại Thành phố Zanzibar

Bảng dữ liệu Khí hậu tại Thành phố Zanzibar (Weather box)

Dữ liệu khí hậu của Thành phố Zanzibar (1961–1990)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình ngày tối đa °C (°F) 32.0
(89.6)
32.5
(90.5)
32.2
(90.0)
31.0
(87.8)
29.5
(85.1)
28.9
(84.0)
28.2
(82.8)
28.6
(83.5)
29.7
(85.5)
30.7
(87.3)
31.1
(88.0)
31.6
(88.9)
30.5
(86.9)
Trung bình ngày °C (°F) 27.5
(81.5)
27.8
(82.0)
27.9
(82.2)
26.8
(80.2)
25.6
(78.1)
24.8
(76.6)
24.1
(75.4)
24.2
(75.6)
24.9
(76.8)
25.8
(78.4)
26.5
(79.7)
27.1
(80.8)
26.1
(78.9)
Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) 23.0
(73.4)
23.1
(73.6)
23.6
(74.5)
22.6
(72.7)
21.8
(71.2)
20.8
(69.4)
20.1
(68.2)
19.9
(67.8)
20.1
(68.2)
21.0
(69.8)
22.0
(71.6)
22.7
(72.9)
21.7
(71.1)
Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) 69.0
(2.72)
65.0
(2.56)
145.0
(5.71)
378.0
(14.88)
203.0
(7.99)
55.0
(2.17)
49.0
(1.93)
42.0
(1.65)
29.0
(1.14)
67.0
(2.64)
224.0
(8.82)
162.0
(6.38)
1.488
(58.59)
Số ngày giáng thủy trung bình 6 5 10 18 14 5 5 4 4 7 11 10 99
Độ ẩm tương đối trung bình (%) 77 76 78 83 82 79 77 76 76 77 80 80 78
Nguồn: WMO[13]

Biểu đồ Khí hậu tại Thành phố Zanzibar

Thành phố Zanzibar
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
69
 
 
32
23
 
 
65
 
 
33
23
 
 
145
 
 
32
24
 
 
378
 
 
31
23
 
 
203
 
 
30
22
 
 
55
 
 
29
21
 
 
49
 
 
28
20
 
 
42
 
 
29
20
 
 
29
 
 
30
20
 
 
67
 
 
31
21
 
 
224
 
 
31
22
 
 
162
 
 
32
23
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: WMO

Kinh tế

Thành phố Zanzibar là đầu tàu kinh tế thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ quần đảo tự trị, dựa trên hai ngành công nghiệp cốt lõi là du lịch quốc tế và thương mại hàng hải:[1]

Ngành du lịch

Sự hiện diện của Di sản thế giới Thị trấn Đá Zanzibar cùng các bãi biển nhiệt đới bao quanh đô thị đã biến thành phố thành điểm đến quốc tế sầm uất. Toàn bộ nền kinh tế dịch vụ nội đô xoay quanh chuỗi cung ứng của ngành du lịch: từ các khách sạn boutique phục dựng trong các tòa nhà cổ Ả Rập, các chuỗi nhà hàng ẩm thực ven bờ, đến hoạt động hướng dẫn lữ hành khám phá di tích bách khoa Swahili.[14]

Thương mại

  • Cảng Zanzibar: Tọa lạc tại sườn phía tây Thị trấn Đá Zanzibar, hải cảng này là cửa ngõ xuất khẩu chính của các mặt hàng Đinh hương, cùi dừa khô, tinh dầu gia vị và tảo biển đại dương sang các thị trường châu Âu và châu Á, đồng thời tiếp nhận hàng hóa tiêu dùng từ đất liền Tanzania.[5]
  • Hoạt động thủ công và Chợ đêm: Người dân thành phố duy trì các nghề mộc chạm khắc thủ công mỹ nghệ tinh xảo, sản xuất vải Kanga truyền thống. Khu vực Vườn Forodhani ven bờ bờ biến thành một khu chợ đêm ẩm thực sầm uất vào mỗi buổi hoàng hôn, phục vụ các món hải sản nướng đặc trưng của biển Đông Phi.[15]
Tập tin:Forodhani jubilee gardens Zanzibar.jpg
Vườn Forodhani (bến cảng) ở Stone Town, Zanzibar.

Văn hóa

Văn hóa của Thành phố Zanzibar là một kiệt tác giao thoa nhân văn đại dương. Đây là nơi diễn ra Liên hoan phim quốc tế Zanzibar (ZIFF) hàng năm — một trong những sự kiện điện ảnh lớn nhất Đông Phi, thu hút các tác phẩm nghệ thuật từ khắp khu vực Ấn Độ Dương và thế giới Ả Rập.[16] Thành phố cũng là nơi sinh trưởng của Farrokh Bulsara, người sau này vươn tầm thành ngôi sao nhạc rock huyền thoại thế giới Freddie Mercury — thủ lĩnh ban nhạc Queen. Ngôi nhà cũ của gia đình ông tại Stone Town nay đã được trùng tu thành bảo tàng Mercury thu hút đông đảo du khách ghé thăm.[17]

Giao thông

  • Mạng lưới đường bộ và Dala dala: Các đại lộ rộng rãi ở khu mới Ng'ambo kết nối các khu vực ngoại ô thông suốt. Phương tiện giao thông công cộng phổ biến và đặc trưng nhất thành phố là các xe minibus hoặc xe tải hoán cải gọi là Dala dala, chạy theo các tuyến cố định với giá thành rẻ.[18]
  • Đường hàng không: Sân bay quốc tế Abeid Amani Karume (ZNZ) tọa lạc cách trung tâm thành phố khoảng 5 kilômét (3,1 dặm) về phía nam. Sân bay sở hữu các nhà ga hiện đại đón nhận trực tiếp các chuyến bay quốc tế đường dài từ châu Âu, Trung Đông và các đường bay nội địa kết nối liên tục với Dar es Salaam, ArushaNairobi.[19]
  • Đường thủy: Hệ thống tàu cao tốc bến cánh ngầm hoạt động liên tục hàng ngày tại bến cảng trung tâm, chuyên chở hành khách vượt Eo biển Zanzibar đến Dar es Salaam chỉ trong vòng chưa đầy hai giờ đồng hồ.[1]

Thư viện ảnh

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b c Office of the Chief Government Statistician (OCGS) (2020). "Zanzibar Statistical Abstract 2020" (Tài liệu). Revolutionary Government of Zanzibar.
  2. ^ a b "Tanzania National Census 2022: Population Distribution by Administrative Units". National Bureau of Statistics (Tanzania). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2026.
  3. ^ Metz, Helen Chapin (1992). Tanzania: a country study. Washington, D.C.: Federal Research Division, Library of Congress. ISBN 978-0844495699.
  4. ^ a b Arthurton, R. S. (1999). "The geology and geomorphology of the coastal fringe of Zanzibar City". Journal of African Earth Sciences. Quyển 29 số 2. tr. 261–279. doi:10.1016/S0899-5362(99)00096-7.
  5. ^ a b c Sheriff, Abdul (1987). Slaves, Spices and Ivory in Zanzibar. London: James Currey Publishers. ISBN 978-0852550151.
  6. ^ a b c d Myers, Garth Andrew (1993). Reconstructing Ng'ambo: Town Planning and Development on the Other Side of Zanzibar (Ph.D. dissertation). University of California, Los Angeles.
  7. ^ a b c "Stone Town of Zanzibar". UNESCO World Heritage Centre. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2026.
  8. ^ Siravo, Francesco (1996). Zanzibar: A Plan for the Historic Stone Town. Zanzibar: Gallery Publications.
  9. ^ Myers, Garth Andrew (2003). Verandahs of Power: Colonialism and Space in Urban Africa. Syracuse: Syracuse University Press. ISBN 978-0815630050.
  10. ^ Makame, M. O. (2012). "Vulnerability of coastal urban aquifers to climate change in Zanzibar City". Natural Resources. Quyển 3. tr. 223–232. doi:10.4236/nr.2012.34029.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết)
  11. ^ a b Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
  12. ^ Zanzibar Meteorological Authority (2015). "Climate Profile of Zanzibar Urban West Region" (Tài liệu). ZMA Technical Report.
  13. ^ "World Weather Information Service – Zanzibar". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2026.
  14. ^ Zanzibar Commission for Tourism (2019). "Tourism Statistical Release" (Tài liệu). ZCT Annual Report.
  15. ^ Keshany, S. (2010). The Zanzibar Spice Cookbook. Zanzibar: Gallery Publications.
  16. ^ Topp, Janet (2006). "The Zanzibar International Film Festival and the local cultural economy". Journal of African Cultural Studies. Quyển 18 số 2. tr. 173–187.
  17. ^ Jones, Lesley-Ann (2012). Mercury: An Intimate Biography of Freddie Mercury. New York: Touchstone.
  18. ^ Stren, Richard (1994). Urban Research in the Developing World: Africa. Centre for Urban and Community Studies, University of Toronto.
  19. ^ "Zanzibar Airports Authority (ZAA)". ZAA Official Portal. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2026.

Liên kết ngoài