Bước tới nội dung

Vĩnh Linh (đặc khu)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đặc khu Vĩnh Linh
Đặc khu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

1954–1975
Cờ Huy hiệu
Cờ Huy hiệu
Vị trí của Khu tự trị Việt Bắc
Vị trí của Khu tự trị Việt Bắc
Đặc khu Vĩnh Linh (Vinh Linh Special Zone) trong lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Thủ đô Hồ Xá
President Chủ tịch Khu vực Vĩnh Linh:
-Hoàng Đức Sản(1955-1962)
-Trần Đồng (1963-1966)
-Lê Thanh Liêm (1966-1973)
-Dương Tốn (1973-1976)
Lịch sử
 -  Thành lập 1954
 -  Giải thể 1976

Đặc khu Vĩnh Linh hay Khu vực Vĩnh Linh là đơn vị hành chính cấp tỉnh thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn 1954–1976 (nay là một phần xã Hướng Lập, Bến Quan, Vĩnh Thuỷ, Vĩnh Linh, Vĩnh Hoàng, Cửa Tùng, đặc khu Cồn Cỏ của tỉnh Quảng Trị).

Nơi đây là một trong những vùng đất ác liệt nhất trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Đặc khu Vĩnh Linh đã hứng chịu hơn 1353 lần [1] đánh bom với 668.876 tấn bom đạn của quân đội Mỹ[2].

Địa lý

Đặc khu Vĩnh Linh có vị trí địa lý:

Đặc khu Vĩnh Linh có diện tích 781,36 km², dân số là hơn 13.058 người[3]. Đặc khu Vĩnh Linh có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, độ cao trung bình từ 40m đến 120m,phía Tây dao động 400m đến 1200m so với mực nước biển.

Hành chính

Ảnh phía bắc Sông Bến Hải (3/1968)

Đặc khu Vĩnh Linh có 23 xã, thị trấn gồm: Hồ Xá, Vĩnh Quang, Vĩnh Giang, Vĩnh Tân, Vĩnh Thành, Vĩnh Lâm, Vĩnh Sơn, Vĩnh Thủy, Vĩnh Long, Vĩnh Chấp, Vĩnh Tú, Vĩnh Thái, Vĩnh Trung, Vĩnh Nam, Vĩnh Hòa, Vĩnh Hiền, Vĩnh Ô, Vĩnh Khê, Vĩnh Trường, Hướng Lập, Vĩnh Hà, Vĩnh Thạch, Vĩnh Kim.[4]

Lịch sử

Cột cờ Hiền Lương hiện nay

Trước năm 1954, Vĩnh Linh là một huyện thuộc tỉnh Quảng Trị. Sau Hiệp định Genève, Vĩnh Linh được chia thành hai phần: phần phía bắc sông Bến Hải thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phần phía nam sông Bến Hải thuộc Việt Nam Cộng hòa. Phần phía bắc sông Bến Hải được thành lập thành Đặc khu Vĩnh Linh, trực thuộc Chính phủ Trung ương.

Đôi bờ Hiền Lương, Bến Hải

Ngày 16/6/1955, theo Nghị định số 551-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, khu vực Vĩnh Linh (phần phía bắc sông Bến Hải) thuộc tỉnh Quảng Trị được tổ chức thành một đơn vị hành chính riêng ngang với một tỉnh[4]. Tạm thời đặt khu vực Vĩnh Linh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ trung ương [5] . Toàn khu vực Vĩnh Linh có 21 xã và 1 thị trấn. Ủy ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh chỉ đạo và điều hành mọi hoạt động của khu vực. Dưới Ủy ban Hành chính khu vực là các Ủy ban hành chính các xã quản lý và điều hành các Hợp tác xã

trong lần vào thăm Quảng Bình cùng Vĩnh Linh (16/6/1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quảng Bình cùng với Vĩnh Linh ở tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp với miền Nam, mọi việc làm tốt hay xấu của các cô, các chú ở đây đều có ảnh hưởng nhất định đến cách mạng miền Nam, đều có ý nghĩa đối với việc bảo vệ miền Bắc. Nếu kẻ địch có hành động gì thì Quảng Bình, Vĩnh Linh phải đương đầu với chúng trước hết và phải đánh thắng chúng trước hết”[6]

Đồn công an giới tuyến Hiền Lương

Tháng 5/1959, khi mở đường chi viện cách mạng miền Nam, Khe Hó (tây Vĩnh Linh) được chọn làm điểm khởi đầu. Tuy nhiên, để giữ bí mật, tuyến vận tải này được bẻ ngược lên sát biên giới Việt - Lào. Để nối với tuyến đường này, trước đó, năm 1958, việc mở Đường 16 đã được tiến hành. Nguyên là con đường mòn xuất phát từ Thạch Bàn (Lệ Thủy) rẽ về phía Tây đến bản Cha Lỳ (Hướng Lập - Vĩnh Linh), Trung ương đã mở rộng thành Đường 16 dài 67 km (gồm 64 km tuyến chính và 3 km đường tránh), đoạn từ Thạch Bàn đến Làng Ho dài 40 km sử dụng cho xe cơ giới, còn từ Làng Ho vào Cha Lỳ (Hướng Lập) phải gánh bộ để giữ bí mật. Quảng Bình huy động hơn 3.000 dân công cùng Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) lao động cật lực trong 3 tháng để hoàn thành. Tiếp đó, một lực lượng lớn dân công được huy động mở thông tuyến vượt đỉnh 1001 vào Cù Bai (thuộc Hướng Lập, ở ngã ba biên giới Lào và Nam - Bắc Việt Nam). Buổi đầu chi viện cách mạng miền Nam của Đoàn 559 ở phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời được thực hiện trên một phần tuyến đường này.[7][8]

Văn công ở bờ Bắc biểu diễn văn nghệ cho đồng bào bờ Nam.

- Ngay khi Đường 16 hoàn thành, vai trò của nó được phát huy. Từ sau năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm nhiều lần đưa quân lấn chiếm Hướng Lập nhưng bị chi bộ địa phương lãnh đạo nhân dân đẩy lùi. Cuối năm 1958, chúng phối hợp với quân chính phủ phái hữu Lào, chiếm Tà Rìn, đóng bốt ở Ra Mại, A Ròng, Ra Cồ,… nhằm uy hiếp Vĩnh Linh từ phía bên kia biên giới.Việc tiếp tế lương thực và vũ khí từ đồng bằng lên Hướng Lập cho lực lượng công an giới tuyến gặp khó khăn. Trước tình hình đó, Quân khu ủy khu IV đã yêu cầu Tỉnh ủy Quảng Bình bằng mọi cách phải giúp Vĩnh Linh giải quyết khó khăn nói trên. Ngày 29 Tết năm 1959, một lực lượng lớn dân công thuộc hai huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh được huy động, đưa hơn 60 tấn hàng lên Hướng Lập, đảm bảo cho các đơn vị công an giới tuyến và nhân dân địa phương trụ vững nơi biên giới, đẩy lùi cuộc tấn công của chính quyền Ngô Đình Diệm.[8]

Nhà Liên Hợp Uỷ ban quốc tế
Cầu Hiền Lương

23 giờ ngày 2/2/1965 (30 Tết Nguyên đán Ất Tỵ), lợi dụng lúc chuẩn bị đón giao thừa, tàu biệt kích Việt Nam Cộng Hoà xâm phạm vùng biển Vĩnh Linh.Tại địa bàn Vĩnh Linh, ngày 8-2-1965, Mỹ huy động 82 lần chiếc máy bay phản lực (F4H, AD6), chia làm 14 tốp đánh phá nhiều địa điểm: doanh trại Sư đoàn 241, xí nghiệp chế biến chè hương Bến Hải, xưởng gỗ Lê Thế Hiếu, Trường cấp III, Đài Anh hùng liệt sĩ… giết hại nhiều chiến sĩ và người dân. Tiếp đó, ngày 2-3-1965, không quân Mỹ bắt đầu tiến hành “Chiến dịch Sấm Rền” trên phạm vi toàn miền Bắc. Riêng ở Vĩnh Linh, từ tháng 3 đến tháng 6-1965, máy bay Mỹ đã 615 lần đánh phá vào nhiều vị trí: thị trấn Hồ Xá, nông trường Quyết Thắng, Bến Quan… và các xã Vĩnh Thái, Vĩnh Thạch; đảo Cồn Cỏ cũng bị tàu biệt kích Mỹ bắn pháo 26 lần. Từ chỗ ném bom có trọng điểm, đến cuối tháng 12-1965, Mỹ cho máy bay ném bom vào các khu dân cư, trường học. Thị trấn Hồ Xá và xã miền núi Hướng Lập bị ném bom . Trong những năm 1965-1967, máy bay Mỹ xâm phạm địa bàn Khu Vĩnh Linh 5.415 lần, ném bom 666 lần, pháo kích từ Hạm đội 7 và từ phía nam ra 40 lần; năm 1966, máy bay Mỹ xâm phạm 12.949 lần, ném bom 5.245 lần; năm 1967, bình quân mỗi tháng, máy bay Mỹ xâm phạm Khu Vĩnh Linh 3.238 lần, bắn phá 1.362 lần, làm 2.519 người chết, 1.940 người bị thương.[9]

Ngoài chiến thuật bổ nhào, từ tháng 6-1966, Mỹ còn áp dụng chiến thuật ném bom tọa độ. Mỹ đẩy mạnh các hoạt động do thám, nhất là ở vùng rừng núi phía Tây. Từ năm 1965, Mỹ liên tục đánh phá đảo Cồn Cỏ bằng không quân và hải quân; ngăn chặn việc tiếp tế nước ngọt, lương thực, vũ khí, nhu yếu phẩm từ đất liền ra đảo. Trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, Mỹ đã huy động 60.000 lượt máy bay (gần 4.000 lượt máy bay B52) dội xuống Khu Vĩnh Linh 560.000 tấn bom; bắn 727.000 quả đại bác. Bình quân mỗi km2 phải hứng chịu 600 tấn bom800 quả đại bác.[10]

Bản đồ Vùng phi quân sự

Trước hành động leo thang chiến tranh của Mỹ, Hội nghị Đảng ủy Khu Vĩnh Linh ngày 13-2-1965 ra Nghị quyết nêu rõ: “Phải khẩn trương kiểm tra lại các phương án tác chiến của các lực lượng vũ trang, bán vũ trang, bổ sung kịp thời những chỗ thiếu sót nhằm tăng cường tổ chức, vũ khí, đảm bảo đánh thắng địch trong mọi tình huống[11]. Đối với đảo Cồn Cỏ, Thường vụ Khu ủy Vĩnh Linh họp ngày 3-6-1965, nêu yêu cầu phải đảm bảo việc tiếp tế, “quyết tâm giữ đảo đến cùng”[12][13]

Tiếp đó, ngày 2-8-1966, Thường vụ Đảng ủy Khu Vĩnh Linh ra Nghị quyết số 15 về chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đối với đảo Cồn Cỏ, Nghị quyết nhấn mạnh: “Quán triệt hơn nữa quyết tâm của Trung ương, tăng cường sức chiến đấu và chi viện của đất liền để bất luận trong tình huống nào cũng quyết tâm giữ được đảo”[14]

Thực hiện chủ trương “quân sự hóa toàn dân, công sự hóa toàn khu vực”, hệ thống hầm hào ở Vĩnh Linh được xây dựng và được gia cố vững chắc. Mạng lưới giao thông hào, hầm trú ẩn, trận địa máy bay được xây dựng và bố trí khoa học. Từ năm 1965-1968, quân dân Vĩnh Linh làm được 91.840 căn hầm , 2.098 km giao thông hào[15]. Hệ thống 70 làng hầm với 114 địa đạo được bố trí rộng khắp trên 15 xã, thị trấn, tiêu biểu là địa đạo Vịnh Mốc[16]. Quân và dân Vĩnh Linh còn chuẩn bị các phương án đánh địch đổ bộ, tập kích.[13]

Nhận thức rõ tính chất ác liệt của chiến tranh, Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh chủ động đề xuất và được Trung ương đồng ý cho thực hiện Kế hoạch 8 (K.8), sơ tán khoảng 3 vạn cháu nhỏ ở Vĩnh Linh (từ 7-15 tuổi) ra Thái Bình, Nam Hà, Ninh Bình, Thanh Hóa... Đợt I của kế hoạch này bắt đầu tiến hành từ năm 1966. Đến ngày 10-10-1967, gần 3 vạn cháu của Vĩnh Linh và hai huyện Gio Linh, Cam Lộ (Quảng Trị) được sơ tán đến những nơi an toàn. Kế hoạch này không chỉ giúp tránh được tổn thất, bảo toàn lực lượng để chiến đấu lâu dài, mà còn giảm bớt nguồn cung chi viện nhiều mặt từ Trung ương; trẻ em sơ tán được nuôi dạy tốt; những người ở lại yên tâm chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Tuy nhiên, trong quá trình di chuyển đã có 72 người chết (59 học sinh, 6 giáo viên, 2 cán bộ khu vực, 1 lái xe, 3 người hướng dẫn).[13]

Với khẩu hiệu “Còn đất liền, còn đảo!”, tháng 5-1965, đoàn thuyền đầu tiên, gồm 11 chiếc đã rời Vịnh Mốc tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ. do sự đánh phá ác liệt của đối phương. Phương tiện tiếp tế cho đảo chủ yếu là thuyền nan của ngư dân, có sự yểm trợ bởi các trận địa pháo đặt tại một số điểm cao ở Kim Thạch, Vĩnh Thái. Tính đến ngày 27-12-1965, quân dân Vĩnh Linh đã bắn rơi, bắn cháy hàng chục máy bay, bắn chìm, bắn cháy 6 tàu chiến địch.[13][17]

Ngày 3-5-1968, trên đảo Cồn Cỏ, lực lượng phòng không đã bắn rơi 4 máy bay. Ngày 5-8-1968, trên đất liền Vĩnh Linh, quân và dân bắn rơi 2 máy bay F411. Riêng đảo Cồn Cỏ, trong suốt 1.440 ngày đêm, quân dân trên đảo đã tổ chức 841 trận đánh, bắn rơi 48 máy bay, bắn cháy, bắn chìm 17 tàu chiến[18]. Nhờ thành tích đặc biệt trên, ngày 10-8-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng quân và dân Vĩnh Linh hai câu thơ:[13]

Quân và dân Vĩnh Linh cũng được Quốc hội, Chính phủ 2 lần tuyên dương Đơn vị Anh hùng, được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhìhạng Ba; 3 lần được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi. Nhiều cán bộ, chiến sĩ như: Thái Văn A, Nguyễn Tăng Mật, Cao Văn Khang, Cao Tất Đắc, Bùi Hạnh… được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tại Đại hội liên hoan Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn khu vực Vĩnh Linh (ngày 8-2-1969), đồng chí Lê Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh: “Chiến công về mọi mặt của Vĩnh Linh là nguồn cổ vũ và động viên rất lớn đối với đồng bào miền Nam, đặc biệt là đối với đồng bào Trị Thiên, chiến sĩ, cán bộ mặt trận Khe Sanh và Đường 9 anh hùng. Thắng lợi và thành tích rực rỡ của Vĩnh Linh trên cả ba mặt chiến đấu, sản xuất và tổ chức đời sống là tấm gương sáng cho quân và dân miền Bắc ra sức thi đua chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi.[19]

Sau thất bại của cuộc hành quân “Lam Sơn - 719”, quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa - ngụy tiếp tục tăng cường lực lượng, củng cố địa bàn Trị - Thiên, biến nơi đây thành khu vực phòng thủ mạnh nhất của Việt Nam Cộng hòa. Đầu tháng 3-1972, Quân ủy Trung ương họp bàn triển khai kế hoạch tác chiến. Lúc này, chiến trường Trị - Thiên là hướng phối hợp (hướng tiến công chính là chiến trường Đông Nam Bộ và Bắc Tây Nguyên). Tuy nhiên, do thực tiễn có nhiều biến đổi, Quân ủy Trung ương đã quyết định chọn chiến trường Trị - Thiên làm hướng tiến công chiến lược. Điều này vừa bảo đảm yếu tố bất ngờ vừa đảm bảo yếu tố hậu cần cho một chiến dịch quy mô lớn, dài ngày.[13][20]

Ngày 15-3-1972, tại Bãi Hà (Vĩnh Hà), Đảng ủy Bộ Tư lệnh chiến dịch Trị - Thiên đã họp bàn triển khai kế hoạch tác chiến. Đối với lực lượng vũ trang Khu Vĩnh Linh, Tiểu đoàn 47 - Tiểu đoàn bộ binh Vĩnh Linh sẽ phối hợp với một số đơn vị khác tấn công, bao vây Dốc Miếu, Quán Ngang, tiêu diệt căn cứ hải thuyền ở Nam Cửa Việt, hỗ trợ nhân dân vùng Gio Linh nổi dậy. Đây cũng chính là tiểu đoàn được giao nhiệm vụ chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm (từ ngày 28-6 đến ngày 16-9-1972). Ngoài Tiểu đoàn 47, Đảng ủy Khu Vĩnh Linh quyết định điều động dân quân du kích vào hoạt động dài hạn ở Gio Linh, Cam Lộ (đi chiến đấu ở B).[13][21]

Để chuẩn bị cho việc tiếp nhận hàng vạn đồng bào Gio LinhCam Lộ sơ tán ra Khu Vĩnh Linh, ngày 27-3-1972, Thường vụ Đảng ủy Khu Vĩnh Linh họp bất thường ra Nghị quyết nêu rõ: “đặc biệt quan tâm và có trách nhiệm đầy đủ đối với bà con Gio Linh, Cam Lộ sơ tán ra khi chiến dịch thực sự đi đến giai đoạn quyết liệt. Bằng cách đào hầm giúp bà con, vận động bà con cùng đào hầm, ăn ở phân tán, quyết hạn chế tối đa mọi thiệt hại. Trường hợp xảy ra thương vong phải tích cực giúp đỡ mọi mặt…”[22]. Ban Chấp hành Đảng bộ Khu Vĩnh Linh xác định nhân dân Vĩnh Linh có “trách nhiệm đùm bọc, nuôi dưỡng đồng bào tỉnh nhà, giúp đỡ bà con về mọi mặt từ việc ăn, ở đến việc chăm sóc, động viên về mặt tình cảm, đau ốm…”[13][19]

Tháng 3-1972, Cục vận tải Đoàn 559 và Đoàn vận tải Quân khu 4 đã cùng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến tỉnh Quảng Bình, Khu Vĩnh Linh vận chuyển được 16.020 tấn hàng. Dân quân, dân công hỏa tuyến Khu Vĩnh Linh đã đóng góp 15 vạn ngày công phục vụ chiến đấu ở chiến trường Bắc Quảng Trị[23]. Hàng ngàn dân công Vĩnh Linh ngày đêm gấp rút khôi phục Quốc lộ 1A, bắc cầu phao qua sông Bến Hải, chuẩn bị bến vượt cho xe pháo nặng của bộ đội chủ lực từ miền Bắc chi viện cho chiến trường Trị - Thiên, đón nhận và chăm sóc thương binh, cung cấp cho nhân dân Gio Linh, Cam Lộ các nhu cầu thiết yếu.[13]

Đúng 11 giờ ngày 30-3-1972, quân ta bắt đầu tiến công tại Quảng Trị. Thực hiện nhiệm vụ được cấp trên giao, Tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh phối hợp với bộ đội đặc công hải quân và dân quân du kích địa phương tiêu diệt địch ở các thôn ấp, chi khu, giải phóng quận lỵ Gio Linh, khu tập trung Bến Ngự, Mai Xá Thị, Xuân Khánh, Hà Thượng, tạo điều kiện cho lực lượng cách mạng các xã Gio Lễ, Gio Mỹ, khu tập trung Quán Ngang nổi dậy diệt ác, phá kìm. Đến ngày 2-4-1972, 3 huyện: Hướng Hóa, Cam LộGio Linh, với hơn 10 vạn dân được giải phóng. Vùng giải phóng Bắc Quảng Trị đã nối thông với hậu phương Vĩnh Linh.[13]

ngày 6/4/1972, Mỹ huy động hơn 100 máy bay mở đợt đánh phá quyết liệt vào các tỉnh phía nam Khu 4. Ở khu vực Vĩnh Linh, máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời, vùng biển, ném bom, bắn tên lửa xuống các thôn, xã. Với kỹ thuật dùng tia laser điều khiển bom và tên lửa, máy bay Mỹ đã phá hủy toàn bộ cầu, cống và các mục tiêu khác trên khu vực Vĩnh Linh.[24]

Từ ngày 28-4 đến ngày 1-5-1972, quân ta giải phóng Đông Hà, Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị. Lực lượng địch còn lại ở La Vang, Tân Điền, Mỹ Chánh bỏ chạy qua địa phận Thừa Thiên. Tỉnh Quảng Trị trở thành tỉnh đầu tiên được giải phóng hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị, cùng thắng lợi của quân và dân tại các chiến trường Tây Nguyên, Đông Nam Bộ… đã giáng đòn chí mạng vào quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.[13]

Từ tháng 3 đến tháng 10/1972, quân và dân Vĩnh Linh đã bắn rơi 10 máy bay, bắt sống 2 phi công Mỹ.[24] Từ tháng 5 đến tháng 10/1972, cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ nhiều lần nổ súng bắn máy bay, tàu chiến Mỹ xâm phạm bầu trời, vùng biển. Tiêu biểu nhất là trận đánh ngày 27/6/1972. Lợi dụng sương mù và làn khói bom B52 từ đất liền bay ra, từ sáng sớm, 20 tàu chiến và 10 máy bay lên thẳng chia thành nhiều mũi, tiến công đảo. Quân ta trên đảo Cồn Cỏ tập kích bắn bị thương một chiếc, buộc chúng phải rút lui.[24]

Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 245-NQ/TW[25] về việc hợp nhất đặc khu Vĩnh Linh cùng với tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.

Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Nghị định số 3/NQ/1976[26] về việc hợp nhất tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế thành một tỉnh, lấy tên là tỉnh Bình Trị Thiên.

Đảng uỷ khu vực Vĩnh Linh

Đảng uỷ Khu vực Vĩnh Linh
Khu ủy Vĩnh Linh

Việt Nam


Đảng kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam

Ban chấp hành đảng ủy
Bí thư đảng uỷ Lê Thanh Liêm (5/1955-12/1955)
Hồ Sỹ Thản (12/1955-3/1959)
Trần Đồng (6/1966-3/1976)
Phó bí thư đảng uỷ Hoàng Đức Sản
Dương Tốn
Cơ cấu tổ chức
Cơ quan chủ quản Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Bộ Chính trị
Ban Bí thư Trung ương Đảng
Chức năng Cơ quan lãnh đạo Đảng
Cấp hành chính Cấp tỉnh
Cơ quan Kiểm tra Kỷ luật Ban Kiểm tra Đảng ủy
Phương thức liên hệ
Trụ sở
Địa chỉ Hầm khu ủy Vĩnh Linh, Thị trấn Hồ Xã, Đặc khu Vĩnh Linh (1955-1976)
Lịch sử
Thành lập 28/5/1955
Giải thể: 24/2/1976
Cơ quan tương đương

{{{a}}}

ngày 28/5/1955, Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 16/NQ-TƯ thành lập Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh. Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng ủy và Ủy ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh; được sự giúp đỡ của các ban ngành, đoàn thể ở Trung ương, từ tháng 7/1955 các ban của Đảng ủy, các Ty chuyên môn, các đoàn thể: Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn, Giáo dục của khu vực lần lượt được thành lập.[27]

Kinh tế

Từ tháng 8/1954 đến tháng 8/1955, việc buôn bán giữa hai miền diễn ra khá thuận lợi, Vĩnh Linh nhập những mặt hàng cần thiết cho miền Bắc như gạo, xăng dầu; đặc biệt qua cửa khẩu Hiền Lương(tức là cầu Hiền Lương), cuối năm 1954, mỗi ngày Vĩnh Linh nhập hơn 10 tấn gạo nhằm bình ổn giá cả lương thực, góp phần tích cực vào việc chống đói ở Quảng Bình. Dựa vào các điều 6, 7, 8, 9 trong Hiệp định Genève về việc cho phép qua lại giới tuyến quân sự tạm thời, ta đấu tranh đòi chính quyền Ngô Đình Diệm phải đảm bảo sự đi lại của nhân dân hai miền. Do đó, về cuối năm 1955 và đầu năm 1956, việc qua lại giới tuyến vẫn tiếp tục duy trì. Nhờ vậy, quan hệ kinh tế giữa nhân dân hai bên giới tuyến vẫn duy trì như giúp nhau cày ruộng, trâu bò, giống má để sản xuất, ... Tám tháng đầu năm 1956, qua cửa khẩu Hiền Lương, Vĩnh Linh xuất 81.310.945 đồng, nhập 113.659.000 đồng, buộc đối phương chuyển vào Nam 2.797,5 tấn thư từ, bưu thiếp, hàng hóa.

Vĩnh Linh bước vào cuộc phát triển điều kiện kinh tế - xã hội đã có sự phát triển sau 4 năm thực hiện kế hoạch Nhà nước lần thứ nhất (1961-1965). Trong nông nghiệp, Vĩnh Linh đã hoàn thành xây dựng hợp tác xã cao cấp. Tổng diện tích gieo trồng năm 1964 đạt 16.460 hécta, năng suất lúa bình quân cả năm đạt 20-24 tạ/ hécta. Ngoài cây lúa, sắn, khoai, khu vực có giá trị kinh tế cao như hồ tiêu, chè, cao su...bước đầu phá thế độc canh cây lương thực. Bình quân mỗi hécta gieo trồng có 3 con lợn. Các hợp tác xã đều tổ chức chăn nuôi trâu, bò đàn. Từ chỗ phương tiện thiếu thốn, sau 10 năm xây dựng, Vĩnh Linh đã có hàng trăm thuyền lớn, nhỏ. Mặc dù bị địch phong tỏa, phá hoại, cướp thuyền, ngư dân khu vực Vĩnh Linh vẫn nêu quyết tâm bám biển, đánh bắt hải sản.[28]

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã hướng vào thực hiện mục tiêu của công nghiệp hóa là đưa nền tiểu sản xuất thủ công lạc hậu dần dần tiến lên một nền đại sản xuất cơ khí hóa. Kết quả bước đầu, các ngành công nghiệp đã cung cấp cho nông dân máy bơm nước, vật tư thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu, công cụ cải tiến và nửa cơ khí, một số máy nông nghiệp, phương tiện vận tải để giải phóng đôi vai, máy cơ khí để chế biến nông sản; cung cấp vật phẩm tiêu dùng thông thường phục vụ ăn, mặc, học hành, chữa bệnh.[28]

Giáo dục

Giáo dục, công tác bổ túc văn hoá , nhằm nâng cao trình độ văn hóa của công nhân, nông dân, cán bộ, bộ đội, làm cơ sở để nâng cao trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ. Năm 1964, toàn khu vực có 30 trường cấp I, cấp II và một trường cấp III. Năm học 1964-1965, toàn khu vực có 11.824 học sinh, bình quân 6 người dân có 1 người đi học.[29] Năm 1970-1971, mở trường bổ túc văn hóa tập trung, thường xuyên có khoảng 400 học viên theo học; mặt khác, tích cực phát triển các lớp bổ túc văn hoá khắp các thôn, xã; phục hồi và phát triển 58 lớp mẫu giáo; ở miền núi, mở được 5 trường cấp I, 1 trường cấp II. Ngoài ra, được sự giúp đỡ của Ty Giáo dục Quảng Ninh, khu vực đã mở trường Trung cấp sư phạm tại Đông Triều, chuẩn bị đội ngũ giáo viên cho thời gian tới.[30]

Y tế

Năm 1961-1965 thực hiện kế hoạch 5 năm: Về y tế, trước đây Vĩnh Linh chỉ có một trạm y tế, sau 10 năm xây dựng, khắp các xã trong khu vực đều có trạm y tế, có nhà hộ sinh, có y tá phục vụ, y sĩ phụ trách. Toàn khu vực có bệnh viện lớn, có các khoa chuyên môn và đội ngũ bác sĩ, dược sĩ, y tá phục vụ[29]

Năm 1970-1972; Đảng ủy, Ủy ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh đã xây dựng thêm 2 bệnh viện, trong đó có 1 bệnh viện B làm nhiệm vụ tiếp nhận cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ở chiến trường Trị - Thiên ra điều trị, chữa bệnh. Toàn khu vực có 4 bệnh viện, 2 bệnh xá, 23 trạm xá, 56 tổ y tế ở 56 hợp tác xã.[30]

Năm 1973: khu vực đã xây dựng, tu sữa được 426.000m2 nhà ở, trong đó có 1.500m2 bệnh viện, bệnh xá 13.000m2 .Các cơ sở y tế đã khám bệnh cho 73.000 lượt người, chữa bệnh cho 13.000 lượt người.[31]

Thành tích

Khu vực Vĩnh Linh được 8 lần chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen.

  • Thư khen các lực lượng vũ trang và đồng bào Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nghệ An, đã chiến đấu dũng cảm lập được chiến công (14-2-1965)
  • Thư Hồ Chủ tịch gửi cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ (ngày 12-4-1965)
  • Thư khen quân và dân Vĩnh Linh (15-11-1966)
  • Thư khen quân và dân Vĩnh Linh (12-5-1967)
  • Thư khen quân và dân Vĩnh Linh (20-9-1967)
  • Thư khen chiến sĩ và cán bộ đảo Cồn Cỏ (20-10-1968)
  • Thư khen quân và dân Vĩnh Linh (10-8-1968)
  • Thư khen chiến sĩ và cán bộ đảo Cồn Cỏ (20-10-1968)

khu vực Vĩnh Linh là địa phương đầu tiên ở miền Bắc được phong tặng danh hiệu Anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước vào ngày 1/1/1967. 2 lần tuyên dương Đơn vị Anh hùng, được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhìhạng Ba[4]

Thơ ca

Bài hát "Bài ca Vĩnh Linh" của nhạc sĩ Hoàng Vân là biểu tượng cho ý chí kiên cường, sức sống mãnh liệt, tinh thần bám trụ quê hương và niềm tin chiến thắng."Giữ biển trời Quảng Bình - Vĩnh Linh" là một ca khúc cách mạng của nhạc sĩ Xuân Giao sáng tác năm 1965. Bài hát mang âm hưởng hào hùng, ca ngợi tinh thần bám biển, sản xuất và chiến đấu kiên cường của quân dân vùng tuyến lửa trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Bài hát "Vĩnh Linh đất mẹ anh hùng" của nhạc sĩ Đinh Thìn ca ngợi truyền thống kiên cường, vị trí tuyến đầu giới tuyến, và hệ thống làng hầm địa đạo trong kháng chiến chống Mỹ.

Hình ảnh

Tham khảo

  1. ^ XuanTruongJSCDotCom. "Vĩnh Linh bám trụ kiên cường - Tạp chí Sông Hương". tapchisonghuong.com.vn. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2026.
  2. ^ Yên, Người làm báo Hưng (ngày 29 tháng 4 năm 2026). "Cầu Hiền Lương - nhân chứng lịch sử của nỗi đau chia cắt và khát vọng thống nhất". Người làm báo Hưng Yên. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
  3. ^ Hoàng Chí Hiếu, Thi hành Hiệp định Genève ở Khu phi quân sự - Vĩ tuyến 17 từ sau tháng 7/1954, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 8/2017.
  4. ^ a b c "Vĩnh Linh: Đất và người". special.nhandan.vn (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2026.
  5. ^ Nghị định số 551-TTg ngày 16/6/1955 của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dẫn theo Nguyễn Quang Ân, Việt Nam - những thay đổi về địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 - 1997, Sđd, tr. 58
  6. ^ ----[1] Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng và Ty Văn hoá Thông tin Bình Trị Thiên (1977), Bác Hồ với Bình Trị Thiên, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.278.
  7. ^ tử, Báo Nhân Dân điện (ngày 18 tháng 5 năm 2019). "Gặp người chọn khe Hó mở đường Trường Sơn". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
  8. ^ a b Quảng Bình với Vĩnh Linh trong Kháng chiến chống Mỹ TS. HOÀNG CHÍ HIẾU Trường Đại học Sư phạm Huế
  9. ^ Tổng cục Thống kê: Báo cáo tình hình thiệt hại chiến tranh của các tỉnh phía Bắc từ 5-8-1964 đến 31-12-1967, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, Hồ sơ số 393
  10. ^ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Linh: Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Linh, tập I (1930 - 1975), Nxb CTQG ST, H, 2020, tr. 298
  11. ^ . Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, tập II (1954 - 1975), Nxb CTQG ST, H, 2022, tr. 252
  12. ^ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Linh: Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Linh, tập I (1930 - 1975), Nxb CTQG ST, H, 2020, 320-321
  13. ^ a b c d e f g h i j k "Khu Vĩnh Linh chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965 - 1968), chi viện sức người, sức của, góp phần giải phóng tỉnh Quảng Trị năm 1972". tapchilichsudang.vn. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2026.
  14. ^ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Linh: Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Linh, tập I (1930 - 1975), Nxb CTQG ST, H, 2020,tr. 295
  15. ^ Vũ Kỳ Lân, Nguyễn Sinh: Ký sự miền đất lửa, tuyển tập Hồ sơ Vĩ tuyến 17 (1954 - 1975), Nxb Lao động, H, 2011, tr. 163
  16. ^ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Linh: Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Linh, tập I (1930 - 1975), Nxb CTQG ST, H, 2020, 306-307
  17. ^ Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, tập II (1954 - 1975), Nxb CTQG ST, H, 2022, tr. 256,
  18. ^ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Linh: Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Linh, tập I (1930 - 1975), Nxb CTQG ST, H, 2020, tr. 306-307
  19. ^ a b Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, tập II (1954 - 1975), Nxb CTQG ST, H, 2022, tr. 268
  20. ^ Ngày 11-3-1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết về kế hoạch mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, hướng chủ yếu là chiến trường Trị - Thiên
  21. ^ Ủy ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh: Chỉ thị số 14 CT/UB ngày 24-4-1972 V/v điều động anh chị em dân quân du kích đi chiến đấu ở B, Phông Ủy ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh, Hộp số 599, Hồ sơ số 27, Trung tâm Lưu trữ Lịch sử tỉnh Quảng Trị
  22. ^ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Linh: Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Linh, tập I (1930 - 1975), Nxb CTQG ST, H, 2020, tr. 427
  23. ^ Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Linh: Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Linh, tập I (1930 - 1975), Nxb CTQG ST, H, 2020, tr. 426
  24. ^ a b c Địa chí Quảng Trị tr. 360
  25. ^ Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh.
  26. ^ Nghị định số 3/NQ/1976 về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam.
  27. ^ Địa chí Quảng Trị tr.1265
  28. ^ a b Địa chí Quảng Trị tr.616
  29. ^ a b Địa chí Quảng Trị tr.617
  30. ^ a b Địa chí Quảng Trị tr.628
  31. ^ Địa chí Quảng Trị tr.632