Ẩm thực chay (Vegetarian cuisine) hay còn được gọi là món chay hay là Ẩm thực dựa trên thực vật (Plant-based cuisine) là hệ thống các phương pháp chế biến, trình bày và thưởng thức các món ăn được cấu thành hoàn toàn từ các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật, đây chính là phong cách nấu ăn được xác định bằng việc sử dụng các nguyên liệu từ thực vật, bao gồm các loại ngũ cốc, các loại đậu, các loại hạt, rau củ, trái cây, nấm, các sản phẩm từ động vật không qua giết mổ như trứng, sữa, hoặc mật ong và đôi khi là bằng việc loại trừ nguyên liệu thịt và các sản phẩm từ mô động vật (chẳng hạn như gelatin hoặc men dịch vị (rennet) có nguồn gốc từ động vật). Ẩm thực chay đáp ứng các tiêu chuẩn ăn chay. Ẩm thực chay khác với ẩm thực thuần chay, vốn loại trừ tất cả các sản phẩm từ động vật bao gồm cả sữa và trứng.[1] Ẩm thực chay được đặc trưng bằng các món ăn, các món ăn được chế biến, trình bày từ nguyên liệu thực vật, trong đó nhiều món chay được chế biến cầu kỳ, tinh tế đầy tính nghệ thuật ẩm thực để nhằm tối ưu hóa hương vị, kết cấu và giá trị dinh dưỡng của thực vật.

Tập tin:Vegan tali Annalakshmi.JPG
Một món ẩm thực chay
Tập tin:00961 Beskider Hartkäse aus Ziegenmilch 2013; Northern Subcarpathians; Goat's-milk cheeses from Poland.JPG
Ẩm thực chay ở Ba Lan

Nguyên liệu

Tập tin:TandooriBhaswanAloo.JPG
Ẩm thực chay Ấn Độ
Tập tin:Món chay cúng Ông năm 2017 (1) - Copy.jpg
Một món chay Việt Nam với nguyên liệu chính từ nấm và bắp
Tập tin:Món chay, Tất niên nhà mệ 2018.jpg
Món cúng chay được trình bày theo hình thức giả thịt
Tập tin:The Office of the Chief Scientist works across food safety and nutrition research communities to ensure a safe, plentiful, affordable, and nourishing food supply (50732557628).jpg
Món xa lát

Ẩm thực chay bao gồm việc tiêu thụ các loại thực phẩm chứa protein thực vật, vitamin B12, và các dưỡng chất khác.[2][3] Thực phẩm được coi là phù hợp đối với tất cả những người ăn chay (bao gồm cả những người ăn thuần chay) thường bao gồm:

Thực phẩm không phù hợp với những người ăn thuần chay, nhưng có thể chấp nhận được đối với một số kiểu người ăn chay khác:

Về định nghĩa, những người ăn chay không thể tiêu thụ thịt hoặc các sản phẩm từ mô động vật, mà không có bất kỳ thay đổi nào khác được áp dụng phổ biến trong chế độ ăn uống của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, so với những người không ăn chay, những người ăn chay trung bình có mức tiêu thụ gia tăng đối với:

So với những người không ăn chay, những người thực hành ăn chay trung bình có mức tiêu thụ giảm đi đối với:

Sự khác biệt này được quan sát thấy, nhưng không phải là điều bắt buộc để trở thành người ăn chay. Tuy nhiên, nó có liên quan khi xem xét nghiên cứu về tác động đến sức khỏe của việc áp dụng chế độ ăn chay. Chẳng hạn, một chế độ ăn chỉ bao gồm kẹo đường, trong khi về mặt kỹ thuật cũng là ăn chay, sẽ được cho là có một kết quả đối với sức khỏe rất khác biệt so với những gì được gọi là "một chế độ ăn chay" về mặt văn hóa và những gì phổ biến nhất được những người ăn chay áp dụng.[4] Điều quan trọng cần lưu ý là việc ăn quá nhiều xảy ra do sự hiểu lầm về cơn đói. Bằng cách thay đổi quan điểm của bạn về lượng calo so với các dưỡng chất, việc thích nghi với lối sống lành mạnh hơn của chủ nghĩa ăn chay sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều.[5]

Truyền thống

Đây là một số món ăn phổ biến nhất mà những người ăn chay thường ăn mà không cần thay thế nguyên liệu. Các món ăn như vậy bao gồm, từ bữa sáng cho đến các món tráng miệng vào giờ ăn tối:

Theo quốc gia

Châu Á

Tập tin:Tết 2024 nhà mình (mâm cúng Tất niên, món chay) (4).jpg
Đậu phụ chay
Tập tin:Món ăn Tết 2023 (món cúng chay, tô canh bắp) (1).jpg
Tô canh bắp chay
Tập tin:Món ăn cúng đưa, Tết 2022 (món nấm xào chay) (5).jpg
Nấm xào chay
Tập tin:Nhà mệ dịp Lễ 2 tháng 9 n2023 (cúng Hiệp kỵ năm 2023, món cúng chay, sau bàn thờ) (5).jpg
Món chả chay
Tập tin:Nhà mệ dịp Lễ 2 tháng 9 n2023 (cúng Hiệp kỵ năm 2023, món cúng chay, sau bàn thờ) (2).jpg
Món chay
  • Các món ăn trong ẩm thực Trung Quốc (và các nước Đông Á khác như ẩm thực Đài Loan) dựa trên các nguyên liệu chính là , gạo (miền Nam), đậu phụ, nấm, cà tím, đậu đũa, bông cải xanh, hầu hết các loại chè (tang shui) hoặc rau củ hỗn hợp. Một số món chay trứ danh như Đậu phụ thối, La Hán trai.
  • Các thực phẩm Nhật Bản như castella, dorayaki, edamame, name kojiru, mochi, taiyaki, tempura, sushi rau củ và wagashi. Súp Miso được làm từ tương đậu nành lên men màu trắng hoặc đỏ, trang trí với hành lá hoặc rong biển. Mặc dù hầu hết các phiên bản truyền thống đều được làm từ nước dùng cá (dashi), nó cũng có thể được làm bằng nước dùng rau củ.
  • Ẩm thực Hàn Quốc có một số món ăn thường là món chay. Một ví dụ là bibimbap, là cơm trộn với các loại rau củ hỗn hợp. Đôi khi món ăn này có chứa thịt bò hoặc các thành phần không phải là đồ chay khác. Một thực phẩm Hàn Quốc khác đôi khi là món chay là jeon, trong đó các nguyên liệu (phổ biến nhất là rau củ và/hoặc hải sản) được tẩm trong một lớp bột mì và trứng rồi sau đó áp chảo trong dầu.
  • Ẩm thực Việt Nam rất phong phú, đa dạng về các món đồ chay. Thuật ngữ "Chay" trong tiếng Việt vốn có gốc từ chữ "Trai" (齋) mang nghĩa là sự thanh tịnh, tiết chế và giữ mình thanh bần (còn gọi là chay tịnh), phản ánh một triết lý sống hòa hợp với tự nhiên và triết lý từ bi hỷ xả của đạo Phật. Ẩm thực Việt còn có kỹ thuật giả mặn (mock meat) hay được gọi là đồ giả chay. Các món chay của Việt Nam thường là phở chay, mì chay, bún bò chay, hủ tíu chay, bún riêu chay, bún mắm chay, lẩu nấm, nấm xào, óc đậu, cơm tấm chay, cơm chiên chay, cháo nấm linh chi, xôi gấc, thịt kho tàu chay, thịt quay chay, thịt đông chay, cá kho tộ chay, chả lụa chay, giò thủ chay, gỏi cuốn chay, chả giò chay, bì cuốn chay, bánh xèo chay, bánh chưng chay, bánh tét chay, bánh ít chay, bánh nậm chay, nấm rơm kho tiêu, nấm bào ngư chiên mè, đậu hũ non sốt nấm, chao, tương bần, tàu hũ ky, cơm hấp lá sen, gỏi ngó sen, chè sen nhãn lồng hay chè hạt sen gồm hạt sen, nhãn nhục, táo tàu, tào phớ, gạo lứt muối mè, rau sống và nhiều món khác.
  • Ẩm thực Ấn Độ ở Châu Á có vô số các món ăn chay, nhiều món trong số đó có thể bắt nguồn từ các truyền thống tôn giáo (chẳng hạn như Kỳ Na giáoẤn Độ giáo). Ẩm thực Gujarat của Ấn Độ chủ yếu là đồ chay so với các nền ẩm thực Ấn Độ khác: thali của Gujarat rất nổi tiếng trong giới người Ấn. Có rất nhiều thực phẩm Ấn Độ chay như pakora, samosa, khichri, Pulao, raita, rasam, bengain bharta, chana masala, một số loại korma, sambar, jalfrezi, saag aloo, subji (các món rau củ) chẳng hạn như bindi subji, gobi subji, Punjabi chole, aloo matar và nhiều thực phẩm Nam Ấn Độ chẳng hạn như dosa, idlivada. Chapati và các loại bánh mì làm từ lúa mì/maida khác như naan, roti paratha thường được nhồi với các món chay để tạo thành một bữa ăn no nê. Nhiều món ăn Ấn Độ cũng đủ tiêu chuẩn là đồ thuần chay, mặc dù nhiều món khác sử dụng mật ong hoặc sữa.
  • Các thực phẩm Nam Ấn Độ giống như sambar, rasam, koottu, karembadu, upma, palya hoặc taalimpu, kozhambu hoặc koora, aviyal, olan, Cà ri Kadala, Theeyal, pulihora hoặc puliyogare, Chammandi, Chutney, Chitranna, Bisi Bele Bath, và các loại bánh mì như Appam, Puttu, pathiri, dosa, idlivada.
  • Trong ẩm thực Indonesia, việc ăn chay được phục vụ và đại diện rất tốt, vì có rất nhiều sự lựa chọn về các món chay và đồ thay thế thịt. Các món ăn chẳng hạn như gado-gado, karedok, ketoprak, pecel, urap, rujakasinan là đồ chay. Tuy nhiên, đối với những món ăn sử dụng sốt đậu phộng, chẳng hạn như gado-gado, karedok hoặc ketoprak, có thể chứa một lượng nhỏ mắm tôm để tạo hương vị. Được phục vụ riêng rẽ, gudeg có thể được coi là một loại thực phẩm chay, vì nó bao gồm mít xanh và nước cốt dừa. Các sản phẩm đậu nành lên men, chẳng hạn như tempeh, đậu phụoncom rất phổ biến dưới dạng các đồ thay thế thịt, như là nguồn cung cấp protein. Hầu hết người Indonesia không thực hành ăn chay nghiêm ngặt và chỉ tiêu thụ rau củ hoặc các món chay vì hương vị, sở thích, lý do kinh tế và sức khỏe của họ. Mặc dù vậy, có một số lượng nhỏ các Phật tử Indonesia thực hành ăn chay vì lý do tôn giáo.
  • Nhiều món ăn trong ẩm thực Thái Lan có thể được làm thành món chay nếu thành phần protein chính được thay thế bằng một giải pháp thay thế đồ chay chẳng hạn như đậu phụ. Điều này bao gồm các món ăn chẳng hạn như phat khi mao và, nếu sử dụng mắm tôm chay và chất thay thế nước mắm, nhiều loại cà ri Thái. Những địa điểm phục vụ ẩm thực Phật giáo chay (ahan che; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) có thể được tìm thấy trên khắp Thái Lan.
  • Thực phẩm Trung Đông chẳng hạn như falafel, hummus (đậu gà nghiền), tahini (hạt vừng xay), sữa chua ướp hương bạc hà, và couscous. Trong ẩm thực Hồi giáo có bữa xả chay (Iftar) không hoàn toàn là ăn chay mà phục vụ cho tháng Ramadan, bữa xả chay được bắt đầu với việc ăn các quả chà là với một cốc nước uống.

Châu Âu

Về văn hóa thì châu Âu trọng các món bánh mì trong đó bánh mì trong văn hóa đóng vai trò quan trọng, các món súp trái cây, súp rau củ, cũng được ưa chuộng.

Châu Phi

  • Ẩm thực Ai Cập nói riêng rất phong phú về các loại thực phẩm chay. Vì những lý do trải dài từ kinh tế cho đến các thực hành tôn giáo của Giáo hội Chính thống giáo Copt, hầu hết các món ăn Ai Cập đều dựa vào các loại đậu và rau củ: món ăn quốc gia của họ, kushariful medames, hoàn toàn là đồ chay, tương tự như các món thịt hầm rau củ thập cẩm (vegetable casserole) thường đặc trưng cho bữa ăn điển hình của người Ai Cập.
  • Nhiều món ăn Ethiopia chẳng hạn như injera hoặc các loại nước xốt rau củ hay ớt của Ethiopia.

Châu Mỹ

Tráng miệng

Tập tin:Moi Moi (vegetarian) at London-based Nigerian Tapas Restaurant.jpg
Ẩm thực chay tại Nigeria

Hầu hết các món tráng miệng, bao gồm bánh nướng (pie), bánh cobbler, bánh ngọt (cake), bánh brownie, bánh quy (cookie), kẹo truffle, bánh Rice Krispie treat (từ loại kẹo dẻo (marshmallow) không chứa gelatin hoặc kem kẹo dẻo marshmallow), đồ ăn vặt từ bơ đậu phộng, pudding, pudding gạo, kem lạnh, crème brûlée, v.v., đều không có thịt và cá và phù hợp cho những người ăn chay có trứng và sữa. Các loại bánh kẹo và món tráng miệng phương Đông, chẳng hạn như halvaTurkish delight, hầu hết đều là đồ thuần chay, trong khi những loại khác chẳng hạn như baklava (thường chứa bơ) lại là đồ chay có sữa. Các món tráng miệng và đồ ngọt của Ấn Độ hầu hết là đồ chay giống như peda, barfi, gulab jamun, shrikhand, basundi, kaju katri, rasgulla, cham cham, rajbhog, v.v. Đồ ngọt của Ấn Độ hầu hết được làm từ các sản phẩm từ sữa và do đó là đồ chay có sữa; đồ ngọt dựa trên trái cây sấy khô là đồ thuần chay.

Thương mại hóa

Các sản phẩm thương mại được tiếp thị hướng tới những người ăn chay có sẵn ở hầu hết các quốc gia, mặc dù số lượng và sự đa dạng của chúng có thể thay đổi. Chẳng hạn, tại Úc, một loạt các sản phẩm chay có sẵn tại hầu hết các siêu thị. Hơn nữa, một cuốn cẩm nang mua sắm đồ chay được cung cấp bởi Hội Ăn chay và Thuần chay của Queensland (Vegetarian/Vegan Society of Queensland).[7] Thị trường lớn nhất đối với các loại thực phẩm chay là Ấn Độ, với các đạo luật chính thức của chính phủ quy định về nhãn hiệu "đồ chay" và "đồ không phải chay".

Về sức khỏe

Tập tin:Món ăn Tết 2023 (bánh bao bí ngô chay cúng).jpg
Bánh bao chay

Chế độ ăn chay đang được nghiên cứu sơ bộ về các tác động có thể có của chúng đối với sức khỏe lâu dài. Các mô hình ăn uống đã được đánh giá cùng với mối quan hệ của chúng đối với các yếu tố nguy cơ chuyển hóa và hội chứng chuyển hóa.[8] Một phân tích cắt ngang đối với 773 đối tượng bao gồm 35% người ăn chay, 16% người ăn bán chay, và 49% người không ăn chay cho thấy mô hình ăn chay có liên quan đáng kể đến các mức trung bình thấp hơn cho tất cả các yếu tố nguy cơ chuyển hóa ngoại trừ HDL, và nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa thấp hơn khi so sánh với chế độ ăn không ăn chay. Các yếu tố nguy cơ chuyển hóa bao gồm HDL, triglyceride, glucose, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, vòng eo và chỉ số khối cơ thể. Nghiên cứu Cơ Đốc Phục Lâm 2 (Adventist Study 2 - AHS-2) đã so sánh mức tiêu thụ trung bình của từng nhóm thực phẩm đối với các mô hình ăn chay so với các mô hình không ăn chay.[4]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ "Column | Plant-based cooking is its own cuisine. We all can learn from it". Washington Post (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 9 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
  2. ^ "Vegetarian diet: How to get the best nutrition – Mayo Clinic". mayoclinic.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2024.
  3. ^ Bohrer, Benjamin M. (ngày 1 tháng 7 năm 2017). "Review: Nutrient density and nutritional value of meat products and non-meat foods high in protein". Trends in Food Science & Technology. 65: 103–112. doi:10.1016/j.tifs.2017.04.016. ISSN 0924-2244.
  4. ^ a b Orlich, Michael J.; Jaceldo-Siegl, Karen; Sabaté, Joan; Fan, Jing; Singh, Pramil N.; Fraser, Gary E. (tháng 11 năm 2014). "Patterns of food consumption among vegetarians and non-vegetarians". British Journal of Nutrition (bằng tiếng Anh). 112 (10): 1644–1653. doi:10.1017/S000711451400261X. ISSN 0007-1145. PMC 4232985. PMID 25247790.
  5. ^ Fuhrman, Joel; Sarter, Barbara; Glaser, Dale; Acocella, Steve (ngày 7 tháng 11 năm 2010). "Changing perceptions of hunger on a high nutrient density diet". Nutrition Journal. 9 (1): 51. doi:10.1186/1475-2891-9-51. ISSN 1475-2891. PMC 2988700. PMID 21054899.
  6. ^ a b Peter Brang. Ein unbekanntes Russland, Kulturgeschichte vegetarischer Lebensweisen von den Anfängen bis zur Gegenwart Một khía cạnh bị phớt lờ của nước Nga. Lối sống ăn chay từ những ngày đầu cho đến hiện tại. Böhlau Verlag, Köln 2002 ISBN 3-412-07902-2
  7. ^ Vegetarian/Vegan Society of Queensland. "Vegetarian/Vegan Supermarket Shopping Guide". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2009.
  8. ^ Rizzo, Nico S.; Sabaté, Joan; Jaceldo-Siegl, Karen; Fraser, Gary E. (ngày 1 tháng 5 năm 2011). "Vegetarian Dietary Patterns Are Associated With a Lower Risk of Metabolic Syndrome: The Adventist Health Study 2". Diabetes Care (bằng tiếng Anh). 34 (5): 1225–1227. doi:10.2337/dc10-1221. ISSN 0149-5992. PMC 3114510. PMID 21411506.