Bước tới nội dung

Felipe II của Tây Ban Nha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Felipe II của Tây Ban Nha
Chân dung Felipe II của nữ họa sĩ Sofonisba Anguissola thuộc bộ sưu tập của Bảo tàng Prado, Madrid, Tây Ban Nha.
Tây Ban Nha Quốc vương Tây Ban Nha
(Felipe II)
Tại vị16 tháng 1 năm 155613 tháng 9 năm 1598
42 năm, 240 ngày
Tiền nhiệmCarlos I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmFelipe III Vua hoặc hoàng đế
Vương quốc Napoli Quốc vương của Napoli
(Filippo I)
Tại vị25 tháng 7 năm 155413 tháng 9 năm 1598
44 năm, 50 ngày
Tiền nhiệmCarlo IV Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmFilippo II Vua hoặc hoàng đế
Anh Quốc vương của Anh và Ireland (jure uxoris)
(Philip)
Tại vị25 tháng 7 năm 155417 tháng 11 năm 1558
4 năm, 115 ngày
Tiền nhiệmMary I Vua hoặc hoàng đế (Quân chủ độc lập)
Kế nhiệmElizabeth I Vua hoặc hoàng đế
Đồng trị vìMary I Vua hoặc hoàng đế
Bồ Đào Nha Quốc vương Bồ Đào Nha và Algarves
(Filipe I)
Tại vị16 tháng 4 năm 158113 tháng 9 năm 1598
17 năm, 150 ngày
Tiền nhiệmHenrique I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmFilipe II Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Sinh21 tháng 5 năm 1527
Valladolid, Tây Ban Nha
Mất13 tháng 9 năm 1598 (71 tuổi)
Madrid, Tây Ban Nha
An tángEl Escorial
Phối ngẫuMaria Manuela của Bồ Đào Nha
(cưới 1543 - mất 1545)

Mary I của Anh Vua hoặc hoàng đế
(cưới 1554 - mất 1558)

Élisabeth của Pháp
(cưới 1559 - mất 1568)

Anna của Áo (cưới 1570 - mất 1580)
Hậu duệCarlos, Thân vương xứ Asturias
Isabel Clara Eugenia, Nữ Công tước xứ Brabant
Catalina Micaela, Công tước phu nhân xứ Savoia
Fernando, Thân vương xứ Asturias
Diego, Thân vương xứ Asturias
Felipe III, Quốc vương Tây Ban Nha Vua hoặc hoàng đế
Vương tộcNhà Habsburgo
Thân phụKarl V của Thánh chế La Mã Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫuIsabel của Bồ Đào Nha
Chữ kýChữ ký của Felipe II của Tây Ban Nha

Felipe II của Tây Ban Nha (21 tháng 5, 152713 tháng 9, 1598), hay còn gọi là Felipe Cẩn Trọng (Felipe el Prudente), là vua Tây Ban Nha từ năm 1556 đến năm 1598, Quốc vương Bồ Đào Nha từ năm 1580, đồng thời là Quốc vương của Vương quốc NapoliSicilia (từ năm 1554), Quốc vương AnhIreland (Jure uxoris) với tư cách là chồng của Nữ vương của Anh QuốcMary I từ năm 1554 đến 1558. Ngoài ra, ông còn là Công tước xứ Milano và vương chủ của 17 tỉnh Hà Lan thuộc Habsburg từ năm 1556 đến 1581. Từ năm 1581, ông là Quốc vương của Bồ Đào NhaAlgarve với tư cách là Filipe I.

Là con trai của Hoàng đế Carlos VIsabel của Bồ Đào Nha, Felipe kế thừa Đế quốc Tây Ban Nha của cha vào năm 1556 và giành quyền kế vị ngai vàng Bồ Đào Nha năm 1580 sau cuộc khủng hoảng kế vị, qua đó hình thành Liên minh Iberia. Dưới triều đại của ông, cuộc chinh phục Đế quốc Inca của Tây Ban Nha được hoàn tất, đồng thời quá trình chiếm lĩnh quần đảo Philippines – vùng đất được nhà thám hiểm Ruy López de Villalobos đặt theo tên ông cũng kết thúc. Năm 1584, Felipe hoàn thành việc xây dựng cung điện – tu viện El Escorial, một trong những công trình tiêu biểu của nền quân chủ Tây Ban Nha. Triều đại Felipe II đánh dấu thời kỳ Tây Ban Nha đạt đến đỉnh cao về quyền lực và ảnh hưởng, mở đầu Thời kỳ Hoàng kim của Tây Ban Nha (Siglo de Oro). Đế quốc Tây Ban Nha khi ấy sở hữu lãnh thổ trên mọi châu lục mà người châu Âu đương thời biết đến. Là một tín đồ Công giáo hết sức sùng đạo, Felipe tự xem mình là người bảo vệ châu Âu Công giáo trước sự bành trướng của Đế quốc Ottoman và phong trào Cải cách Kháng Cách, vì vậy ông đã huy động nguồn lực quốc gia vào nhiều cuộc chiến tranh diễn ra đồng thời nhằm duy trì vị thế cường quốc hàng đầu của Tây Ban Nha.

Trong thời gian trị vì, Tây Ban Nha giành được nhiều thắng lợi quan trọng trước người Ottoman tại Oran, Malta và trận hải chiến Lepanto. Năm 1584, giữa cuộc Chiến tranh Tám mươi năm, Felipe ký Hiệp ước Joinville, tài trợ cho Liên minh Công giáo Pháp trong cuộc đấu tranh chống người Kháng Cách Huguenot. Đến năm 1588, ông phái Hạm đội Armada sang xâm lược nước Anh theo Tin Lành với mục tiêu lật đổ Nữ vương Elizabeth I và khôi phục Công giáo tại đây, nhưng hạm đội bị đánh bại và chịu tổn thất nặng nề do bão trên đường trở về Tây Ban Nha. Mặc dù vậy, sức mạnh hải quân Tây Ban Nha sau đó vẫn được phục hồi khi đánh bại cuộc phản công của một hạm đội Anh có quy mô tương đương. Các cuộc chiến tranh liên miên khiến chính quyền Felipe II phải dựa nhiều vào các khoản vay khổng lồ, dẫn đến việc quốc khố nhiều lần tuyên bố vỡ nợ vào các năm 1557, 1560, 1569, 1575 và 1596. Ông cũng từng cân nhắc một kế hoạch đầy tham vọng nhằm mở rộng các cuộc chinh phục sang Trung Quốc và những vùng khác của châu Á, nhưng cuối cùng kế hoạch này đã bị từ bỏ.

Hình ảnh lịch sử của Felipe II chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các chiến dịch tuyên truyền của các đối thủ chính trị và tôn giáo. Ông gần như không bao giờ phản bác những lời chỉ trích nhằm vào mình, thậm chí còn cấm việc biên soạn tiểu sử về bản thân khi còn sống. Điều này góp phần hình thành "Huyền thoại Đen" về Tây Ban Nha trong lịch sử châu Âu, trong khi những đánh giá tích cực hơn về sau lại tạo nên "Huyền thoại Trắng". Vì vậy, nhà sử học Helmut Koenigsberger từng nhận xét rằng: "Có lẽ trong lịch sử cận đại, ngay cả Napoleon hay Stalin cũng không có nhân vật nào vừa bí ẩn vừa gây nhiều tranh cãi như Felipe II của Tây Ban Nha. Cả những người cùng thời lẫn các nhà sử học hậu thế đều chưa bao giờ thống nhất được về tính cách, mục tiêu hay mức độ thành công mà ông đạt được."

Đầu đời: 1527–1548

Lễ rửa tội của Felipe II ở Valladolid, Castila. Được bảo tồn ở Cung điện Pimentel.

Felipe chào đời ngày 21 tháng 5 năm 1527 tại Cung điện Pimentel[1] ở thành phố Valladolid, kinh đô của Vương quốc Castilla, trong dinh thự của Don Bernardino Pimentel, Hầu tước Távara. Felipe là con trưởng của Karl V của Thánh chế La MãIsabel của Bồ Đào Nha. Là người thừa kế của Nhà Habsburg, Felipe được định sẵn sẽ thừa kế một đế quốc rộng lớn trải dài từ bán đảo Iberia đến Tân Thế giới.

Vương hậu Isabel bế Vương tử Felipe, một bức chân dung theo phong cách Đức Mẹ và Chúa Hài đồng. Bộ sưu tập của Quỹ Casa de Medina Sidonia.

Từ nhỏ, Felipe được Leonor de Mascareñas chăm sóc. Tháng 7 năm 1534, khi mới bảy tuổi, ông bắt đầu được giáo dục chính quy dưới sự hướng dẫn của Juan Martínez Silíceo[2], người sau này trở thành Tổng giám mục của vùng Toledo, Tây Ban Nha; môi trường giáo dục cùng đời sống tôn giáo nghiêm cẩn tại triều đình Tây Ban Nha đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và nhân cách của ông. Ông bộc lộ năng khiếu về nghệ thuật và văn chương, đồng thời tiếp tục học tập với nhiều học giả nhân văn nổi tiếng như Juan Cristóbal Calvete de Estrella, người phụ trách giảng dạy tiếng Latinhtiếng Hy Lạp; Honorat Juan, giảng dạy toán họckiến trúc; cùng Juan Ginés de Sepúlveda, phụ trách địa lýlịch sử.[2][3] Felipe sử dụng thành thạo tiếng Latinh, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha, nhưng không đạt được trình độ đa ngôn ngữ như cha mình.[4] Mặc dù cũng mang tước vị Đại vương công người Đức của nhà Habsburg, ông luôn tự xem mình là người Tây Ban Nha về văn hóangôn ngữ, điều khiến ông không được giới quý tộc của Đế quốc La Mã Thần thánh hoàn toàn chấp nhận và về sau trở thành một trong những trở ngại đối với khả năng kế vị ngôi vị hoàng đế.[5]

Tháng 4 năm 1528, khi mới 11 tháng tuổi, Felipe đã được Cortes xứ Castila tuyên thệ công nhận là người thừa kế ngai vàng. Kể từ đó cho tới lúc mẹ ông Isabel qua qua đời vào năm 1539, ông đã được nuôi dạy tại triều đình Castilla dưới sự chăm sóc của mẹ và một trong những người hầu gái người Bồ Đào Nha Doña Leonor de Mascarenhas, người mà Felipe cực kỳ gắn bó. Felipe cũng thân thiết với hai người em gái của mình, MaríaJuana cũng như hai tiểu đồng của ông, hai quý tộc người Bồ Đào Nha, Rui Gomes da SilvaLuis de Requesens, con trai của thống đốc Juan de Zúñiga. Hai người này sẽ phục vụ Felipe trong suốt cuộc đời của họ, cũng giống như Antonio Pérez, thư ký riêng của Felipe kể từ năm 1541.

Chân dung được cho là của Felipe lúc nhỏ, do Sofonisba Anguissola thực hiện. Mặc dù chưa từng gặp Felipe khi còn là một đứa trẻ, nữ họa sĩ có lẽ đã tái hiện hình ảnh tuổi thơ của ông bằng trí tưởng tượng. Trên bức tranh có dòng chữ Latinh: "Philippus II, Caroli V Imperatoris Filius" ("Felipe II, con trai của Hoàng đế Karl V"), cho thấy tác phẩm được xem là chân dung của Felipe II.[6]

Việc đào tạo quân sự của Felipe do thống đốc Juan de Zúñiga y Requesens phụ trách, còn những bài học thực tiễn về chiến tranh được hướng dẫn bởi Fernando Álvarez de Toledo, Công tước Alba, trong các cuộc Chiến tranh Ý. Năm 1542, ông có mặt tại Cuộc vây hãm Perpignan, dù không trực tiếp tham chiến vì quân đội Tây Ban Nha dưới quyền Công tước Alba nhanh chóng đánh bại lực lượng Pháp. Trên đường trở về Castila, Felipe cũng được Cortes xứ Aragón tại Monzón tuyên thệ trung thành với tư cách người kế vị.

Quá trình đào tạo chính trị của Felipe bắt đầu từ năm 1542 dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của Hoàng đế Karl. Nhận thấy con trai có tính cách điềm tĩnh, chăm chỉ và chín chắn hơn tuổi, nhà vua quyết định chuẩn bị cho ông đảm nhận việc cai trị các lãnh thổ Tây Ban Nha. Sau khi được phong làm Công tước xứ Milan năm 1540, Felipe được giao giữ chức nhiếp chính các vương quốc Tây Ban Nha vào năm 1543 khi mới mười sáu tuổi, trong thời gian phụ hoàng vắng mặt.

Karl V để lại cho con trai một nhóm cố vấn giàu kinh nghiệm, trong đó có thư ký Francisco de los Cobos và Công tước Alba, đồng thời ban hành những chỉ dẫn chi tiết nhấn mạnh các phẩm chất cần có của một quân vương như lòng sùng đạo, sự kiên nhẫn, đức khiêm nhường và thái độ thận trọng. Những lời dạy ấy dần định hình tính cách của Felipe, khiến ông trở thành một người nghiêm nghị, điềm tĩnh và hết sức cẩn trọng. Theo lời một vị đại thần đương thời, Felipe nói năng nhỏ nhẹ nhưng luôn giữ được sự tự chủ lạnh lùng, và "nụ cười của ông sắc lạnh như lưỡi kiếm".[7] [cần số trang] Bên cạnh việc học tập, Felipe còn được huấn luyện săn bắn, cưỡi ngựa, đấu thương và các kỹ năng quân sự để chuẩn bị cho vai trò quân vương.[2] Từ tuổi thiếu niên, ông đã sở hữu một thư viện cá nhân phong phú và bộc lộ niềm yêu thích đối với sách vở, nghệ thuật và khoa học kỹ thuật, đặt nền móng cho việc trở thành một trong những vị vua bảo trợ văn hóa nổi bật của Tây Ban Nha.[8]

Hành trình đến Bruxelles (1548–1549)

Ngày 1 tháng 10 năm 1548, Felipe rời Valladolid để lên đường sang Bruxelles, giao cho em gái là María và chồng bà Maximilian đảm nhiệm vai trò nhiếp chính trong thời gian ông vắng mặt. Trên đường đi, ông thực hiện chuyến công du qua AragónCatalunya, viếng thăm nhiều địa điểm tôn giáo quan trọng như Zaragoza và tu viện Montserrat, đồng thời nhận sự tuyên thệ trung thành của các thần dân tại BarcelonaGirona.[9]

Tháng 11 năm 1548, Felipe đến cảng Rosas rồi lên đường sang Ý bằng chiến thuyền của Antonio de Toledo. Tại vịnh Rosas, ông được vị đô đốc lừng danh Andrea Doria đón tiếp với một hạm đội gồm 58 chiến galley. Sau khi cập bến Savona, Felipe tiến đến Genova, lưu trú tại dinh thự của gia tộc Doria và tiếp kiến sứ thần của Giáo hoàng Phaolô III, người trao cho ông thanh kiếm nghi lễ và mũ biểu tượng quyền lực do Giáo hoàng ban tặng, như một dấu hiệu kỳ vọng ông sẽ trở thành người bảo vệ Giáo hội Công giáo trong tương lai. Sau khi được tiếp đón trọng thể tại Milan, Mantua và nhiều thành phố khác, Felipe tiếp tục băng qua Tyrol và nước Đức trước khi đến Bruxelles vào ngày 1 tháng 4 năm 1549 để hội kiến với phụ hoàng.[9]

Chính sách đối nội

Felipe ở thời kỳ đỉnh cao của cuộc đời, do Anthonis Mor vẽ.

Sau những năm đầu triều đại sống tại Hà Lan,[10] Felipe II quyết định trở về Castila để tập trung điều hành các lãnh thổ Tây Ban Nha. Mặc dù đôi khi được miêu tả là một vị quân vương chuyên chế, quyền lực của ông trên thực tế bị giới hạn bởi sức mạnh ngày càng tăng của bộ máy quan liêu và hệ thống pháp luật đặc quyền của từng vương quốc. Đế quốc Tây Ban Nha không phải là một quốc gia thống nhất mà là một liên minh cá nhân giữa các vương quốc riêng biệt, nơi các hội đồng địa phương và lãnh chúa bản xứ thường xuyên bảo vệ nghiêm ngặt quyền tự trị của mình trước Nhà Habsburg.[11]

Mang nhiều tước hiệu với tư cách là người thừa kế ngai vàng, trong đó có Thân vương xứ Asturias, Felipe II phải đối mặt với vấn đề chính trị phức tạp tại Navarra Thượng, vùng đất bị Ferrando II của Aragón xâm lược năm 1512 và sáp nhập vào Castila trong tình trạng pháp lý không rõ ràng. Dù chiến tranh tại đây tiếp diễn đến năm 1528 thông qua các Hiệp ước Madrid và Cambrai, Hoàng đế Karl V từng đề xuất chấm dứt thù địch bằng cách gả con trai mình cho người thừa kế hợp pháp của Navarra là Juana III. Cuộc hôn nhân này hứa hẹn một giải pháp triều đại giúp Felipe trở thành vua của toàn bộ Navarra bao gồ cả Thượng và Hạ, Thân vương của vùng Béarn độc lập và chúa tể một phần tây nam nước Pháp. Tuy nhiên, giới quý tộc Pháp dưới thời François I của Pháp đã phản đối và chấm dứt triển vọng này vào năm 1541.

Felipe II đeo Huân chương Garter, tranh vẽ của Jooris van der Straeten, khoảng năm 1554.

Trong di chúc, Karl V bày tỏ nghi ngờ về tính hợp pháp của việc sáp nhập Navarra và khuyên con trai nên trả lại vương quốc này. Dẫu vậy, cả hai cha con đều coi vương quốc này là đương nhiên mà không tuân thủ bản chất bầu cử của Vương quyền Navarra. Điều này làm thổi bùng căng thẳng với Nữ vương Juana III, Nghị viện Navarra Tây Ban Nha và Juana III phái đoàn vì vi phạm luật pháp đặc thù địa phương (fueros) - tức vi phạm thỏa thuận pactum subjectionis (thỏa thuận lệ thuộc) đã được Ferdinand phê chuẩn.

Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm vào năm 1592, thời điểm các pháo đài chính của Navarra bị quân đội ngoại lai người Castila đồn trú công khai, và Nghị viện từ lâu đã từ chối tuyên thệ trung thành với con trai của Felipe II nếu không có nghi thức thích hợp. Vào tháng 11 năm 1592, Felipe II dẫn theo một lực lượng quân sự đến Pamplona, triệu tập một phiên họp nghị viện "ma" (với số lượng đại biểu tham dự được để trống trong biên bản) để bổ nhiệm bất hợp pháp các quan chức Castila đáng tin cậy và áp đặt con trai ông làm vị vua tương lai tại Nhà thờ Santa Maria. Dù quy trình và điều khoản thông lệ đã bị thay đổi trước mặt Giám mục Pamplona, các cuộc biểu tình nổ ra sau đó của người dân địa phương nhanh chóng bị dập tắt. Cũng trong tháng 11 năm 1592, tại Aragón, xung đột giữa trung ương và địa phương leo thang khi Nghị viện nổi dậy chống lại một vi phạm luật pháp đặc thù khác. Phản ứng lại, Felipe II ra lệnh hành quyết Tổng chưởng lý (Justicia) Juan de Lanuza, khiến thư ký của ông là Antonio Pérez phải lưu vong sang Pháp.

Bên cạnh những tranh chấp quyền lực với giới quý tộc, Felipe II còn phải giải quyết vấn đề dân số Morisco (những người Hồi giáo bị các vị vua tiền nhiệm ép buộc cải đạo sang Cơ đốc giáo). Năm 1569, Cuộc nổi dậy Morisco bùng nổ ở Vương quốc Granada phía nam nhằm chống lại các nỗ lực trấn áp phong tục Moorish. Sau khi đàn áp phong trào, nhà vua ra lệnh trục xuất và phân tán họ đến các tỉnh khác.

Mặc dù có lãnh thổ rộng lớn, các vương quốc Tây Ban Nha lại có dân số thưa thớt và mang lại nguồn thu hạn chế cho vương thất. Việc thu thuế phần lớn được giao cho các lãnh chúa địa phương, buộc Felipe II phải dựa vào dòng chảy tài nguyên bạc vàng từ Tân Thế giới để tài trợ cho các chiến dịch quân sự hiếu chiến liên miên. Chi tiêu khổng lồ này khiến ngân khố nhiều lần rơi vào tình trạng phá sản. Dẫu gặp nhiều khó khăn về chính trị và tài chính, văn hóa Tây Ban Nha vẫn phát triển rực rỡ dưới triều đại của ông, mở ra kỷ nguyên “Thời kỳ Vàng son Tây Ban Nha” (Siglo de Oro) với những di sản lâu dài trong văn học, âm nhạcnghệ thuật tạo hình. Một trong những nghệ sĩ nổi bật tại triều đình lúc bấy giờ là nữ họa sĩ Sofonisba Anguissola, người nổi tiếng khắp châu Âu thời Phục hưng nhờ tài năng xuất chúng và vai trò đặc biệt hiếm có của một nữ nghệ sĩ.

Kinh tế

Tập tin:Koning Spanje Filips II 1-5 Philipsdaalder 1566.jpg
Chân dung Felipe II trên đồng xu 1/5 Philipsdaalder, đúc năm 1566, Guelders, Vùng đất thấp.

Hoàng đế Karl V đã để lại cho con trai mình một khoản nợ khoảng 36 triệu ducat cùng mức thâm hụt ngân sách hàng năm lên tới 1 triệu ducat. Khoản nợ khổng lồ này đã khiến Felipe II phải vỡ nợ các khoản vay vào các năm 1557, 1560, 1575 và 1596 (bao gồm cả khoản nợ đối với Ba Lan, được biết đến với tên gọi "Khoản tiền Neapolitan").[12] Các bên cho vay không có quyền lực đối với Felipe và không thể ép buộc ông phải hoàn trả các khoản vay của mình. Những lần vỡ nợ này chỉ là sự khởi đầu cho những rắc rối kinh tế của Tây Ban Nha, khi các vị quân chủ tiếp theo của vương quốc này sẽ còn vỡ nợ thêm sáu lần nữa trong vòng 65 năm kế tiếp.[13] Bên cạnh việc làm giảm nguồn thu của quốc gia dành cho các cuộc viễn chinh hải ngoại, các chính sách đối nội của Felipe còn đè nặng lên các vương quốc Tây Ban Nha và theo nhận định của một số nhà sử học, chúng đã góp phần vào sự suy thoái của đế quốc này trong thế kỷ tiếp theo.[14]

Các vương quốc Tây Ban Nha chịu sự quản lý của các nghị viện khác nhau: nghị viện ở Castila, nghị viện ở Navarra, và mỗi nghị viện riêng cho bốn vương quốc của Aragón. Các cơ quan này đều giữ gìn các điều luật và quyền lợi truyền thống từ thời kỳ chúng còn là những vương quốc độc lập. Điều này khiến cho các vương quốc Tây Ban Nha và những lãnh thổ thuộc địa của nó trở nên rất khó cai trị, trái ngược hoàn toàn với Pháp quốc gia dù bị chia tách thành các bang vùng miền nhưng vẫn có một Hội nghị các Đẳng cấp duy nhất. Việc thiếu vắng một nghị viện tối cao có năng lực tối thiểu đã dẫn đến việc quyền lực đương nhiên rơi vào tay Felipe II, đặc biệt là với vai trò người quản lý và trọng tài tối cao phân xử các cuộc xung đột liên miên giữa các cơ quan chính quyền khác nhau. Để đối phó với những khó khăn phát sinh từ tình trạng này, quyền lực được thực thi thông qua các đại diện địa phương do vương thất bổ nhiệm và các phó vương chịu trách nhiệm thực hiện các chỉ thị của vương triều. Felipe II nhận thấy việc can thiệp vào các chi tiết nhỏ là cần thiết, và ông đã đích thân chủ trì các hội đồng chuyên trách về các vấn đề nhà nước, tài chính, chiến tranhTòa án Dị giáo.

Felipe II đã để các phe phái kiềm chế lẫn nhau, dẫn đến một hệ thống kiểm soát và cân bằng hoạt động kém hiệu quả, thậm chí gây tổn hại đến các công việc của nhà nước, tiêu biểu như trong vụ bê bối Pérez. Sau một vụ hỏa hoạn ở Valladolid vào năm 1561, ông đã từ chối các lời kêu gọi dời Triều đình về Lisbon một hành động đáng lẽ có thể hạn chế tình trạng tập quyền và quan liêu ở trong nước, đồng thời nới lỏng sự cai trị trên toàn bộ Đế quốc. Thay vào đó, khi thủ phủ truyền thống của Vua và Tổng giáo phận là Toledo về cơ bản đã trở nên lỗi thời, ông đã chuyển Triều đình của mình đến Castila thành trì kiên cố của Madrid. Ngoại trừ một thời gian ngắn dưới thời Felipe III của Tây Ban Nha, Madrid đã giữ vững vị thế là thủ đô của Tây Ban Nha kể từ đó. Cũng vào khoảng thời gian này, Felipe II đã cải tạo Cung điện Alcázar của Madrid thành một cung điện vương thất; các công trình này kéo dài từ năm 1561 đến năm 1598, được thực hiện bởi các thợ thủ công đến từ Hà Lan, Ý và Pháp.

Felipe II đã cai trị vào một bước ngoặt lịch sử quan trọng của châu Âu khi chuyển dịch hướng tới sự hiện đại, trong khi cha ông, Karl V đã buộc phải chấp nhận một phương thức cai trị lưu động như một vị vua thời trung cổ. Felipe chủ yếu điều hành các công việc nhà nước ngay cả khi không có mặt tại Triều đình. Thật vậy, khi sức khỏe bắt đầu suy giảm, ông đã làm việc ngay tại các phòng ở của mình trong Cung điện - Tu viện - Lăng mộ El Escorial do ông xây dựng vào năm 1584, một cung điện được xây dựng như một tượng đài khẳng định vai trò của Tây Ban Nha với tư cách là trung tâm của thế giới Cơ đốc giáo. Tuy nhiên, Felipe đã không có được quyền lực tối cao như Louis XIV của Pháp trong thế kỷ tiếp theo, và một sự cai trị như vậy cũng không nhất thiết có thể thực hiện được vào thời đại của ông. Sự kém hiệu quả của bộ máy nhà nước Tây Ban Nha và nền công nghiệp bị quản lý một cách hạn chế dưới sự cai trị của ông là tình trạng chung của nhiều quốc gia đương thời.

Chính sách đối ngoại

Chính sách đối ngoại của Felipe II được quyết định bởi sự kết hợp giữa lòng nhiệt thành Công giáo và các mục tiêu mang tính triều đại. Ông tự coi mình là người bảo vệ tối cao của châu Âu Công giáo, vừa để chống lại Đế quốc Ottoman, vừa để chống lại các lực lượng của phong trào Cải cách Kháng nghị. Ông không bao giờ lơi lỏng cuộc chiến chống lại các dị giáo, luôn ra sức bảo vệ đức tin Công giáo và giới hạn quyền tự do tôn sùng trong các lãnh thổ của mình.[15] Những lãnh thổ này bao gồm cả vùng đất thừa kế của ông ở Hà Lan, nơi phong trào Kháng nghị đã cắm rễ sâu.Sau khi Cuộc nổi dậy Hà Lan bùng nổ vào năm 1568, Felipe đã phát động một chiến dịch quân sự chống lại sự ly khai và dị giáo của người Hà Lan. Cuộc xung đột này đôi khi lôi kéo cả người Anhngười Pháp vào cuộc, đồng thời mở rộng sang vùng vùng Rhine của Đức với Chiến tranh Cologne. Chuỗi xung đột kéo dài này đã duy trì trong suốt phần đời còn lại của ông. Việc liên tục can thiệp và tập trung vào các cuộc chiến tranh ở châu Âu của Felipe đã gây tổn hại nghiêm trọng đến ngân khố, gây ra những khó khăn kinh tế lớn cho Vương triều và thậm chí dẫn đến các vụ phá sản.

Tập tin:Guidon of King Philip II of Spain.svg
Cờ hiệu cá nhân của Felipe II

Năm 1588, người Anh đã đánh bại Hạm đội Vô địch Tây Ban Nha của Felipe, đập tan kế hoạch xâm lược quốc gia này nhằm khôi phục Công giáo của ông. Ngược lại, đến năm 1589, ông cũng đánh bại Hạm đội Anh khi họ được phái sang nhằm tận dụng thời cơ sau chiến thắng trước đó. Tuy nhiên, cuộc chiến với Anh vẫn tiếp diễn trong mười sáu năm tiếp theo, tạo thành một chuỗi các cuộc xung đột phức tạp bao gồm cả Pháp, Ireland và vùng chiến sự chính là Vùng Đất Thấp. Cuộc chiến này chỉ thực sự kết thúc sau khi tất cả các nhân vật chính dẫn đầu các bên, bao gồm cả chính Felipe II qua đời.Mặc dù vậy, ở giai đoạn trước đó, sau nhiều thất bại dưới triều đại của mình và đặc biệt là thời cha ông, Felipe đã giành được một chiến thắng quyết định chống lại người Turk tại Lepanto vào năm 1571. Chiến thắng này có được nhờ lực lượng hạm đội đồng minh của Liên minh Thần thánh mà ông đã giao quyền chỉ huy cho người em trai cùng cha khác mẹ của mình là Don Juan của Áo. Bên cạnh đó, ông cũng thành công trong việc bảo đảm quyền kế vị ngai vàng Bồ Đào Nha của mình.

Bộ máy quản lý các vùng đất chinh phạt hải ngoại cũng được cải cách sâu rộng. Các bản khảo sát câu hỏi chi tiết trên diện rộng được gửi đến mọi thị trấn và khu vực lớn ở Tân Tây Ban Nha, được gọi là relaciones geográficas. Những cuộc khảo sát này đã giúp vương triều Tây Ban Nha quản lý các thuộc địa hải ngoại của Felipe một cách hiệu quả hơn.

Ý

Hoàng đế Karl V đã thoái vị và nhường ngôi vua xứ Napoli lại cho Felipe vào ngày 25 tháng 7 năm 1554. Vị vua trẻ sau đó chính thức được Giáo hoàng Julius III sắc phong cai trị vương quốc này (về mặt pháp lý là một thái ấp của Giáo hoàng) vào ngày 2 tháng 10. Ngày Karl V thoái vị khỏi ngai vàng Sicilia hiện vẫn chưa rõ ràng, nhưng Felipe đã được Giáo hoàng Julius III sắc phong vương quốc này vào ngày 18 tháng 11 năm 1554.[16] Đến năm 1556, Felipe quyết định xâm lược Lãnh địa Giáo hoàng và tạm thời chiếm giữ một phần lãnh thổ tại đây, có lẽ nhằm đáp trả quan điểm bài Tây Ban Nha của Giáo hoàng Paul IV. Theo lập luận của Felipe II, ông làm điều này là vì lợi ích của Giáo hội.

Trong một bức thư gửi cho Thái vương phi Bồ Đào Nha – người đang giữ quyền Nhiếp chính của các vương quốc Tây Ban Nha, đề ngày 22 tháng 9 năm 1556, đại sứ Francisco de Vargas đã viết:

"Kính tâu Điện hạ, Thần đã bẩm báo với Điện hạ về mọi diễn biến đang xảy ra tại đây, cũng như mức độ cuồng nộ và những ảo tưởng viển vông mà Đức Giáo hoàng đang ôm giữ. Bệ hạ của chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải bảo vệ thanh danh cùng lãnh thổ chính đáng của mình. Thần tin rằng Điện hạ hẳn đã nhận được tin tức mới hơn từ Công tước xứ Alba, người hiện đang chỉ huy một đạo quân hùng mạnh và đã tiến sâu vào lãnh địa của Giáo hoàng. Kỵ binh của ngài đã càn quét đến tận khoảng mười dặm ngoài thành Roma, khiến dân chúng trong kinh thành vô cùng hoảng loạn; nếu các cổng thành không bị đóng chặt, e rằng họ đã bỏ chạy tán loạn. Đức Giáo hoàng vì cơn phẫn nộ mà lâm trọng bệnh, đến ngày 16 của tháng này vẫn còn chống chọi với cơn sốt dữ dội. Hai anh em nhà Carafa, tức Đức Hồng y và Bá tước Montorio, nay không còn đồng lòng với nhau; họ cùng Piero Strozzi cũng không còn giữ được sự hòa thuận như trước. Hiện họ đều mong muốn mở đường đàm phán hòa bình. Theo thần, điều tốt đẹp nhất có lẽ là Đức Giáo hoàng sớm từ giã cõi đời, bởi chính ngài là căn nguyên của mọi tai họa hiện tại và cả những biến cố còn có thể phát sinh trong tương lai. Tuy nhiên, ý định của Bệ hạ không gì khác hơn là tước khỏi tay vị giáo chủ đang hành động thiếu sáng suốt ấy thanh gươm quyền lực, để đưa ngài trở về với phẩm giá xứng đáng của người đứng đầu Tòa Thánh. Chính nhân danh việc bảo hộ Tòa Thánh Tông Tòa và Hồng y Đoàn, Bệ hạ đã công khai tuyên bố rằng mọi vùng đất hiện do quân đội chiếm giữ đều được tiếp quản dưới danh nghĩa ấy. Hiện Đức Giáo hoàng một lần nữa đang cầu viện các quân vương và chư hầu nước Ý. Thần hy vọng rằng ngài cũng sẽ nhận được ít sự trợ giúp như những lần trước, và quân Pháp rồi sẽ sớm nguôi ý định can thiệp. Nguyện xin Thiên Chúa, Đấng Toàn Năng, ban cho chúng ta nền hòa bình sau cùng, đúng như điều mà các Đấng Quân vương của chúng ta hằng mong ước và hoàn toàn xứng đáng được hưởng.!"[17]

Tập tin:Philip II rubens.jpg
Chân dung Felipe II cưỡi ngựa, vẽ bởi Peter Paul Rubens.

Để đáp trả cuộc xâm lược, Giáo hoàng Paul IV đã kêu gọi sự can thiệp quân sự từ phía Pháp. Sau các cuộc đụng độ nhỏ ở vùng Lazio và gần Rome, Fernando Álvarez de Toledo (Công tước thứ 3 xứ Alba, Phó vương xứ Napoi) đã gặp Hồng y Carlo Carafa và ký kết Hiệp ước Cave như một giải pháp thỏa hiệp: quân đội Pháp và Tây Ban Nha cùng rút khỏi Lãnh địa Giáo hoàng, và Giáo hoàng tuyên bố giữ lập trường trung lập giữa Pháp và các vương quốc Tây Ban Nha.[18]

Felipe đã dẫn dắt các vương quốc Tây Ban Nha bước vào giai đoạn cuối cùng của các cuộc Chiến tranh Ý. Cánh quân Tây Ban Nha tiến vào Pháp từ Vùng Đất Thấp đã giành được thắng lợi quan trọng trong Trận St. Quentin (1557). Người Pháp tiếp tục nếm mùi thất bại một lần nữa trong Trận Gravelines (1558). Kết quả là Hiệp ước Cateau-Cambrésis được ký kết vào năm 1559, bảo đảm quyền kiểm soát vùng Piedmonte cho Công quốc Savoiađảo Corsica cho Cộng hòa Genoa. Cả Genoa và Savoia đều là đồng minh của Tây Ban Nha; mặc dù Savoia sau đó tuyên bố trung lập giữa Pháp và Tây Ban Nha, Genoa vẫn là một đồng minh tài chính cốt lõi của Felipe trong suốt triều đại của ông. Hiệp ước cũng khẳng định quyền kiểm soát của Felipe đối với Milan, Napoli, Sicilia và Sardegna. Nhờ đó, toàn bộ miền nam nước Ý đều nằm dưới sự cai trị của Tây Ban Nha như một phần thuộc Vương triều Aragón. Ở miền bắc, Milan là một công quốc thuộc Đế quốc La Mã Thần thánh do Felipe nắm giữ. Được gắn liền với Vương quốc Napoli, Nhà nước Presidi ở Toscana đã trao cho Philip khả năng giám sát tuyến giao thông hàng hải đến miền nam nước Ý, trong khi việc nhượng Công quốc Siena cho Đại công quốc Tuscany mới thành lập đã bảo đảm thực thể này sẽ duy trì vị thế đồng minh với Tây Ban Nha. Hội đồng Ý (Council of Italy) đã được Felipe thành lập nhằm phối hợp và quản lý việc cai trị của ông đối với các bang Milan, Napoli và Sicilia. Cuối cùng, hiệp ước này đã chấm dứt cuộc chiến kéo dài 60 năm giữa nhà Pháp và nhà Habsburg nhằm giành quyền bá chủ ở Ý. Nó cũng đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ hòa bình giữa Giáo hoàng và Felipe khi lợi ích của họ tại châu Âu dần hội tụ, dù những khác biệt chính trị vẫn tồn tại và các mâu thuẫn ngoại giao rốt cuộc cũng tái xuất hiện về sau.

Vào thời điểm chiến tranh kết thúc năm 1559, Tây Ban Nha thời Habsburg đã thiết lập vững chắc vị thế là cường quốc số một châu Âu, đẩy nước Pháp vào thế bất lợi. Tại Pháp, Vua Henri II đã bị thương tử vong trong một trận đấu thương ngựa được tổ chức trong chuỗi lễ hội ăn mừng hòa bình. Cái chết của ông dẫn đến việc người con trai 15 tuổi François II lên ngôi, nhưng vị vua trẻ này cũng sớm qua đời ngay sau đó. Vương triều Pháp rơi vào cảnh hỗn loạn, và tình hình càng trở nên trầm trọng hơn khi Chiến tranh Tôn giáo Pháp bùng nổ, kéo dài trong nhiều thập kỷ sau đó. Các quốc gia ở Ý bị giảm xuống thành các thế lực hạng hai, nhường chỗ cho Tây Ban Nha thống trị toàn bộ bán đảo. Mặt khác, cái chết của Mary Tudor vào năm 1558 đã tạo điều kiện để Felipe gắn kết hiệp ước bằng cuộc hôn nhân với con gái của Henri II là Elisabeth của Valois. Cuộc hôn nhân này về sau đã mang lại cho ông cơ sở để đòi quyền kế vị ngai vàng Pháp nhân danh con gái của ông với Elisabeth là Isabel Clara Eugenia.

Pháp

Tập tin:PhilipIIbust.JPG
Tượng bán thân bằng đá cẩm thạch của Felipe II của Tây Ban Nha do Pompeo Leoni thực hiện, trưg bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan.

Các Cuộc Chiến tranh Tôn giáo tại Pháp (1562–1598) chủ yếu diễn ra giữa người Công giáo và người Kháng Cách Pháp. Cuộc xung đột còn gắn liền với sự tranh giành quyền lực giữa các đại quý tộc Pháp, tiêu biểu là Nhà BourbonNhà Guise, trong khi cả hai phe đều nhận được sự hậu thuẫn từ các thế lực nước ngoài. Felipe II tự nhận mình là hậu duệ của Hoàng đế Constantinus ICharlemagne, qua đó biện minh cho việc can thiệp vào cuộc chiến tôn giáo ở Pháp cũng như những nỗ lực liên tục nhằm phế truất Henri IV của Pháp.[19]

Năm 1556, Felipe II ký Hiệp ước Vaucelles với Henri II của Pháp. Theo hiệp ước này, vùng Franche-Comté thuộc Bourgogne sẽ được trao cho Felipe. Tuy nhiên, hiệp ước nhanh chóng bị phá vỡ, và Pháp cùng Tây Ban Nha lại tiếp tục chiến tranh tại miền bắc nước Pháp và bán đảo Ý trong những năm tiếp theo. Những chiến thắng của quân Tây Ban Nha tại Saint-Quentin và Gravelines đã dẫn đến Hòa ước Cateau-Cambrésis (1559), trong đó Pháp chính thức công nhận chủ quyền của Tây Ban Nha đối với Franche-Comté.

Trong Chiến tranh Kế vị Bồ Đào Nha, ứng cử viên tranh ngôi António, sau thất bại đã chạy sang Pháp. Khi quân đội Felipe vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát quần đảo Azores, António cùng một hạm đội Anh–Pháp lớn do Filippo Strozzi, một quý tộc Florence phục vụ nước Pháp, chỉ huy đã tiến đến quần đảo này. Ngày 26 tháng 7 năm 1582, Trận hải chiến Terceira diễn ra ngoài khơi đảo São Miguel thuộc Azores. Hải quân Tây Ban Nha đã đánh bại liên quân Anh–Pháp đang cố duy trì quyền kiểm soát Azores cho António. Đây cũng là lực lượng hải quân lớn nhất mà Pháp từng điều động ra hải ngoại trước thời Louis XIV.[20]

Chiến thắng tại Terceira được tiếp nối bằng Trận Azores, trong đó quân Bồ Đào Nha trung thành với António, được quân Anh và Pháp hỗ trợ, đối đầu với liên quân Tây Ban Nha–Bồ Đào Nha trung thành với Felipe dưới quyền đô đốc Álvaro de Bazán. Thắng lợi này giúp Felipe II hoàn tất việc sáp nhập Bồ Đào Nha vào Đế quốc Tây Ban Nha.[21]

Trong Các cuộc Chiến tranh Tôn giáo tại Pháp, Felipe II còn tài trợ cho Liên minh Công giáo Pháp. Ông trực tiếp can thiệp vào giai đoạn cuối của cuộc chiến (1589–1598), ra lệnh cho Alessandro Farnese, Công tước Parma, tiến quân vào Pháp nhằm lật đổ Henri IV, đồng thời nuôi tham vọng đưa người con gái yêu quý Isabel Clara Eugenia lên ngai vàng Pháp. Dù mẹ của Isabel là Elisabeth xứ Valois, vương nữ Pháp, đã từ bỏ quyền thừa kế khi kết hôn với Felipe, và Luật Salic vẫn có hiệu lực tại Pháp, nhưng Nghị viện Paris, lúc đó do phe Công giáo kiểm soát, vẫn tuyên bố Isabel Clara Eugenia là "người thừa kế hợp pháp của nước Pháp". Sự can thiệp của Felipe II, bao gồm việc cử Công tước Parma giải vây Paris năm 1590 và Rouen năm 1592, đã góp phần quan trọng trong việc cứu vãn sự nghiệp của Liên minh Công giáo trước một vị vua theo Tin Lành.

Năm 1593, Henri IV quyết định cải sang Công giáo. Sau nhiều năm chiến tranh, phần lớn người Công giáo Pháp chuyển sang ủng hộ ông, trong khi phe cực đoan của Liên minh Công giáo ngày càng bị xem là công cụ của Tây Ban Nha. Đầu năm 1595, Henri IV chính thức tuyên chiến với Tây Ban Nha nhằm chứng minh rằng Felipe II đang lợi dụng tôn giáo để can thiệp vào chủ quyền nước Pháp, đồng thời xóa bỏ nghi ngờ của phe Kháng Cách rằng ông đã trở thành bù nhìn của Madrid sau khi cải đạo.[22]

Chiến thắng của quân Pháp tại Trận Fontaine-Française ở Bourgogne ngày 5 tháng 6 năm 1595 đã đánh dấu sự suy sụp của Liên minh Công giáo tại Pháp. Người Pháp cũng tiến hành chiến dịch xâm nhập vùng Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, chiếm được Ham và thảm sát đồn binh Tây Ban Nha tại đây, khiến quân Tây Ban Nha nổi giận. Đáp trả, quân Tây Ban Nha mở cuộc phản công lớn, lần lượt chiếm Doullens, CambraiLe Catelet; riêng tại Doullens, khoảng 4.000 cư dân đã bị sát hại.[23] Ngày 24 tháng 4 năm 1596, quân Tây Ban Nha tiếp tục chiếm Calais. Sau khi họ chiếm Amiens vào tháng 3 năm 1597, quân Pháp bao vây thành phố và tái chiếm thành công vào tháng 9 cùng năm. Sau đó, Henri IV bắt đầu đàm phán hòa bình với Tây Ban Nha.

Chiến tranh chính thức kết thúc bằng Hòa ước Vervins vào tháng 5 năm 1598. Hiệp ước này phần lớn tái khẳng định các điều khoản của Hòa ước Cateau-Cambrésis năm 1559, đồng thời quân đội và viện trợ tài chính của Tây Ban Nha được rút khỏi Pháp. Cùng năm đó, Henri IV ban hành Sắc lệnh Nantes, trao cho người Kháng Cách Pháp mức độ tự do tôn giáo đáng kể. Mặc dù các cuộc can thiệp quân sự của Felipe II không thể phế truất Henri IV hay tiêu diệt đạo Tin Lành tại Pháp, chúng vẫn góp phần quan trọng giúp phe Công giáo buộc Henri phải cải sang Công giáo, qua đó bảo đảm rằng Công giáo tiếp tục giữ vị trí quốc giáo và tôn giáo chiếm đa số tại Pháp một kết quả có ý nghĩa đặc biệt đối với vị quốc vương Công giáo sùng đạo của Tây Ban Nha.

Địa Trung Hải

Tập tin:Felipe IV offers Ferdinand to Glory.jpg
Titian; sau trận Lepanto năm 1571, Felipe dâng người thừa kế đoản mệnh của mình là Fernando cho Vinh quang trong bức tranh ngụ ngôn này.

Trong những năm đầu trị vì, Felipe II đặc biệt lo ngại trước sự trỗi dậy của Đế quốc Ottoman dưới thời Suleiman Đại đế. Nỗi lo về sự thống trị của người Hồi giáo tại Địa Trung Hải đã khiến ông theo đuổi một chính sách đối ngoại quyết liệt nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Ottoman.

Năm 1558, đô đốc Ottoman Piyale Pasha chiếm được quần đảo Baleares, đặc biệt tàn phá nghiêm trọng đảo Menorca, bắt nhiều cư dân làm nô lệ và cướp phá các vùng ven biển Tây Ban Nha. Trước mối đe dọa ngày càng gia tăng này, Felipe II kêu gọi Giáo hoàng cùng các cường quốc châu Âu hợp sức chống Ottoman. Sau những thất bại mà cha ông từng gánh chịu trước Hayreddin Barbarossa năm 1541, các cường quốc hải quân Địa Trung Hải như Tây Ban Nha và Cộng hòa Venezia ngày càng e dè khi đối đầu với Ottoman, khiến huyền thoại về "sự bất khả chiến bại của người Thổ Nhĩ Kỳ" lan rộng khắp châu Âu.

Năm 1560, Felipe II tổ chức một Liên minh Thần thánh gồm Tây Ban Nha, Cộng hòa Venezia, Cộng hòa Genova, Lãnh địa Giáo hoàng, Công quốc SavoiaHiệp sĩ Malta. Hạm đội liên quân tập kết tại Messina với khoảng 200 chiến thuyền (gồm 60 galley và 140 tàu các loại khác), chở khoảng 30.000 binh sĩ dưới quyền chỉ huy của Giovanni Andrea Doria, cháu của danh tướng Andrea Doria.

Tập tin:Tercio - Morados Viejos.svg
Cờ hiệu của các đơn vị tercios morados thuộc quân đội Tây Ban Nha dưới thời Felipe II.

Ngày 12 tháng 3 năm 1560, liên quân chiếm được đảo Djerba, vị trí chiến lược kiểm soát tuyến đường biển giữa AlgerTripoli. Đáp lại, Suleiman cử một hạm đội gồm 120 chiến thuyền do Piyale Pasha chỉ huy đến Djerba vào ngày 9 tháng 5 năm 1560. Trận chiến kéo dài đến ngày 14 tháng 5, khi quân Ottoman dưới quyền Piyale Pasha và Turgut Reis giành thắng lợi áp đảo trong Trận Djerba. Liên minh Thần thánh mất khoảng 60 chiến thuyền (30 galley) và 20.000 binh sĩ, trong khi Giovanni Andrea Doria chỉ kịp trốn thoát trên một con tàu nhỏ. Ottoman sau đó tái chiếm pháo đài Djerba; chỉ huy Tây Ban Nha Álvaro de Sande bị bắt sau khi nỗ lực đào thoát bằng đường biển.

Năm 1563, lợi dụng tình hình chính trị thuận lợi, Chính quyền Algiers mở các cuộc vây hãm Oran và Mers El Kébir nhằm đánh bật sự hiện diện của Tây Ban Nha tại Bắc Phi nhưng thất bại. Năm sau, hải quân Tây Ban Nha sau khi được Felipe II tái thiết đã chiếm lại Peñón de Vélez de la Gomera. Cùng thời gian đó, Ottoman mở cuộc viễn chinh lớn tấn công Malta, bao vây và chiếm được một số pháo đài trên đảo. Tuy nhiên, quân tiếp viện Tây Ban Nha dưới quyền García de Toledo, cùng với Álvaro de Sande vừa được giải cứu, đã đánh bật quân Ottoman khỏi Malta.

Mối đe dọa nghiêm trọng từ sự thống trị của Ottoman tại Địa Trung Hải cuối cùng bị chặn đứng trong một trong những trận hải chiến quyết định nhất lịch sử: Trận Lepanto năm 1571. Dưới quyền chỉ huy của người em cùng cha khác mẹ của Felipe II là Don Juan của Áo và đô đốc Álvaro de Bazán, hạm đội Liên minh Thần thánh đã phá hủy gần như toàn bộ hạm đội Ottoman. Năm 1573, một hạm đội khác do Felipe II cử đi, tiếp tục do Don Juan chỉ huy, đã tái chiếm Tunis từ tay Ottoman. Tuy nhiên, người Ottoman nhanh chóng khôi phục sức mạnh hải quân. Năm 1574, Uluç Ali Reis dẫn đầu lực lượng gồm khoảng 250 chiến thuyền tái chiếm Tunis sau cuộc vây hãm kéo dài 40 ngày, khiến hàng nghìn binh sĩ Tây Ban Nha và Ý bị bắt làm tù binh. Dù vậy, chiến thắng tại Lepanto vẫn được xem là bước ngoặt lịch sử, làm thay đổi cán cân quyền lực trên biển Địa Trung Hải và chấm dứt tham vọng thống trị tuyệt đối của Đế quốc Ottoman tại khu vực này. Đến năm 1585, Tây Ban Nha và Ottoman ký kết một hiệp ước hòa bình, khép lại nhiều thập niên đối đầu quyết liệt trên Địa Trung Hải.

Eo biển Magellan

Tập tin:Philip II of Spain armor DSC02246.JPG
Bộ giáp của Felipe II

Dưới triều đại Felipe II, Tây Ban Nha coi Thái Bình Dương là một mare clausum ("biển khép kín"), tức vùng biển chỉ dành riêng cho Tây Ban Nha và đóng cửa đối với các cường quốc hàng hải khác. Khi đó, eo biển Magellan là tuyến đường biển duy nhất được người châu Âu biết đến nối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương, vì vậy Tây Ban Nha thường xuyên cử các hạm đội tuần tra nhằm ngăn chặn tàu thuyền nước ngoài đi qua tuyến đường chiến lược này.[24]

Để chấm dứt hoạt động hàng hải của các đối thủ tại eo biển Magellan, Phó vương Peru Francisco de Toledo đã giao cho nhà thám hiểm Pedro Sarmiento de Gamboa khảo sát khu vực và thành lập các khu định cư dọc theo bờ eo biển.[25]

Năm 1584, Pedro Sarmiento de Gamboa thành lập hai thuộc địa là Nombre de Jesús và Ciudad del Rey Don Felipe. Thành phố thứ hai được xây dựng ở phía bắc eo biển với khoảng 300 người định cư.[26][27] Tuy nhiên, các khu định cư mới nhanh chóng rơi vào khủng hoảng do tỷ lệ tử vong rất cao. Nguyên nhân bao gồm các vụ hành quyết, xung đột nội bộ, giao tranh với người bản địa và dịch bệnh lan rộng.[28] Tinh thần suy sụp của những người định cư, vốn đã xuất hiện ngay từ khi đoàn thám hiểm rời Tây Ban Nha, cũng góp phần khiến dự án thất bại.[28] Những khó khăn kéo dài trên hành trình đến eo biển càng làm tình hình thêm trầm trọng.[28] Mặc dù Pedro Sarmiento nhiều lần cầu cứu triều đình, Felipe II hầu như không có hành động hỗ trợ đáng kể. Các nhà sử học cho rằng điều này xuất phát từ việc nguồn lực của Tây Ban Nha đang bị căng thẳng nghiêm trọng bởi các cuộc chiến chống Anh và cuộc nổi dậy của người Hà Lan.[29]

Năm 1587, khi các tư nhân vũ trang người Anh đi qua khu vực, họ đã đổi tên Ciudad del Rey Don Felipe thành Puerto del Hambre ("Cảng Đói").[30] Khi nhà thám hiểm người Anh Thomas Cavendish cập bến tại đây cùng năm, ông chỉ còn thấy những tàn tích của khu định cư; phần lớn cư dân đã chết vì đói rét và điều kiện sinh tồn khắc nghiệt.[31] Thất bại của Tây Ban Nha trong việc thuộc địa hóa eo biển Magellan khiến quần đảo Chiloé trở thành tiền đồn quan trọng bảo vệ vùng tây Patagonia trước các cuộc xâm nhập của nước ngoài.[32] Cùng với Valdivia, Chiloé đóng vai trò như những trạm tiền tiêu, nơi chính quyền Tây Ban Nha thu thập thông tin tình báo về toàn bộ khu vực Patagonia.[33]

Cuộc nổi dậy tại Hà Lan

Tập tin:Philip II of Spain berating William the Silent Prince of Orange by Cornelis Kruseman.jpg
Bức tranh "Felipe II khiển trách Willem xứ Oranje", tranh của Cornelis Kruseman.

Việc Felipe II cai trị Mười bảy tỉnh Hà Lan gặp phải nhiều khó khăn và cuối cùng dẫn đến cuộc chiến tranh kéo dài từ năm 1568. Khi rời Hà Lan để trở về Tây Ban Nha năm 1559, ông bổ nhiệm người em cùng cha khác mẹ là Margaret xứ Parma làm Toàn quyền Hà Lan. Tuy nhiên, Felipe buộc bà phải tuân theo chỉ đạo của Hồng y Antoine Perrenot de Granvelle, một nhân vật bị giới quý tộc Hà Lan hết sức căm ghét. Mặc dù đang ở Madrid, cách Hà Lan hơn hai tuần đường cưỡi ngựa, Felipe vẫn cố gắng trực tiếp kiểm soát mọi công việc tại đây. Chính sách thuế khóa nặng nề cùng việc đàn áp không ngừng những người Kháng Cách đã làm gia tăng sự bất mãn trong dân chúng. Năm 1566, các nhà truyền giáo Tin Lành kích động phong trào phá hủy tượng ảnh Công giáo, được gọi là Cơn cuồng phá tượng (Beeldenstorm). Để đối phó với làn sóng Kháng Cách đang lan rộng, Felipe cử Fernando Álvarez de Toledo, Công tước Alba, đem quân đàn áp. Năm 1568, Công tước Alba cho xử tử hai quý tộc nổi tiếng là Lamoral, Bá tước Egmont và Philip de Montmorency, Bá tước Horn, ngay tại quảng trường trung tâm Bruxelles, khiến tầng lớp quý tộc Hà Lan càng thêm xa lánh chính quyền Tây Ban Nha. Trong những năm tiếp theo, quân đội Tây Ban Nha tiến hành nhiều cuộc tàn sát dân thường tại Mechelen,[34] Naarden,[35] Zutphen[34]Haarlem. Năm 1571, Alba còn cho dựng tại Antwerpen một bức tượng đồng mô tả chính mình cưỡi ngựa giẫm đạp lên những người Hà Lan nổi dậy. Bức tượng được đúc từ số đại bác thu được sau Trận Jemmingen năm 1568 và lấy cảm hứng từ hình tượng Thánh James "Kẻ diệt người Moor". Hành động này gây phẫn nộ sâu sắc đến mức Felipe II sau đó buộc phải ra lệnh phá hủy bức tượng.[36]

Năm 1572, Willem, Thân vương xứ Orange và là thủ lĩnh phe nổi dậy, trở về Hà Lan cùng một đội quân Kháng Cách. Tuy nhiên, ông chỉ giữ được hai tỉnh HollandZeeland. Sau thất bại của quân Tây Ban Nha trong Cuộc vây hãm Alkmaar năm 1573, do Fadrique Álvarez de Toledo chỉ huy,[36] Công tước Alba bị triệu hồi và thay thế bởi Luis de Requesens y Zúñiga. Alba từng khoe rằng ông đã thiêu sống hoặc xử tử khoảng 18.600 người tại Hà Lan,[37] chưa kể hàng chục nghìn người khác bị sát hại trong chiến tranh, bao gồm nhiều phụ nữ và trẻ em. Chỉ trong một năm, khoảng 8.000 người bị treo cổ hoặc thiêu sống, và tổng số nạn nhân dưới thời Alba được ước tính không dưới 50.000 người.[38] Dưới quyền Requesens, Đạo quân Flanders đạt quân số khoảng 86.000 người vào năm 1574 và vẫn giữ ưu thế quân sự. Ngày 14 tháng 4 năm 1574, quân Tây Ban Nha đánh bại đội quân lính đánh thuê Đức của Lodewijk xứ Nassau trong Trận Mookerheyde, khiến Lodewijk và em trai ông là Hendrik đều tử trận.

Tập tin:Beloningsbrief van koning Filips II van Spanje aan Balthasar Gerards, 1590.jpg
Thư treo thưởng của Felipe II gửi cho gia đình Balthasar Gerards, kẻ ám sát Willem xứ Oranje, năm 1590.

Tình trạng lạm phát nghiêm trọng cùng việc các đoàn tàu chở kho báu từ Tân Thế giới bị thất lạc khiến Felipe II không thể trả lương đều đặn cho quân đội. Hậu quả là năm 1576 xảy ra sự kiện "Cơn thịnh nộ của quân Tây Ban Nha" tại Antwerpen, khi binh lính nổi loạn, cướp phá thành phố, đốt hơn 1.000 ngôi nhà và giết khoảng 6.000 cư dân.[39] Để khôi phục tình hình, Felipe II cử Alessandro Farnese, Công tước Parma, làm Toàn quyền Hà Lan thuộc Tây Ban Nha từ năm 1578 đến năm 1592. Farnese đánh bại quân nổi dậy trong Trận Gembloux (1578)[40] và lần lượt tái chiếm nhiều thành phố ở miền nam như Maastricht (1579), Tournai (1581), Oudenaarde (1582), Dunkirk (1583), Bruges (1584), Ghent (1584) và đặc biệt là Antwerpen năm 1585.[41]

Trong khi đó, các tỉnh miền bắc liên kết với nhau thông qua Liên minh Utrecht (1579). Năm 1581, Các Quốc hội Tỉnh thông qua Đạo luật Từ bỏ, chính thức tuyên bố không còn công nhận Felipe II là quốc vương của họ nữa. Các tỉnh miền nam, tương ứng với lãnh thổ Bỉ và Luxembourg ngày nay, vẫn tiếp tục nằm dưới sự cai trị của Tây Ban Nha. Năm 1584, Willem bị ám sát bởi Balthasar Gérard, sau khi Felipe II treo thưởng 25.000 đồng crown cho bất kỳ ai giết được ông và gọi ông là "tai họa của toàn thể Kitô giáo và kẻ thù của nhân loại". Sau cái chết của Willem, con trai ông là Maurits xứ Nassau tiếp tục lãnh đạo phong trào khởi nghĩa với sự hỗ trợ của Nữ vương Elizabeth I của Anh. Nhờ sức mạnh kinh tế ngày càng tăng trong khi Tây Ban Nha lâm vào khủng hoảng tài chính kéo dài, người Hà Lan dần giành ưu thế. Cuộc chiến chỉ kết thúc vào năm 1648, khi Cộng hòa Hà Lan được Tây Ban Nha chính thức công nhận độc lập theo Hòa ước Münster, một phần của Hòa ước Westphalia. Sau tám mươi năm giao tranh, cuộc chiến đã gây tổn thất nhân mạng vô cùng to lớn, với khoảng 600.000–700.000 người thiệt mạng, trong đó có 350.000–400.000 thường dân chết vì bệnh tật, nạn đói và các hành vi mà ngày nay được xem là tội ác chiến tranh.[42]

Tập tin:Anthony I of Portugal.jpg
António, Tu viện trưởng Crato

Quốc vương Bồ Đào Nha

Năm 1578, Quốc vương Sebastião I của Bồ Đào Nha tử trận trong Trận Alcácer Quibir mà không có người thừa kế, khiến đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kế vị. Người kế vị ông là Hồng y Henrique, em trai của ông nội Sebastião, nhưng vị vua lớn tuổi này cũng không có con do đã tuyên thệ sống độc thân theo giáo luật. Khi Henrique qua đời năm 1580, ba người cháu của Quốc vương Manuel I cùng tuyên bố quyền kế vị gồm Catarina, Công tước phu nhân xứ Bragança; António, Tu viện trưởng Crato và Felipe II của Tây Ban Nha. António được nhiều thành phố tại Bồ Đào Nha tôn làm vua, nhưng Hội đồng Nhiếp chính ủng hộ Felipe II đã chạy sang Tây Ban Nha và công nhận ông là người thừa kế hợp pháp của Henrique.

Tập tin:ImperioDeFelipeII.svg
Bản đồ Đế quốc Tây Ban Nha dưới thời Felipe II, Felipe III và Felipe IV, thể hiện các lãnh thổ đã được xác lập hoặc tuyên bố chủ quyền, các vùng biển thuộc yêu sách độc quyền (mare clausum) và các yếu tố địa lý liên quan.

Cùng năm đó, Felipe II đưa quân tiến vào Bồ Đào Nha và đánh bại lực lượng của António trong Trận Alcântara. Quân Bồ Đào Nha chịu khoảng 4.000 thương vong hoặc bị bắt, trong khi quân Tây Ban Nha chỉ mất khoảng 500 người.[43] Sau chiến thắng, đội quân do Fernando Álvarez de Toledo, Công tước Alba[44] chỉ huy tiến vào Lisboa và buộc đất nước quy phục.[45] Ngày 17 tháng 7 năm 1580, Felipe II chính thức lên ngôi với tước hiệu Filipe I của Bồ Đào Nha,[46] được Nghị viện Tomar công nhận là quốc vương hợp pháp. Sự kiện này mở đầu cho Liên minh Iberia (1580–1640), khi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cùng nằm dưới quyền cai trị của Vương triều Habsburg Tây Ban Nha trong một liên minh cá nhân kéo dài gần 60 năm. Việc kế vị ngôi vua Bồ Đào Nha giúp Felipe kiểm soát toàn bộ Đế quốc Bồ Đào Nha, bao gồm các thuộc địa và tuyến thương mại trải dài từ châu Phi, châu Á đến châu Mỹ. Sau khi trở về Madrid năm 1583, ông bổ nhiệm người cháu Albrecht của Áo làm phó vương tại Lisboa và thành lập Hội đồng Bồ Đào Nha để phụ trách các vấn đề của vương quốc. Felipe cũng trao nhiều chức vụ quan trọng tại triều đình Tây Ban Nha cho quý tộc Bồ Đào Nha, đồng thời cho phép nước này tiếp tục duy trì hệ thống pháp luật, tiền tệ và bộ máy hành chính riêng, qua đó bảo đảm mức độ tự trị đáng kể trong khuôn khổ Liên minh Iberia.

Quan hệ với Anh và Ireland

Quốc vương của nước Anh và Ireland

Tập tin:Philip II.jpg
Chân dung Vương tử Felipe do Titian vẽ năm 1551, khi ông khoảng 24 tuổi, trong bộ áo giáp được trang trí vô cùng lộng lẫy.
Tập tin:Philip & Mary Irish groat 602446.jpg
Đồng xu groat của Ireland có khắc chữ viết tắt và chân dung của Felipe và Mary.

Cha của Felipe đã sắp xếp cuộc hôn nhân giữa ông với Nữ vương 37 tuổi Mary I của Anh, người chị họ bên ngoại của Hoàng đế Karl V. Cha ông cũng nhường lại cho Felipe Vương quốc Napoli cùng với quyền tuyên bố đối với Vương quốc Jerusalem. Lễ cưới được tổ chức tại Nhà thờ Winchester vào ngày 25 tháng 7 năm 1554, chỉ hai ngày sau lần gặp mặt đầu tiên của hai người. Đối với Felipe, cuộc hôn nhân này hoàn toàn mang mục đích chính trị. Lãnh chúa Stephen Gardiner và Hạ viện Anh đã kiến nghị Mary nên kết hôn với một người Anh, ưu tiên Edward Courtenay.

Theo các điều khoản của Đạo luật Hôn nhân của Nữ vương Mary với Felipe của Tây Ban Nha, Felipe được hưởng các tước hiệu và vinh dự của Mary I trong suốt thời gian hôn nhân. Tất cả các văn kiện chính thức, bao gồm cả các đạo luật của Quốc hội, đều phải ghi tên của cả hai và Quốc hội được triệu tập dưới thẩm quyền chung của cặp đôi hoàng gia. Tiền xu cũng được đúc với hình chân dung của cả Mary và Philip. Hiệp ước hôn nhân còn quy định rằng nước Anh không có nghĩa vụ hỗ trợ quân sự cho cha của Felipe trong bất kỳ cuộc chiến nào. Hội đồng Cơ mật chỉ thị rằng Felipe và Mary phải cùng ký các văn kiện hoàng gia, và điều này được hợp pháp hóa bằng Đạo luật Hôn nhân của Nữ vương Mary năm 1554 (Phiên họp tháng 3 lần thứ 1, chương 2), trao cho ông danh hiệu Quốc vương và quy định rằng ông sẽ hỗ trợ Nữ vương trong việc cai trị các vương quốc và lãnh thổ của bà.[47] Nói cách khác, Felipe cùng trị vì với vợ mình.[48][49] Vì vị tân vương không đọc được tiếng Anh, nên mọi tài liệu về quốc sự đều được yêu cầu ghi bằng tiếng Latinh hoặc tiếng Tây Ban Nha.[49][50][51]

Tập tin:Felipe of Spain and MariaTudor.jpg
Felipe và Mary I của Anh, năm 1558

Quốc hội Ireland (Đạo luật Phản quốc năm 1556)[52] và Quốc hội Anh (Đạo luật Phản quốc năm 1554) đều ban hành luật coi việc phủ nhận quyền lực hoàng gia của Felipe là tội phản quốc nghiêm trọng. Felipe và Mary xuất hiện cùng nhau trên tiền xu, với một vương miện duy nhất treo giữa hai người như biểu tượng của sự đồng trị vì. Quốc huy của Anh cũng khắc họ ngồi trên ngai vàng và cùng nắm giữ vương miện.[49] Quốc huy cũng được ghép với quốc huy của Felipe để thể hiện quyền cai trị chung của hai người.[53][54] Trong thời gian đồng trị vì, họ tiến hành chiến tranh với Pháp, dẫn đến việc nước Anh mất Calais, vùng lãnh thổ cuối cùng còn lại của Anh trên đất Pháp.

Vợ của Felipe kế vị Vương quốc Ireland, nhưng tước hiệu Quốc vương Ireland vốn được cha của Mary là Henry VIII tạo ra vào năm 1542 sau khi bị Giáo hoàng rút phép thông công, nên ban đầu không được các quân chủ Công giáo công nhận. Năm 1555, Giáo hoàng Paul IV đã khắc phục vấn đề này bằng cách ban hành một sắc chỉ giáo hoàng, chính thức công nhận Felipe và Mary là Quốc vương và Nữ vương hợp pháp của Ireland.[55] Sau khi Felipe kế vị ngai vàng Tây Ban Nha năm 1556, tước hiệu chung của hai vợ chồng là:

Felipe và Mary, bởi ân sủng của Thiên Chúa, Quốc vương và Nữ vương Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Jerusalem, Hai Sicilia và Ireland, Người bảo vệ Đức tin, Đại vương công Áo, Công tước xứ Bourgogne, Milano và Brabant, Bá tước Habsburg, Flanders và Tyrol.

Tuy nhiên, hai người không có con. Mary qua đời vào năm 1558, trước khi liên minh này có thể phục hồi Giáo hội Công giáo La Mã tại Anh và xứ Wales. Sau khi Mary mất, Philip mất quyền đối với ngai vàng Anh (bao gồm cả các yêu sách truyền thống của Anh đối với ngai vàng Pháp) và không còn là Quốc vương của Anh, Ireland và (theo yêu sách) Pháp nữa.

Chắt của Felipe là Philippe I, Công tước Orléans, kết hôn với Henrietta của Anh vào năm 1661. Đến năm 1807, quyền kế vị ngai vàng Anh theo dòng Jacobite đã được chuyển sang hậu duệ của người con gái của họ là Anne Marie.

Sau cái chết của Mary I

Tập tin:Dominios de Felipe II.svg
Lãnh thổ thuộc quyền cai trị của Felipe ở châu Âu và Bắc Phi năm 1581

Sau khi Mary I qua đời, ngai vàng nước Anh được truyền cho Elizabeth I. Philip không muốn cắt đứt mối liên hệ với Anh và đã gửi lời cầu hôn Elizabeth. Tuy nhiên, bà trì hoãn việc trả lời, và trong thời gian đó biết được rằng Felipe cũng đang cân nhắc một cuộc hôn nhân liên minh với nhà Valois của Pháp. Elizabeth I là con gái theo đạo Tin Lành của Henry VIIIAnne Boleyn. Cuộc hôn nhân này bị nhiều người Công giáo Anh xem là không hợp pháp, vì họ không công nhận việc Henry VIII hủy hôn với Catherine xứ Aragon cũng như cuộc hôn nhân sau đó với Anne Boleyn. Do đó, họ cho rằng Mary, Nữ vương Scotland, chắt gái theo Công giáo của Henry VII, mới là người có quyền kế vị hợp pháp ngai vàng Anh.

Trong nhiều năm, Felipe vẫn duy trì hòa bình với nước Anh và thậm chí còn bảo vệ Elizabeth trước lời đe dọa rút phép thông công của Giáo hoàng. Đây là một biện pháp nhằm duy trì thế cân bằng quyền lực ở châu Âu. Tuy nhiên, về sau Elizabeth liên minh với các lực lượng nổi dậy Tin Lành tại Hà Lan. Đồng thời, tàu thuyền Anh bắt đầu tiến hành hoạt động cướp biển được nhà nước bảo trợ nhằm vào tàu buôn Tây Ban Nha và đe dọa các đoàn tàu chở kho báu từ Tân Thế giới. Trong một vụ việc, tàu Anh còn tấn công một cảng của Tây Ban Nha. Giọt nước tràn ly đối với Felipe là Hiệp ước Nonsuch năm 1585, theo đó Elizabeth cam kết gửi quân và tiếp tế cho lực lượng nổi dậy chống Tây Ban Nha tại Hà Lan. Mặc dù có thể xem hành động này là phản ứng trước Hiệp ước Joinville giữa Felipe và Liên minh Công giáo Pháp, ông vẫn coi đây là hành động tuyên chiến của Anh.

Việc Mary, Nữ vương Scotland, bị xử tử năm 1587 đã chấm dứt hy vọng của Felipe về việc đưa một vị quân chủ Công giáo lên ngai vàng Anh. Vì vậy, ông chuyển sang kế hoạch trực tiếp hơn: xâm lược nước Anh và khôi phục Công giáo tại đây. Năm 1588, ông phái một hạm đội khổng lồ, được gọi là Hạm đội Tây Ban Nha, với nhiệm vụ hội quân cùng Đạo quân Flanders rồi đưa quân vượt eo biển Manche để xâm chiếm Anh. Tuy nhiên, chiến dịch này ngay từ đầu đã gặp nhiều bất lợi do sự chậm trễ kéo dài, thiếu liên lạc giữa Felipe II và các chỉ huy, cũng như việc thiếu một vịnh nước sâu thích hợp cho hạm đội. Khi tiến đến điểm tập kết, một cơn bão dữ dội trên eo biển Manche đã đánh tan nhiều tàu Tây Ban Nha. Sau đó diễn ra trận giao chiến quyết liệt với Hải quân Hoàng gia Anh[56] buộc hạm đội Tây Ban Nha phải rút lui. Phần lớn hạm đội cuối cùng bị phá hủy bởi thời tiết khắc nghiệt. Mặc dù Hải quân Anh không trực tiếp tiêu diệt trong Trận Gravelines, họ đã ngăn cản hạm đội này hội quân với lực lượng bộ binh dự định đưa sang Anh. Vì vậy, dù chỉ giành được một thắng lợi chiến thuật nhỏ, người Anh lại đạt được một thắng lợi chiến lược rất lớn, khi ngăn chặn thành công cuộc xâm lược nước Anh. Trong suốt một tuần giao chiến, quân Tây Ban Nha đã bắn khoảng 100.000 viên đạn đại bác, nhưng không một tàu chiến Anh nào bị hư hại nghiêm trọng.[57] Tuy nhiên, hơn 7.000 thủy thủ Anh đã chết vì dịch bệnh trong thời gian hoạt động quanh vùng biển Anh.

Thất bại của Hạm đội Tây Ban Nha đã tiếp thêm tinh thần mạnh mẽ cho phong trào Tin Lành trên khắp châu Âu. Nhiều người xem cơn bão đánh tan hạm đội là dấu hiệu của ý Chúa. Dù cuộc xâm lược bị đẩy lùi, Anh lại không thể tận dụng thắng lợi này. Năm sau, họ tổ chức một "Hạm đội phản công" (Counter-Armada) nhằm tấn công Tây Ban Nha nhưng thất bại nặng nề: 40 tàu bị chìm và khoảng 15.000 người thiệt mạng.[58] Tương tự, các cuộc cướp bóc trên biển và nỗ lực chiếm lãnh thổ tại vùng Caribe của người Anh cũng bị hải quân Tây Ban Nha đã phục hồi cùng hệ thống tình báo được cải thiện đánh bại, mặc dù thành phố Cádiz từng bị một lực lượng Anh-Hà Lan cướp phá sau khi thất bại trong việc chiếm đoàn tàu kho báu Tây Ban Nha. Nhà Habsburg cũng phản công thông qua các tàu tư nhân Dunkirk, gây thiệt hại ngày càng lớn cho hoạt động vận tải biển của Anh và Hà Lan.

Sau đó, Tây Ban Nha còn cho thêm hai cuộc hạm quân khác vào tháng 10 năm 1596 và tháng 10 năm 1597. Hạm quân năm 1596 bị bão đánh tan ngoài khơi miền bắc Tây Ban Nha, mất tới 72 trong số 126 tàu và khoảng 3.000 người thiệt mạng. Hạm quân năm 1597 bị thời tiết xấu cản trở khi đang tiến gần bờ biển Anh và không thể thực hiện kế hoạch. Chiến tranh Anh–Tây Ban Nha (1585–1604) kéo dài thêm nhiều năm và chỉ kết thúc sau khi cả Felipe II (mất năm 1598) và Elizabeth I (mất năm 1603) đều đã qua đời. Một phần cuộc chiến diễn ra trên bộ tại Ireland, Pháp và Hà Lan, nơi quân Anh gửi lực lượng viễn chinh sang chiến đấu chống Tây Ban Nha, trong khi Tây Ban Nha cố gắng hỗ trợ các cuộc nổi dậy của người Ireland.

Bệnh tật và Qua đời

Từ khoảng giữa thập niên 1570, Felipe II mắc bệnh gút mãn tính, căn bệnh khiến các khớp xương dần biến dạng và hạn chế khả năng vận động của ông. Đến những năm cuối đời, các cơn gút tái phát thường xuyên, kết hợp với sốt rét mãn tính và nhiều bệnh lý khác, khiến sức khỏe của ông suy giảm nghiêm trọng. Mặc dù vậy, Felipe vẫn tiếp tục trực tiếp xử lý công việc triều chính, duy trì thói quen xem xét tấu trình và ký các văn kiện nhà nước, khiến bộ máy hành chính vốn phụ thuộc nhiều vào quyết định của cá nhân quân chủ hoạt động chậm chạp hơn. Tháng 7 năm 1598, trong chuyến đi đến tu viện El Escorial, Felipe II lâm bệnh nặng với những cơn sốt tái phát, phù thũng, các vết loét nhiễm trùng ở chân, bệnh lỵ và tình trạng suy kiệt kéo dài. Dù các bác sĩ triều đình đã áp dụng nhiều phương pháp điều trị đương thời như trích máu, dẫn lưu mủ và đắp thuốc, tình trạng của ông vẫn không thuyên giảm. Trong những ngày cuối cùng, con gái ông là Vương nữ Isabel Clara Eugenia luôn túc trực bên cạnh cha. Theo các ghi chép đương thời, bà nhiều lần kêu lên rằng có người đang chạm vào các thánh tích vốn mang lại sự an ủi cho Felipe trong cơn hấp hối, mong ông tỉnh dậy để giữ chúng bên mình. Đến ngày 12 tháng 9, tình trạng của Felipe đã trở nên nguy kịch. Có lúc các đại thần tưởng rằng ông đã qua đời, nhưng ông chỉ khẽ mỉm cười, như muốn cho mọi người biết mình vẫn còn sống. Ông xin cây thánh giá của cha mẹ và hôn nhiều lần, sau đó cầm một cây nến đã được thánh hiến của Đức Mẹ Montserrat rồi cũng hôn lên cây nến ấy.[59]

Tập tin:EscorialAustria.jpg
Mộ của các Quốc vương Tây Ban Nha tại Tu viện San Lorenzo de El Escorial. Từ trên xuống dưới là phần mộ của Carlos I, Felipe II, Felipe IIIFelipe IV của Tây Ban Nha.

Ngày 13 tháng 9 năm 1598, Felipe II qua đời tại El Escorial, hưởng thọ 71 tuổi, sau một thời gian dài chống chọi với bệnh tật.[a][60] Trong những giờ phút cuối đời, ông được bao quanh bởi các linh mục, người thân và những cận thần thân tín. Phòng riêng của ông được bố trí gồm phòng chính, phòng ngủ, phòng làm việc và phòng nguyện theo cấu trúc của tu viện El Escorial.[61] Chiếc giường được đặt sao cho ông có thể theo dõi các nghi lễ phụng vụ tại bàn thờ chính của nhà thờ ngay từ phòng ngủ.[61] Mặc dù phải chịu nhiều đau đớn trong những tháng cuối đời, ông vẫn tiếp tục xem xét các văn kiện nhà nước và thư từ ngoại giao.[61] Các đại thần chứng kiến ông trút hơi thở cuối cùng, và theo lời thuật của những người đương thời, "linh hồn thánh thiện của ông đã rời khỏi trần thế để hưởng sự sống vĩnh hằng".[59] Bài điếu văn ca ngợi các đức tính của Felipe II thường được cho là do Tomás Fernández de Medrano, Lãnh chúa Valdeosera, tác giả República Mista (1602) và là cố vấn của triều đình dưới thời Felipe II và Felipe III biên soạn.[62]

Sau khi qua đời, thi hài của Felipe II được an táng tại Điện Pantheon các Quốc vương (Panteón de los Reyes) trong Tu viện Hoàng gia El Escorial, nơi an nghỉ của nhiều quân vương thuộc triều đại Habsburg và Bourbon của Tây Ban Nha.[63]

Felipe II từng cai trị một trong những đế quốc rộng lớn và đa dạng nhất lịch sử, bao gồm bán đảo Iberia, phần lớn châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, nhiều vùng ở châu Phi, Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, nhiều vùng của Ý và các lãnh thổ xa tận châu Á, trong đó có Philippines, quốc gia được đặt theo tên của ông.[61] Sau khi ông qua đời, ngai vàng được truyền cho người con trai 20 tuổi là Felipe III, người thừa hưởng một đế quốc rộng lớn nhưng đang phải đối mặt với tình trạng tài chính kiệt quệ.[60]

Di sản

Tập tin:Philip II's realms in 1598.png
Các lãnh thổ thuộc quyền cai trị của Felipe II vào năm 1598, được tô màu theo cơ quan hội đồng quản lý:   Castilla   Aragón   Bồ Đào Nha   Ý   Các vùng Indies[b]   Flanders

Dưới triều đại Felipe II, Tây Ban Nha đạt đến đỉnh cao quyền lực. Tuy nhiên, mặc dù ngày càng có nhiều vàng và bạc từ các mỏ ở châu Mỹ chảy vào ngân khố, cùng với nguồn lợi từ thương mại gia vị của Bồ Đào Nha và sự ủng hộ nhiệt thành của các lãnh thổ Habsburg đối với Phong trào Phản Cải cách, ông vẫn không thể dập tắt được đạo Tin Lành hay đánh bại cuộc nổi dậy của người Hà Lan. Trong những năm đầu trị vì, người Hà Lan có thể đã hạ vũ khí nếu Felipe từ bỏ nỗ lực đàn áp đạo Tin Lành, nhưng lòng sùng kính Công giáo sâu sắc của ông không cho phép điều đó. Ông là một tín đồ Công giáo mộ đạo và thể hiện thái độ bài xích điển hình của thế kỷ XVI đối với những tư tưởng tôn giáo khác biệt. Ông từng tuyên bố: "Thay vì để tôn giáo bị tổn hại dù chỉ nhỏ nhất trong việc phụng sự Thiên Chúa, ta thà mất toàn bộ lãnh thổ và cả một trăm mạng sống nếu có, vì ta không có ý định cũng như không mong muốn trở thành người cai trị những kẻ dị giáo."[64]

Để thực thi giáo lý Công giáo chính thống thông qua việc tăng cường hoạt động của Tòa án Dị giáo, sinh viên Tây Ban Nha bị cấm du học ở nước ngoài, còn những cuốn sách do người Tây Ban Nha in bên ngoài vương quốc đều bị cấm lưu hành. Ngoài việc cấm sách, Felipe II còn cho phép thiêu hủy ít nhất 70.000 cuốn sách. Ngay cả Tổng Giám mục Bartolomé Carranza của Toledo, một giáo sĩ rất được kính trọng, cũng bị Tòa án Dị giáo giam giữ suốt 17 năm chỉ vì công bố những quan điểm bị cho là có phần cảm tình với đạo Tin Lành. Việc thực thi nghiêm ngặt giáo lý chính thống này đã thành công trong việc giúp Tây Ban Nha tránh được những cuộc xung đột tôn giáo vốn đang chia rẽ nhiều quốc gia châu Âu khác.

Mặc dù quyết tâm tiêu diệt các tác phẩm bị coi là dị giáo, Felipe II vẫn bí mật sưu tập các sách bị cấm cho thư viện hoàng gia tại El Escorial. Thư viện của ông chứa khoảng 40.000 đầu sách, trong đó có 1.800 tác phẩm bằng tiếng Ả Rập, cùng hàng nghìn bản thảo quý hiếm. Những cuốn sách bị cấm được cất giữ trong một căn phòng ở tầng trên của thư viện. Ông đặc biệt say mê những cuốn sách hiếm, tự mình sưu tầm từ nhiều nơi và nghiên cứu, ghi chép về lịch sử cũng như các chủ sở hữu trước đó của chúng.

Một phần nhờ nền giáo dục nhân văn của Felipe, Trường phái Salamanca phát triển rực rỡ dưới thời ông trị vì. Martín de Azpilcueta, học giả được nhiều Giáo hoàng tại Roma hết sức kính trọng và được xem như một học giả uyên bác hàng đầu, đã xuất bản tác phẩm Manuale sive Enchiridion Confessariorum et Poenitentium (Roma, 1568), trở thành giáo trình kinh điển trong các trường học và thực hành giáo hội. Francisco Suárez, thường được xem là nhà kinh viện vĩ đại nhất sau Thomas Aquinas và là triết gia, thần học gia xuất sắc nhất còn sống vào thời đó, đã giảng dạy không chỉ tại Tây Ban Nha mà còn ở Roma (1580–1585), nơi Giáo hoàng Gregory XIII từng tham dự bài giảng đầu tiên của ông. Luis de Molina xuất bản tác phẩm De liberi arbitrii cum gratiae donis, divina praescientia, praedestinatione et reprobatione concordia (1588), trong đó ông đưa ra học thuyết nhằm dung hòa giữa sự toàn tri của Thiên Chúa và ý chí tự do của con người. Học thuyết này về sau được gọi là Molinism, góp phần tạo nên một trong những cuộc tranh luận triết học – thần học quan trọng nhất thời kỳ đó. Molinism sau này trở thành học thuyết chính thức trên thực tế của Dòng Tên về vấn đề này và đến nay vẫn được nhiều triết gia như William Lane Craig và Alvin Plantinga ủng hộ.

Felipe đặc biệt yêu thích kiến trúc và xây dựng, luôn tìm cách nâng cao chất lượng các công trình của Tây Ban Nha theo hình mẫu của Ý và Hà Lan. Đồng thời, ông cũng yêu thiên nhiên, thường xuyên đi săncâu cá, đồng thời say mê xây dựng các khu vườn. Năm 1582, ông ban hành lệnh bảo tồn rừng Tây Ban Nha vì lo ngại tài nguyên rừng sẽ bị cạn kiệt. Theo nhà sử học Henry Kamen, tình yêu thiên nhiên của Felipe khiến ông trở thành một trong những nhà cai trị đầu tiên ở châu Âu có ý thức bảo vệ môi trường.[65]

Tập tin:Felipe II de España 01.jpg
Tượng Felipe II tại Vườn Sabatini ở Madrid (F. Castro, 1753)

Là vị quân chủ quyền lực nhất châu Âu trong thời đại đầy chiến tranh và xung đột tôn giáo,[66] việc đánh giá triều đại cũng như con người Felipe II luôn là chủ đề gây nhiều tranh cãi trong giới sử học.[67] Ngay trước khi ông qua đời năm 1598, những người ủng hộ đã xây dựng hình ảnh ông như một quý ông kiểu mẫu, đầy lòng mộ đạo và đức hạnh Kitô giáo. Trong khi đó, những người chống đối lại mô tả ông là một bạo chúa cuồng tín, chịu trách nhiệm cho vô số hành vi tàn bạo và man rợ.[68] Sự đối lập này về sau phát triển thành cái gọi là "Huyền thoại Đen về Tây Ban Nha" và "Huyền thoại Trắng", một phần cũng do chính Felipe góp phần tạo nên. Khi còn sống, ông cấm xuất bản bất kỳ tiểu sử nào về mình và trước khi qua đời còn ra lệnh đốt toàn bộ thư từ cá nhân.[69]

Hơn nữa, sau khi bị viên thư ký đầy tham vọng Antonio Pérez phản bội và tung ra hàng loạt lời vu khống về cựu chủ nhân, Felipe hoàn toàn không tự biện hộ. Điều này khiến các câu chuyện của Pérez lan truyền khắp châu Âu mà không gặp sự phản bác nào.[70] Vì vậy, hình ảnh phổ biến về Felipe II tồn tại đến ngày nay phần lớn được hình thành ngay trước khi ông qua đời, vào thời điểm nhiều quân chủ và lãnh đạo tôn giáo châu Âu đều chống lại Tây Ban Nha với tư cách là thành trì của Phong trào Phản Cải cách. Điều này khiến nhiều công trình lịch sử về ông mang nặng định kiến, chủ yếu theo hướng tiêu cực.[71]

Một số nhà sử học xem cách nhìn nhận chống Tây Ban Nha này là một phần của Huyền thoại Đen. Trong văn hóa đại chúng hiện đại hơn, bộ phim Fire Over England (1937) đã khắc họa Felipe II theo hướng bớt tiêu cực hơn: ông là một nhà cai trị chăm chỉ, thông minh, sùng đạo, có phần đa nghi, luôn đặt lợi ích đất nước lên hàng đầu, nhưng lại không hiểu rõ nước Anh dù từng đồng cai trị quốc gia này.

Ngay cả tại các nước vẫn theo Công giáo như Pháp và các quốc gia Ý, sự ghen tị và lo sợ trước sức mạnh của Tây Ban Nha cũng khiến người ta dễ dàng tiếp nhận những mô tả tồi tệ nhất về Felipe II. Dù đã có nhiều nỗ lực nhằm tách biệt huyền thoại khỏi sự thật lịch sử,[72] công việc này vẫn rất khó khăn vì nhiều định kiến đã ăn sâu vào di sản văn hóa của các quốc gia châu Âu. Các sử gia nói tiếng Tây Ban Nha thường đánh giá cao những thành tựu chính trị và quân sự của Felipe II, đôi khi cố ý tránh đề cập đến sự cứng rắn của ông trong vấn đề Công giáo.[73] Ngược lại, các sử gia nói tiếng Anh thường mô tả ông như một kẻ cuồng tín, chuyên chế, tội phạm và đế quốc chủ nghĩa;[74] họ có xu hướng xem nhẹ các chiến thắng quân sự như Lepanto, Saint-Quentin, Antwerp hay thất bại của Counter-Armada Anh, trong khi lại phóng đại những thất bại như Djerba, việc Ottoman chiếm Tunis, cuộc nổi dậy Hà Lan hay Armada năm 1588,[75] mặc dù vào thời điểm đó các thất bại này không tạo ra thay đổi lớn về cán cân quyền lực quân sự và chính trị ở châu Âu.

Felipe II đã chấm dứt tham vọng của triều đại Valois tại Ý và đưa nhà Habsburg lên vị thế thống trị ở châu Âu. Ông bảo đảm sự thống nhất của vương quốc và đế quốc Bồ Đào Nha, tăng lượng bạc nhập khẩu bất chấp sự quấy phá của hải tặc Anh, Hà Lan và Pháp, vượt qua nhiều cuộc khủng hoảng tài chính và củng cố đế quốc hải ngoại Tây Ban Nha. Mặc dù các cuộc xung đột vẫn tiếp diễn, ông đã chấm dứt mối đe dọa lớn nhất mà Hải quân Ottoman từng đặt ra đối với châu Âu.

Nhà sử học Geoffrey Parker đưa ra một cách giải thích từ góc độ tâm lý quản trị, được Tonio Andrade và William Reger tóm lược như sau:

Người ta có thể kỳ vọng rằng Felipe, với tính cách tận tụy, kiên trì, chăm chỉ và là người đứng đầu đế quốc giàu có, rộng lớn nhất Tây Âu, sẽ đạt được mục tiêu của mình. Nhưng ông đã thất bại. Theo Parker, nguyên nhân nằm chính ở tính cách của ông. Dựa trên các nghiên cứu về khoa học quản lý và tâm lý học tổ chức, Parker cho rằng một nhà quản lý thành công của một tổ chức khổng lồ cần biết nhìn vào bức tranh tổng thể, có chiến lược xử lý lượng thông tin khổng lồ, biết phân quyền và có khả năng thích nghi linh hoạt. Felipe đều thất bại ở cả bốn phương diện này. Ông là một nhà quản lý vi mô, quá sa vào những chi tiết nhỏ, từ chối giao quyền và cố gắng tự đọc mọi báo cáo được gửi lên bàn làm việc của mình. Ông thường do dự quá lâu, khiến khi quyết định được đưa ra và mệnh lệnh đến tay cấp dưới thì tình hình thực tế đã thay đổi. Felipe cũng rất cứng nhắc, không muốn từ bỏ những chính sách kém hiệu quả. Nguy hại hơn cả là xu hướng tư duy thiên mệnh của ông: niềm tin rằng mình đang thực hiện ý muốn của Thiên Chúa và rằng thiên đường sẽ ban phép màu để hỗ trợ mọi hành động của mình.[76]

Tước hiệu, danh hiệu và tôn xưng

Tập tin:Cannon with arms of Philip II as King of England and Ireland.jpg
Khẩu pháo có huy hiệu của Felipe II với tư cách là Quốc vương Tây Ban Nha, Anh và Pháp theo jure uxoris.
  • Tước hiệu của người thừa kế
    • Thân vương xứ Girona: 21 tháng 5 năm 1527 – 16 tháng 1 năm 1556
  • Quốc vương Castilla (Felipe II): 16 tháng 1 năm 1556 – 13 tháng 9 năm 1598
    • Vua Castilla, León, Granada, Toledo, Galicia, Sevilla, Córdoba, Murcia, Jaén, Algarve, Algeciras, Gibraltar, Quần đảo Canary, Tây Ấn và các đảo cùng lục địa bên kia Đại Tây Dương;[chú thích 1] Lãnh chúa Molina và Biscay.
    • Vua Aragón.
    • Vua Hai Sicilia.
    • Vua Napoli và Jerusalem (từ ngày 25 tháng 7 năm 1554).
    • Vua Sicilia; Công tước xứ Athens và Neopatria.
    • Vua Valencia.
    • Vua Mallorca.
    • Vua Sardegna và Corsica; Hầu tước Oristano; Bá tước Goceano.
    • Vua Navarra.
    • Bá tước xứ Barcelona, Roussillon và Cerdanya.
  • Vua Bồ Đào Nha và Algarve ở cả hai bờ biển châu Phi, Lãnh chúa Guinea, Chủ nhân các cuộc chinh phục, hàng hải và thương mại tại Ethiopia, Arabia, Ba Tư và Ấn Độ, cùng các lãnh thổ khác.
Tập tin:Alonso Sánchez Coello - Felipe II como Rey de Portugal.jpg
Chân dung Felipe II với tư cách là Quân chủ Bồ Đào Nha, tranh của Sánchez Coello, khoảng năm 1580.
    • Vua Anh, Vua Pháp (trên danh nghĩa), Người Bảo vệ Đức tin
    • Vua Ireland.
  • Các tước hiệu của Đế quốc và nhà Habsburg
    • Công tước xứ Milano: từ ngày 11 tháng 10 năm 1540 (được nhượng bí mật) hoặc ngày 25 tháng 7 năm 1554 (được phong chính thức) đến ngày 13 tháng 9 năm 1598.
    • Đại diện Hoàng đế tại Siena: từ ngày 30 tháng 5 năm 1554.
    • Đại vương công Áo.
    • Bá tước Thân vương Habsburg và Tyrol.
    • Thân vương xứ Schwabia.
  • Các tước hiệu Bourgogne
    • Lãnh chúa Hà Lan: 25 tháng 10 năm 1555 – 13 tháng 9 năm 1598
    • Công tước xứ Lothier, Brabant, Limburg, Luxembourg và Guelders, Bá tước xứ Flanders, Artois, Hainaut, Holland, Zeeland, Namur và Zutphen, Hầu tước của Đế quốc La Mã Thần thánh, Lãnh chúa Frisia, Salins, Mechelen và các thành phố, thị trấn cùng lãnh địa Utrecht, Overijssel và Groningen.
  • Bá tước Pfalz xứ Bourgogne (từ ngày 10 tháng 6 năm 1556); Bá tước xứ Charolais (từ ngày 21 tháng 9 năm 1558).
  • Công tước xứ Bourgogne.
  • Chúa tể của châu Á và châu Phi
Tập tin:Felipe II con el manto de la Orden del Toisón de Oro (Libro del Toisón de Oro).jpg
Chân dung Felipe II của Tây Ban Nha trong trang phục và áo choàng của Huân chương Lông cừu Vàng. Tác phẩm thuộc Libro del Toisón de Oro, hiện được lưu giữ tại Viện Valencia de Don Juan ở Madrid, Tây Ban Nha.

Huân chương

  • Hiệp sĩ Huân chương Lông cừu Vàng: 1531 – 13 tháng 9 năm 1598.
  • Đại Trưởng lão Huân chương Lông cừu Vàng:[77] 23 tháng 10 năm 1555 – 13 tháng 9 năm 1598.
  • Đại Trưởng lão Huân chương Calatrava: 16 tháng 1 năm 1556 – 13 tháng 9 năm 1598.
  • Đại Trưởng lão Huân chương Alcántara: 16 tháng 1 năm 1556 – 13 tháng 9 năm 1598.
  • Đại Trưởng lão Huân chương Santiago: 16 tháng 1 năm 1556 – 13 tháng 9 năm 1598.
  • Đại Trưởng lão Huân chương Montesa: 8 tháng 12 năm 1587 – 13 tháng 9 năm 1598.

Felipe tiếp tục sử dụng cách xưng hô "Bệ hạ" (Majesty; tiếng Latinh: Maiestas, tiếng Tây Ban Nha: Majestad) theo truyền thống của cha mình, thay vì danh xưng "Điện hạ" (Highness; Celsitudo, Alteza). Trong các văn bản ngoại giao, ông tiếp tục sử dụng tước hiệu " Đấng Công giáo nhất" (Rex Catholicissimus; Rey Católico), danh hiệu do Giáo hoàng Alexander VI ban cho Ferrando và Isabel vào năm 1496. Sau khi Quốc hội Anh thông qua đạo luật phê chuẩn cuộc hôn nhân với Mary I, hai người được tôn xưng là: "Felipe và Mary, bởi Ân điển của Thiên Chúa, Quốc vương và Nữ vương của Anh, Pháp, Napoli, Jerusalem và Ireland; Người Bảo vệ Đức tin; Thân vương Tây Ban Nha và Sicilia; Đại vương công Áo; Công tước Milano, Bourgogne và Brabant; Bá tước Habsburg, Flanders và Tyrol." Sau khi Felipe kế vị ngai vàng Tây Ban Nha năm 1556, tước hiệu chung được đổi thành: "Felipe và Mary, bởi Ân điển của Thiên Chúa, Quốc vương và Nữ vương của Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Hai Sicilia, Jerusalem và Ireland; Người Bảo vệ Đức tin; Đại vương công Áo; Công tước Bourgogne, Milano và Brabant; Bá tước Habsburg, Flanders và Tyrol."[78]

Trên tiền xu do Felipe cho đúc thường xuất hiện dòng chữ ở mặt trước: "PHS·D:G·HISP·Z·REX" Tiếng Latinh nghĩa là: "Felipe, bởi Ân điển của Thiên Chúa, Quốc vương của Tây Ban Nha cùng các lãnh thổ khác." Sau đó là tước hiệu địa phương nơi xưởng đúc tiền hoạt động, chẳng hạn: "DVX·BRA" – Công tước Brabant, "C·HOL" – Bá tước Holland, "D·TRS·ISSV" – Lãnh chúa Overijssel. Mặt sau của tiền xu thường mang các khẩu hiệu như: "PACE ET IVSTITIA" (Vì Hòa bình và Công lý), "DOMINVS MIHI ADIVTOR" (Chúa là Đấng phù trợ ta). Một huy chương được đúc năm 1583 mang dòng chữ: "PHILIPP II HISP ET NOVI ORBIS REX" ("Felipe II, Vua của Tây Ban Nha và Tân Thế giới.") cùng khẩu hiệu: "NON SUFFICIT ORBIS" ("Cả thế giới vẫn chưa đủ.").[79]

Gia đình

Philip kết hôn bốn lần và có con với ba trong số các người vợ của mình. Ngoài ra, ông còn duy trì hai mối quan hệ tình cảm lâu dài với Isabel OsorioEufrasia de Guzmán.

Cuộc hôn nhân đầu tiên

Người vợ đầu tiên của Felipe là người em họ đời hai của ông, Maria Manuela, Vương nữ Bồ Đào Nha, con gái của Quốc vương João III của Bồ Đào NhaCatalina của Áo.[80] Hai người kết hôn tại Salamanca vào ngày 12 tháng 11 năm 1543. Cuộc hôn nhân chỉ có một người con trai trước khi Maria Manuela qua đời vì băng huyết bốn ngày sau khi sinh:

Cuộc hôn nhân thứ hai

Người vợ thứ hai của Felipe là Nữ vương Mary I của Anh, em họ đời thứ nhất của ông. Hôn lễ được cử hành tại Nhà thờ Winchester vào ngày 25 tháng 7 năm 1554 nhằm củng cố liên minh chính trị giữa hai vương triều. Thông qua cuộc hôn nhân này, Felipe trở thành Quốc vương Anh và Ireland theo quyền của vợ (jure uxoris). Tuy nhiên, hai người phần lớn sống xa nhau để cai trị các vương quốc riêng. Cuộc hôn nhân không có con; sau một lần mang thai giả, Mary qua đời năm 1558, chấm dứt vai trò của Felipe tại Anh và Ireland.[81][82]

Cuộc hôn nhân thứ ba

Người vợ thứ ba của Felipe là Elisabeth xứ Valois, con gái trưởng của Quốc vương Henri II của PhápCatherine de' Medici. Lễ thành hôn được cử hành theo nghi thức ủy quyền tại Nhà thờ Đức Bà Paris trước khi Elisabeth rời Pháp, với Công tước xứ Alba đại diện cho Felipe; lễ cưới chính thức diễn ra tại Guadalajara sau khi bà đến Tây Ban Nha. Trong cuộc hôn nhân kéo dài từ năm 1559 đến năm 1568, hai người có sáu lần mang thai, nhưng chỉ hai con gái sống đến tuổi trưởng thành. Elisabeth qua đời chỉ vài giờ sau khi sinh người con cuối cùng.[80] Các con của họ là:

  • Con trai chết lưu (1560).
  • Hai con gái song sinh sảy thai (tháng 8 năm 1564).
  • Isabel Clara Eugenia (12 tháng 8 năm 1566 – 1 tháng 12 năm 1633), kết hôn với Albrecht VII, Đại vương công Áo.
  • Catalina Micaela (10 tháng 10 năm 1567 – 6 tháng 11 năm 1597), kết hôn với Carlo Emanuele I của Savoia, và có hậu duệ.
  • Juana (3 tháng 10 năm 1568), qua đời ngay sau khi chào đời.

Cuộc hôn nhân thứ tư

Người vợ thứ tư và cũng là cuối cùng của Felipe là Anna của Áo, cháu gái gọi bằng cậu. Ban đầu, Giáo hoàng Piô V từ chối ban phép chuẩn cho cuộc hôn nhân do hai người có quan hệ huyết thống gần và lo ngại nguy cơ dị tật bẩm sinh ở con cái. Giáo hoàng miễn cưỡng cho phép khi Felipe đe dọa sẽ bỏ rơi Liên minh Thần Thánh chiến trong cuộc chiến chống lại Đế quốc Ottoman.[83][84] Đây được xem là cuộc hôn nhân hạnh phúc của cả hai, kéo dài từ năm 1570 đến năm 1580 và có năm người con. Anna qua đời vì suy tim tám tháng sau khi sinh María:

  • María (14 tháng 2 năm 1580 – 5 tháng 8 năm 1583).

Felipe II không có tình nhân chính thức nào ngoài các cuộc hôn nhân hợp pháp của mình. Tuy nhiên, các ghi chép lịch sử cho biết ông từng có một số mối quan hệ ngoài hôn nhân, trong đó nổi tiếng nhất là với Isabel Osorio (khoảng 1522–1589), một nữ cận thần tại triều đình Tây Ban Nha. Dẫu vậy, không có người con ngoài giá thú nào của Felipe II được ông chính thức thừa nhận.[85]

Gia phả

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Nhưng có một số nguồn lại ghi rằng ông qua đời vì ung thư.
  2. ^ Bao gồm các thuộc địa hải ngoại của Tây Ban Nha ở châu Mỹchâu Á.
  3. ^ Mặc dù về mặt pháp lý được công nhận là đồng quân chủ, ông thường không được đưa vào danh sách các quốc vương Anh, vì trên thực tế triều đại của ông chấm dứt khi Mary qua đời.
  1. ^ Sau khi Bồ Đào Nha sáp nhập vào chế độ quân chủ, danh xưng đã thay đổi thành Đông và Tây Ấn Độ, các đảo và lục địa thuộc đại dương.

Tham khảo

  1. ^ "BIEN DE INTERÉS CULTURAL: PALACIO CONDES RIVADAVIA PALACIO DE PIMENTEL". Junta de Castilla y León. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2023.
  2. ^ a b c "Philip of Spain". archive.nytimes.com. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2026.
  3. ^ Edu, World History (ngày 18 tháng 11 năm 2022). "Philip II of Spain: The Spanish Monarch Behind the Armada Invasion of England in 1588". World History Edu (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2026.
  4. ^ Fernández Hoyos, M. A. (1998). Las armas y las letras en Felipe II. Đại hội Quốc tế Felipe II (1598-1998), Europa dividida, la monarquía católica de Felipe II (Đại học tự trị Madrid, 20-23 tháng 4 năm 1998) / José Martínez Millán giám đốc quốc hội), Tập. 4, ISBN 84-8230-025-3, tr. 117-132
  5. ^ James Boyden. Europe, 1450 to 1789: Encyclopaedia of the Early Modern World.
  6. ^ "Sofonisba's Philip II". Lady In Ermine: The Story of A Woman Who Painted The Renaissance (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2026.
  7. ^ Encyclopedia of World Biography (2004).
  8. ^ "Philip II: youth and influences". Die Welt der Habsburger (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2026.
  9. ^ a b Hume, Martin A. S. (1906). Philip II of Spain (PDF). Cristo Raul Library. tr. 13–14. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2025.
  10. ^ Parker, Geoffrey, The Dutch Revolt (1977, rev. ed. 1985). London: Penguin, tr. 41.
  11. ^ Parker, The Dutch Revolt, tr. 42.
  12. ^ Drelichman, Mauricio; Voth, Hans-Joachim (2014). Lending to the Borrower from Hell: Debt, Taxes, and Default in the Age of Philip II (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Princeton. ISBN 978-1-4008-4843-0.
  13. ^ Gat, Azar (2006). War in Human Civilization (ấn bản thứ 4). Oxford [u.a.]: Nhà xuất bản Đại học Oxford. tr. 488. ISBN 978-0-19-923663-3.
  14. ^ Elliott, J. H. (2002). Imperial Spain 1469–1716 . London [u.a.]: Penguin Books. tr. 285–291. ISBN 0-14-100703-6.
  15. ^ Năm 1566, Felipe viết cho Luis de Requesens: "Hãy nói với Đức Thánh Cha rằng ta thà đánh đổi toàn bộ lãnh thổ và cả trăm mạng sống, nếu có, còn hơn để tôn giáo và việc phụng sự Thiên Chúa bị tổn hại dù chỉ đôi chút, bởi ta không có ý định cai trị những kẻ dị giáo." (Pettegree 2002, tr. 214).
  16. ^ Braudel, Fernand (1995). The Mediterranean and the Mediterranean World in the Age of Philip II (bằng tiếng Anh). Quyển 2. Nhà xuất bản Đại học California. tr. 935–936. ISBN 978-0-520-20330-3.
  17. ^ Royall Tyler, biên tập (1954). "Spain: September 1556". Calendar of State Papers, Spain. Viện Nghiên cứu Lịch sử. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013.
  18. ^ Salvador Miranda (2010). "The Cardinals of the Holy Roman Church". Đại học Quốc tế Florida. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2010.
  19. ^ Richard L. Kagan (2009). Clio and the Crown: The Politics of History in Medieval and Early Modern Spain. JHU Press. tr. 135. ISBN 978-1421401652.
  20. ^ Jan Glete tr. 156
  21. ^ Nascimiento Rodrigues/Tessaleno Devezas tr. 122
  22. ^ Knecht, French Civil Wars tr. 272
  23. ^ Goubert, Pierre (2002). The Course of French History. Routledge. tr. 103.
  24. ^ Lytle Schurz, William (1922), "The Spanish Lake", The Hispanic American Historical Review, 5 (2): 181–194, doi:10.1215/00182168-5.2.181, JSTOR 2506024
  25. ^ "Navegantes europeos en el estrecho de Magallanes". Memoria Chilena (bằng tiếng Tây Ban Nha). Biblioteca Nacional de Chile. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2014.
  26. ^ Relación y derrotero del viaje y descubrimiento del Estrecho de la Madre de Dios – antes llamado de Magallanes (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2008. Pedro Sarmiento de Gamboa, según Amancio Landín, uno de sus más reputados biógrafos, nació en Pontevedra, hacia 1532. Julio Guillén—el marino-académico—, por su parte, dice que es posible fuera Colegial Mayor en la Universidad de Alcalá de Henares, ciudad que fue—asegura—cuna del gran marino español. Este, no ha dejado aclarada la duda sobre su origen geográfico, pues afirmó ser natural de ambos lugares.
  27. ^ Sarmiento de Gamboa, Pedro (1895). Narratives of the Voyages of Pedro De Gamboa to the Straits of Magellan. Translated by Clements R. Markham. London: Hakluyt Society.
  28. ^ a b c Martinic 1977, tr. 119.
  29. ^ Martinic 1977, tr. 121.
  30. ^ "History of the Strait of Magellan". ngày 7 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2019.
  31. ^ Wilson, Derek (2013). "3. The Triumph of Desire". A Brief History of Circumnavigators (bằng tiếng Anh). Little, Brown Book Group. ISBN 978-1-4721-1329-0.
  32. ^ Urbina C., M. Ximena (2013). "Expediciones a las costas de la Patagonia Occidental en el periodo colonial". Magallania (bằng tiếng Tây Ban Nha). 41 (2): 51–84. doi:10.4067/S0718-22442013000200002. hdl:10533/140447.
  33. ^ Urbina C., María Ximena (2017). "La expedición de John Narborough a Chile, 1670: Defensa de Valdivia, rumeros de indios, informaciones de los prisioneros y la creencia en la Ciudad de los Césares" [John Narborough expedition to Chile, 1670: Defense of Valdivia, indian rumors, information on prisoners, and the belief in the City of the Césares]. Magallania. 45 (2): 11–36. doi:10.4067/S0718-22442017000200011. hdl:10533/232318.
  34. ^ a b Henk van Nierop, Treason in the Northern Quarter: War, Terror, and the Rule of Law in the Dutch Revolt (Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2009), 69–70.
  35. ^ Henk van Nierop, Treason in the Northern Quarter: War, Terror, and the Rule of Law in the Dutch Revolt (Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2009), 177.
  36. ^ a b Goodwin, Robert (2015). Spain: The Centre of the World 1519–1682. Nhà xuất bản Bloomsbury. tr. 179–180.
  37. ^ "Twentieth Century Atlas – Historical Body Count". necrometrics.com.
  38. ^ Sharp Hume, Martín Andrew. The Spanish People: Their Origin, Growth and Influence. tr. 372.
  39. ^ Henry Kamen, Philip of Spain (Nhà xuất bản Đại học Yale, 1997), 160.
  40. ^ James Tracy, The Founding of the Dutch Republic: War, Finance, and Politics in Holland, 1572–1588 (Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2008), 141.
  41. ^ Black, Jeremy (1996). The Cambridge Illustrated Atlas of Warfare: Renaissance to Revolution, 1492–1792. Quyển 2. Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr. 58. ISBN 978-0521470339.
  42. ^ "Victimario Histórico Militar".
  43. ^ Tucker, Spencer C. (2014). 500 Great Military Leaders. Quyển 1 & 2. tr. 19.
  44. ^ Parker, Geoffrey, The Army of Flanders and the Spanish Road, 1567–1659: The Logistics of Spanish Victory and Defeat in the Low Countries' Wars, London: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1972 ISBN 0-521-08462-8, tr. 35.
  45. ^ Kamen, Henry, The Duke of Alba, New Haven and London: Nhà xuất bản Đại học Yale, 2004.
  46. ^ Hatton, Barry, Queen of the Sea: A History of Lisbon, London: C. Hurst & Co., 2018, tr. 89.
  47. ^ Adams, George Burton; Stephens, H. Morse, biên tập (1901). "An Act for the Marriage of Queen Mary to Philip of Spain". Select Documents of English Constitutional History. MacMillan. tr. 284 – qua Internet Archive.
  48. ^ Berenguer, Gonzalo Velasco (2023). Habsburg England: Politics and Religion in the Reign of Philip I (1554–1558) (bằng tiếng Anh). Brill. ISBN 978-90-04-53621-0.
  49. ^ a b c Louis Adrian Montrose, The subject of Elizabeth: authority, gender, and representation, Nhà xuất bản Đại học Chicago, 2006
  50. ^ A. F. Pollard, The History of England – From the Accession of Edward VI. to the Death of Elizabeth (1547–1603), Read Books, 2007
  51. ^ Wim de Groot, The Seventh Window: The King's Window Donated by Philip II and Mary Tudor to Sint Janskerk in Gouda (1557), Uitgeverij Verloren, 2005
  52. ^ Robert Dudley Edwards, Ireland in the age of the Tudors: the destruction of Hiberno-Norman civilisation, Taylor & Francis, 1977
  53. ^ Richard Marks, Ann Payne, Bảo tàng Anh, Thư viện Anh; British heraldry from its origins to c. 1800; Nhà xuất bản Bảo tàng Anh, 1978
  54. ^ The Numismatist, American Numismatic Association, 1971
  55. ^ Francois Velde (ngày 25 tháng 7 năm 2003). "Text of 1555 Bull". Heraldica.org. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012.
  56. ^ Grant, R. G. (2017). 1001 Battles That Changed the Course of History. tr. 296.
  57. ^ Tucker, Spencer (2011). Battles that Changed History: An Encyclopedia of World Conflict. ABC-CLIO. tr. 183.
  58. ^ Fernández Duro, Cesáreo (1972). Armada Española desde la Unión de los Reinos de Castilla y Aragón. Museo Naval de Madrid, Instituto de Historia y Cultura Naval, Tập III, Chương III. Madrid. tr. 51.
  59. ^ a b Casas, Carolina (ngày 13 tháng 9 năm 2015). "The Death of King Philip II of Spain". tudors & other histories (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2026.
  60. ^ a b "The Death and Legacy of Philip II". Rebels or Beggars: Renaissance History (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
  61. ^ a b c d Spain, Fascinating (ngày 27 tháng 6 năm 2022). "El Escorial, and the room where "Philip the Prudent" died". Fascinating Spain (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
  62. ^ Proyectos, HI Iberia Ingeniería y. "Tomás Fernández de Medrano". historia-hispanica.rah.es (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
  63. ^ "Felipe II". findagrave.com (bằng tiếng Pháp và Anh). ngày 11 tháng 11 năm 1998. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2026.
  64. ^ The Myth of the Spanish Inquisition trên YouTube (at 21:27 – 21:40). BBC.
  65. ^ Kamen (1999), tr. 182-183.
  66. ^ Fernández Álvarez, Manuel. Felipe II y su tiempo. Espasa Calpe, Madrid, Ấn bản thứ 6. ISBN 84-239-9736-7.Trong phần giới thiệu của tác phẩm này, Felipe được nhắc đến như vị vua hùng mạnh nhất châu Âu về nguồn lực và quân đội, miêu tả châu Âu thời bấy giờ như một thế giới đầy rẫy những vấn đề chưa được giải quyết và xung đột tôn giáo.
  67. ^ Fernández Álvarez, Manuel. Felipe II y su tiempo (Ấn bản thứ 6.). Espasa Calpe, Madrid. ISBN 84-239-9736-7. Một lần nữa, các quan điểm khác nhau về triều đại của ông lại được đề cập trong phần Giới thiệu.
  68. ^ Kamen, Henry. Felipe de España, Madrid, Thế kỉ XXI, 1997. Các miêu tả văn hóa về nhà vua được đề cập, mặc dù Kamen có xu hướng tự đặt mình vào phe ủng hộ nhà vua.
  69. ^ Fernández Álvarez, Manuel. Felipe II y su tiempo. Espasa Calpe, Madrid, Ấn bản thứ 6. ISBN 84-239-9736-7. Ông ấy bàn luận về việc nhà vua không để lại bất kỳ thư từ nào vì đã ra lệnh đốt chúng, nhằm tránh mọi cơ hội tìm hiểu sâu hơn về đời tư của Felipe.
  70. ^ Vid. Marañón, Gregorio. Antonio Pérez: el hombre, el drama, la época. Madrid, Espasa Calpe, 1951, tập 2. Bài đánh giá được lập luận một cách thấu đáo về những tổn hại mà Perez gây ra cho nhà vua, phân tích trách nhiệm của nhà vua trong vụ ám sát Escobedo.
  71. ^ Johonnot, James. "Ten Great Events in History – Chapter VII. The Invincible Armada". Authorama.com. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012.
  72. ^ Hume, Martin. Philip II of Spain, London, 1897. Martin đã cố gắng khôi phục lại những quan điểm thành kiến ​​về nhà vua, giống như Carl Bratli trong tác phẩm Filip of Spanien (Koebenhaven, 1909). Ngược lại, Ludwig Pfandl, trong Felipe II. Phác thảo về cuộc đời và thời đại, Munich, 1938, lại đánh giá tính cách của Felipe một cách tiêu cực.
  73. ^ Trong cuốn Felipe II (Madrid, 1943), W. T. Walsh miêu tả triều đại của Philip là thịnh vượng và thành công. Fernández Álvarez, trong cuốn España y los españoles en la Edad Moderna (Salamanca, 1979), chỉ ra cách những người ủng hộ Huyền thoại Trắng phát triển mạnh mẽ trong những năm 1940 và 1950, và cách họ bỏ qua những vấn đề đen tối nhất trong triều đại của Felipe.
  74. ^ Những loại tính từ đó có thể được tìm thấy trong tác phẩm M. Van Durme's 1953 El Cardenal Granvela.
  75. ^ Cabrera de Córdoba, Felipe II rey de España, Biên tập bởi RAH, 1877, Bài viết chỉ trích cách các nhà sử học Anh đã hạ thấp tầm quan trọng của những chiến thắng của Felipe, đồng thời chỉ ra những hậu quả nhỏ nhặt của các thất bại như trận Armada.
  76. ^ Tonio Andrade và William Reger biên tập. "Geoffrey Parker and Early Modern History" in The Limits of Empire: European Imperial Formations in Early Modern World History: Essays in Honor of Geoffrey Parker (Routledge, 2016), tr. xxiii.
  77. ^ Rocquet, Claude-Henri. Bruegel; or The Workshop of Dreams. Nhà xuất bản Đại học Chicago, 1991. ISBN 0226723429.
  78. ^ Waller, Maureen. Sovereign Ladies: The Six Reigning Queens of England. Nhà xuất bản St. Martin (New York), 2006. ISBN 0-312-33801-5.
  79. ^ Cremades, Checa. Felipe II. Op. cit. in "The Place of Tudor England". Transactions of the Royal Historical Society, Bộ sách thứ 6, Tập 12. Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2003. ISBN 0521815614.
  80. ^ a b "Habsburg Family: The 4 Marriages of Philip II". ThoughtCo (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2026.
  81. ^ Darsie, Heather R. (ngày 30 tháng 9 năm 2017). "The Four Wives of Philip II". Maidens and Manuscripts: Taking a fresh look at people and events from 1347 to 1625, with a focus on women and illuminated manuscripts (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2026.
  82. ^ "The Marriage of Queen Mary I and Philip II of Spain". The Tudor Enthusiast (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2026.
  83. ^ Parker, Geoffrey (2016). "6 Incest, Blind Faith, and Conquest: The Spanish Hapsburgs and Their Enemies". Trong Lacey, Jim (biên tập). Great Strategic Rivalries: From the Classical World to the Cold War . Nhà xuất bản Đại học Oxford. tr. 232. ISBN 978-0190620462.
  84. ^ Parker, Geoffrey (2014). Imprudent King: A New Life of Philip II . Nhà xuất bản Đại học Yale. tr. 164. ISBN 978-0300196535.
  85. ^ "Philip II of Spain Arrives in England". The Tudor Enthusiast (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2026.

Thư mục

  • Pettegree, Andrew (2002), Europe in the Sixteenth Century, Oxfor:Blackwell, ISBN 0-631-20704-X.
  • Henry Kamen, Philip of Spain (New Haven, Nhà xuất bản Đại học Yale, 1999) – nguồn tư liệu tiểu sử tiêu chuẩn hiện đại..
  • Glyn Redworth, Philip (1527–1598), Từ điển Tiểu sử Quốc gia Oxford, phiên bản trực tuyến, tháng 5 năm 2011 Retrieved 25 Aug 2011
  • Pettegree, Andrew (2002). Europe in the Sixteenth Century. Oxford: Blackwell. ISBN 0-631-20704-X..
  • Benton Rain Patterson, With the Heart of a King: Elizabeth I of England, Philip II of Spain & the Fight for a Nation's Soul & Crown (2007)
  • Rodriguez-Salgado, M.J. The Court of Philip II of Spain. Trong Princes Patronage and the Nobility: The Court at the Beginning of the Modern Age, cc. 1450–1650. Được biên tập bởi Ronald G. Asch và Adolf M. Birke. New York: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1991. ISBN 0-19-920502-7.
  • Geoffrey Parker, Imprudent King: A New Life of Philip II (2014).
  • Geoffrey Parker, The Grand Strategy of Philip II (New Haven, 1998).
  • Markus Reinbold, Jenseits der Konfession. Die frühe Frankreichpolitik Philipps II. von Spanien 1559–1571 (Stuttgart, Thorbecke, 2005) (Beihefte der Francia, 61).
  • Harry Kelsey, Philip of Spain, King of England: the forgotten sovereign (London, I.B. Tauris, 2011).

Liên kết ngoài

Felipe II của Tây Ban Nha
Sinh: 21 tháng 5, 1527 Mất: 13 tháng 9, 1598
Tước hiệu
Tiền nhiệm
Mary I
giữ chức với tư cách là quân chủ duy nhất
Quốc vương Anh và Ireland (jure uxoris)
25 tháng 7 năm 1554 – 17 tháng 11 năm 1558
Kế nhiệm
Elizabeth I
Tiền nhiệm
Hoàng đế Karl V
Công tước xứ Brabant, Limburg, Lothier và Luxemburg;
Hầu tước xứ Namur; Bá tước Pfalz xứ Bourgogne;
Artois, Flanders và Hainaut

16 tháng 1 năm 1556 – 6 tháng 5 năm 1598
Kế nhiệm
Isabel Clara Eugenia
Albrecht
Bá tước xứ Charolais
21 tháng 9 năm 1558 – 6 tháng 5 năm 1598
Công tước xứ Guelders;
Bá tước xứ Zutphen, HollandZeeland

16 tháng 1 năm 1556 – 26 tháng 7 năm 1581
Cộng hòa Hà Lan
Vua của NapoliSicilia
1554–1598
Kế nhiệm
Felipe III
Quốc vương Tây Ban NhaVua của Sardegna
1556–1598
Tiền nhiệm
Henrique
Quốc vương Bồ Đào Nha
1581–1598
Trống
Danh hiệu cuối cùng được tổ chức bởi
Francesco II Sforza
Công tước xứ Milan
1540–1598
Vương thất Tây Ban Nha
Trống
Danh hiệu cuối cùng được tổ chức bởi
Karl I
Thân vương xứ Asturias
1528–1556
Kế nhiệm
Carlos
Thân vương xứ Girona
1527–1556

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).