Hiệp hội bóng đá Trung Quốc
Bản mẫu:National football association Bản mẫu:Infobox Chinese
Hiệp hội bóng đá Trung Quốc (Bản mẫu:Zh), viết tắt là CFA (Bản mẫu:Zh), là cơ quan quản lý bóng đá, bóng đá bãi biển và futsal tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc đại lục). CFA tổ chức các đội tuyển quốc gia nam và nữ, quản lý các giải đấu chuyên nghiệp của đất nước cũng như tổ chức giải cúp quốc gia loại trực tiếp Cúp FA Trung Quốc. Là thành viên của Liên đoàn bóng đá Đông Á (EAFF), các đội tuyển quốc gia của họ đủ điều kiện tham dự Giải vô địch bóng đá Đông Á và tư cách thành viên của đất nước trong Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) cho phép các đội tham gia vào các giải đấu cấp câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia của tổ chức này. Trung Quốc cũng là thành viên của FIFA và do đó đủ điều kiện thi đấu tại World Cup.
Lịch sử
Được thành lập vào năm 1924, Hiệp hội bóng đá Trung Quốc trở thành thành viên của FIFA vào năm 1931 và thi đấu quốc tế tại Thế vận hội 1936[1] và 1948.[2] Sau khi Nội chiến Trung Quốc kết thúc vào năm 1949, cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) và Trung Hoa Dân Quốc (ROC) đều tranh giành tư cách là chính phủ hợp pháp duy nhất của "Trung Quốc", và tuyên bố chủ quyền đối với cả Trung Quốc đại lục và Đài Loan.[3][4] Vào ngày 14 tháng 6 năm 1952, FIFA công nhận rằng CFA tại Trung Quốc đại lục, chứ không phải Hiệp hội bóng đá Trung Hoa Dân Quốc (ROCFA) đặt tại Đài Loan, là cơ quan được công nhận về Bóng đá Trung Quốc với tư cách thành viên tính từ năm 1931.[5] Đài Loan được kết nạp làm thành viên của FIFA vào tháng 6 năm 1954 bất chấp sự phản đối của CFA và chính phủ CHND Trung Hoa tại Đại hội FIFA lần thứ 29 ở Bern.[6]
Sự phản đối của Hiệp hội bóng đá Trung Quốc đối với tư cách thành viên của Đài Loan trong FIFA vẫn tiếp diễn với việc tổ chức này đưa ra các đề xuất trục xuất hòn đảo này tại hai Đại hội FIFA tiếp theo vào năm 1956 và 1958. Sau đó vào ngày 8 tháng 7 năm 1958, CFA đã thông báo cho FIFA về việc rút lui khỏi liên đoàn. Các quy định của FIFA vào thời điểm đó yêu cầu rằng sau khi thông báo rút lui, quyết định đó phải được xác nhận ba tháng sau bằng thư bảo đảm. Mặc dù không nhận được xác nhận như vậy, Ủy ban điều hành của FIFA vẫn coi CFA là một thành viên nhưng mọi câu hỏi gửi đến CFA hoặc CHND Trung Hoa đều bị trả lại với lý do Trung Quốc không còn công nhận thẩm quyền của FIFA. Tại một cuộc họp của Ủy ban điều hành FIFA vào cuối tháng 10 năm 1959, Victor Granatkin, Phó chủ tịch FIFA người Liên Xô, báo cáo rằng từ các cuộc thảo luận của ông với các cơ quan chức năng Trung Quốc, CFA sẽ chỉ hủy bỏ việc rút lui sau khi Đài Loan bị trục xuất khỏi tổ chức. Tình hình đã được giải quyết tại Đại hội lần thứ 42 của FIFA khi đề xuất thỏa hiệp của Ủy ban điều hành cho phép Đài Loan duy trì tư cách thành viên của FIFA dưới tên gọi Hiệp hội bóng đá Đài Bắc Trung Hoa và kết nạp lại Hiệp hội bóng đá Trung Quốc được thông qua vào ngày 7 tháng 7 năm 1980.[6]
Năm 1992, CFA dưới sự bảo trợ của Tổng cục Thể thao Trung Quốc đã công bố kế hoạch cải thiện chất lượng bóng đá trong nước. Kế hoạch bao gồm việc thuê Klaus Schlappner làm huấn luyện viên đội tuyển quốc gia và cố vấn kỹ thuật cho liên đoàn bóng đá, với các mục tiêu đã đề ra là cố gắng tham dự World Cup 1994, lọt vào top 5 đội hàng đầu tại World Cup nữ 1995, vượt qua vòng loại Thế vận hội 1996, đại diện cho châu Á tại World Cup 1998, lọt vào tứ kết Thế vận hội 2000, và nằm trong top 4 đội hàng đầu tại World Cup 2002. Sau đó vào năm 1998, Bộ trưởng Thể thao lúc bấy giờ đã công bố kế hoạch mười năm cho bóng đá Trung Quốc với mục tiêu lọt vào vòng chung kết World Cup và trở thành một trong 16 đội hàng đầu thế giới vào năm 2002.[7]
Năm 2015, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình đã đặt ra một kế hoạch đầy tham vọng nhằm đưa đội tuyển nam quốc gia Trung Quốc trở thành quốc gia bóng đá số một châu Á vào năm 2030 và số một thế giới vào năm 2050.
Nạn tham nhũng trong bóng đá Trung Quốc đã góp phần khiến chương trình không đạt được các mục tiêu của chính phủ và vào năm 2022, các quan chức Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã phát động một cuộc điều tra chống tham nhũng dẫn đến việc tám quan chức bóng đá bị điều tra vì "nghi ngờ vi phạm kỷ luật và pháp luật".[8] Vào tháng 8 năm 2024, cựu Bí thư Đảng ủy CFA, Đỗ Triệu Tài, đã nhận tội nhận hối lộ hơn 6,1 triệu đô la Mỹ.[9] Vào ngày 10 tháng 9 năm 2024, CFA đã cấm thi đấu suốt đời 38 cầu thủ, bao gồm cả các cựu tuyển thủ quốc gia Kim Kính Đạo, Quách Điền Vũ, và năm quan chức vì cáo buộc dàn xếp tỷ số và các hình thức tham nhũng khác.[10] Những cầu thủ và quan chức khác cũng phải nhận các án phạt cấm thi đấu ngắn hơn là 5 năm.[10]
Các đội tuyển quốc gia
Đội tuyển nam quốc gia
Đội tuyển bóng đá quốc gia Trung Quốc (Bản mẫu:Zh) đại diện cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong môn bóng đá quốc tế. Kể từ khi gia nhập lại cộng đồng bóng đá quốc tế, đội đã đạt được thứ hạng FIFA cao nhất là 37 vào tháng 12 năm 1998.[11]
Đội tuyển nam quốc gia đã vô địch Cúp bóng đá Đông Á vào các năm 2005[12] và 2010,[13] là á quân tại Cúp bóng đá châu Á (Asian Cup) vào các năm 1984[14] và 2004,[15] và có lần tham dự FIFA World Cup duy nhất vào năm 2002, thua tất cả các trận và không ghi được bàn thắng nào.[16]
Đội tuyển nữ quốc gia
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Trung Quốc (Bản mẫu:Zh), đại diện cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong môn bóng đá quốc tế. Đội thường được gọi một cách thông tục là "Zhōngguó Nǚzú" (Bản mẫu:Zh), và có biệt danh là "Những đóa hồng thép" (Bản mẫu:Zh).[17] Đội đạt được thứ hạng FIFA cao nhất là vị trí thứ 4 vào năm 2003.[11]
Đội tuyển nữ đã vô địch Cúp bóng đá nữ châu Á (Asian Cup) kỷ lục 9 lần vào các năm 1986, 1989, 1991, 1993, 1995, 1997, 1999, 2006, và 2022, và là á quân hai lần vào các năm 2003 và 2008. Họ cũng là á quân tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 1999.[18][19]
Các giải đấu chuyên nghiệp
Bóng đá chuyên nghiệp tại Trung Quốc do CFA tổ chức và hiện bao gồm bốn giải đấu chuyên nghiệp được tổ chức theo định dạng phân cấp với hệ thống thăng hạng và xuống hạng giữa các giải đấu. Giải bóng đá Ngoại hạng Trung Quốc (Chinese Super League) là giải đấu cao nhất của bóng đá chuyên nghiệp Trung Quốc sau khi đổi tên từ Giải bóng đá Giáp A Trung Quốc (Jia-A League) vào năm 2004. Cũng được thành lập vào năm 2004, Giải bóng đá hạng Nhất Trung Quốc (China League One) là giải đấu hạng hai của bóng đá chuyên nghiệp. Giải bóng đá hạng Nhì Trung Quốc (China League Two), được thành lập vào năm 1956 là giải hạng hai, đã bị giáng xuống cấp độ thứ ba vào năm 1989. Giải bóng đá CMCL Trung Quốc (Member Association Champions League) tạo thành cấp độ thứ tư của bóng đá với các đội xuống hạng chơi ở giải do hiệp hội bóng đá thành viên khu vực của CFA điều hành.
Hệ thống giải đấu
|
Cấp độ |
Giải đấu / Hạng đấu | ||||||||||
|
1 |
Giải bóng đá Ngoại hạng Trung Quốc (Chinese Super League) | ||||||||||
| ↓ 2 CLB ↑ 2 CLB | |||||||||||
| 2 |
Giải bóng đá hạng Nhất Trung Quốc (China League One) | ||||||||||
| ↓ 2 CLB ↑ 2 CLB | |||||||||||
| 3 |
Giải bóng đá hạng Nhì Trung Quốc (China League Two) | ||||||||||
| ↓ 4 CLB ↑ 4 CLB | |||||||||||
| 4 |
Giải bóng đá CMCL Trung Quốc | ||||||||||
Các hiệp hội thành viên
Tính đến năm 2015, có tổng cộng 44 hiệp hội thành viên trực thuộc CFA.[20] Các thành viên bao gồm:
- Hiệp hội bóng đá An Huy
- Hiệp hội bóng đá Bắc Kinh
- Hiệp hội bóng đá Trường Xuân
- Hiệp hội bóng đá Thành Đô
- Hiệp hội bóng đá Trùng Khánh
- Hiệp hội bóng đá Đại Liên
- Hiệp hội bóng đá Phúc Kiến
- Hiệp hội bóng đá Cam Túc
- Hiệp hội bóng đá Quảng Đông
- Hiệp hội bóng đá Quảng Tây
- Hiệp hội bóng đá Quảng Châu
- Hiệp hội bóng đá Quý Châu
- Hiệp hội bóng đá Hải Nam
- Hiệp hội bóng đá Hà Bắc
- Hiệp hội bóng đá Hắc Long Giang
- Hiệp hội bóng đá Hà Nam
- Hiệp hội bóng đá Hồ Bắc
- Hiệp hội bóng đá Hồ Nam
- Hiệp hội bóng đá Nội Mông
- Hiệp hội bóng đá Giang Tô
- Hiệp hội bóng đá Giang Tây
- Hiệp hội bóng đá Cát Lâm
- Hiệp hội bóng đá Côn Minh
- Hiệp hội bóng đá Liêu Ninh
- Hiệp hội bóng đá Nam Kinh
- Hiệp hội bóng đá Ninh Hạ
- Hiệp hội bóng đá Thanh Đảo
- Hiệp hội bóng đá Thanh Hải
- Hiệp hội bóng đá Thiểm Tây
- Hiệp hội bóng đá Sơn Đông
- Hiệp hội bóng đá Thượng Hải
- Hiệp hội bóng đá Sơn Tây
- Hiệp hội bóng đá Thẩm Dương
- Hiệp hội bóng đá Thâm Quyến
- Hiệp hội bóng đá Tứ Xuyên
- Hiệp hội bóng đá Thiên Tân
- Hiệp hội bóng đá Tây Tạng
- Hiệp hội bóng đá Vũ Hán
- Hiệp hội bóng đá Hạ Môn
- Hiệp hội bóng đá Tây An
- Hiệp hội bóng đá Tân Cương
- Hiệp hội bóng đá Diên Biên
- Hiệp hội bóng đá Vân Nam
- Hiệp hội bóng đá Chiết Giang
Lãnh đạo
Hiện tại
| Tên | Chức vụ | Nguồn |
|---|---|---|
| Bản mẫu:Country data China Trương Gia Thắng | Bí thư Đảng ủy | [21] |
| Bản mẫu:Country data China Tống Khải | Phó Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch | [21][22][23] |
| Bản mẫu:Country data China Tôn Văn | Phó Chủ tịch | [21][22][23] |
| Bản mẫu:Country data China Viên Vĩnh Thanh | Phó Bí thư Đảng ủy và Tổng thư ký | [21][22][23] |
| Bản mẫu:Country data China Dương Húc | Phó Chủ tịch thứ 2 | [21][22][23] |
| Bản mẫu:Country data China Hứa Cơ Nhân | Phó Chủ tịch thứ 3 | [21][22][23] |
| n/a | Giám đốc kỹ thuật | [22][23] |
| Bản mẫu:Country data Croatia Branko Ivanković | Huấn luyện viên đội tuyển (Nam) | [22][23] |
| Bản mẫu:Country data Australia Ante Milicic | Huấn luyện viên đội tuyển (Nữ) | [22][23] |
| Bản mẫu:Country data China Tôn Bảo Khiết | Trưởng ban trọng tài | [22] |
| Bản mẫu:Country data China Mao Hạc Minh | Điều phối viên trọng tài | [22] |
Danh sách các Chủ tịch và Phó Chủ tịch trước đây
- Chủ tịch
- Hoàng Trung (黄中) (1955–1979)
- Lý Phượng Lâu (1979–1985)
- Viên Vĩ Dân (1985–1989)
- Niên Duy Tứ (1989–1992)
- Viên Vĩ Dân (1992–2014)
- Thái Chấn Hoa (2014–2019)
- Trần Tuất Nguyên (2019–2023)
- Tống Khải (2023–)
- Phó Chủ tịch thứ nhất
- Tôn Bảo Vinh (孙宝荣) (1989–1992)
- Vương Tuấn Sinh (王俊生) (1992–2000)
- Diêm Thế Đạc (阎世铎) (2000–2004)
- Tạ Á Long (谢亚龙) (2005–2008)
- Nam Dũng (南勇) (2009)
- Vi Địch (韦迪) (2010–2013)
- Trương Kiếm (张剑) (2013–2019)
- Đỗ Triệu Tài (杜兆才) (2019–2023)
- Tôn Văn (孙雯) (2023-nay)
Tham khảo
- ^ "Chinese Olympic team 1936".
- ^ "Chinese Olympic team 1948". Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2023.
- ^ Hudson, Christopher (2014). The China Handbook. Routledge. tr. 59. ISBN 9781134269662. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
- ^ Rigger, Shelley (2002). Politics in Taiwan: Voting for Reform. Routledge. tr. 60. ISBN 9781134692972. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
- ^ "1949年-1979年中国足球国家队大事记". sports.163.com. ngày 19 tháng 3 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2016.
- ^ a ă Homburg, H. (2006). "FIFA and the "Chinese Question", 1954-1980: an Exercise of Statutes". Historical Social Research. 31 (1). GESIS - Leibniz Institute for the Social Sciences: 69–87. JSTOR 20762103.
- ^ Vandenberg, Layne (ngày 9 tháng 3 năm 2018). "History of the People's Republic of China and FIFA". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
- ^ "Prominent Sports Official Named In Xi Jinping's Chinese Football Corruption Investigation". ngày 1 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2023.
- ^ "Report outlines Xi's push for fair competition, more 'just' global sports order". South China Morning Post (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 8 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2024.
- ^ a ă "China's Football Association bans 43 people for life after corruption investigation". AP News (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2024.
- ^ a ă "FIFA World Ranking". Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
- ^ "East Asian Championship 2005". Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2023.
- ^ "East Asian Championship 2010". Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2023.
- ^ "Asian Nations Cup 1984". Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2023.
- ^ "Asian Nations Cup 2004". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2023.
- ^ "World Cup 2002 - Match Details". Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2023.
- ^ "Wang snatches Olympic football for the Steel Roses". FIFA. ngày 13 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Asian Women's Championship". Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2023.
- ^ "Women's World Cup 1999 (USA)". Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2023.
- ^ "2015中国足球协会业余联赛大区赛分区情况". Chinese Football Association. ngày 29 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2015.
- ^ a ă â b c d "Leadership of the Association". Chinese Football Association official website (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
- ^ a ă â b c d đ e ê g "Member Association - China PR". www.fifa.com. ngày 6 tháng 10 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2022.
- ^ a ă â b c d đ e "The AFC.com - The Asian Football Confederation". The AFC (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
Liên kết ngoài
- Trang chủ của Hiệp hội bóng đá Trung Quốc (tiếng Trung)
- Sinosoc (tiếng Anh)
- Hiệp hội bóng đá Trung Quốc Lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2007 tại Wayback Machine trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA)
- Hiệp hội bóng đá Trung Quốc trên trang chủ của AFC