Bước tới nội dung

Ragnar Sigurðsson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ragnar Sigurðsson
Tập tin:ISL-HRV (12).jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ragnar Sigurðsson[1]
Ngày sinh 19 tháng 6, 1986 (40 tuổi)
Nơi sinh Reykjavík, Iceland
Chiều cao 1,87 m[1]
Vị trí Trung vệ
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
0000–2004 Fylkir
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2004–2006 Fylkir 38 (2)
2007–2011 IFK Göteborg 125 (12)
2011–2014 Copenhagen 69 (4)
2014–2016 Krasnodar 59 (2)
2016–2018 Fulham 17 (1)
2017Rubin Kazan (mượn) 12 (0)
2018–2020 Rostov 49 (0)
2020 Copenhagen 5 (0)
2021 Rukh Lviv 1 (0)
2021 Fylkir 5 (0)
Tổng cộng 380 (21)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2001–2002 U-17 Iceland 11 (1)
2004 U-19 Iceland 5 (2)
2005–2006 U-21 Iceland 7 (0)
2007–2020 Iceland 97 (5)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm Đội
2023 Fram Reykjavik
2025- AGF U17
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Ragnar Sigurðsson (sinh ngày 19 tháng 6 năm 1986) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Iceland từng thi đấu ở vị trí trung vệ. Bắt đầu sự nghiệp tại Fylkir, ông sau đó khoác áo IFK Göteborg, Copenhagen, Krasnodar, Fulham, Rubin Kazan, RostovRukh Lviv trước khi giải nghệ tại Fylkir. Là tuyển thủ quốc gia trong giai đoạn 2007-20, ông có 97 lần khoác áo đội tuyển quốc gia Iceland và đại diện cho quốc gia tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016, nơi đội vào đến tứ kết, cũng như Giải vô địch bóng đá thế giới 2018. Tháng 11 năm 2022, Ragnar được giới thiệu là trợ lý huấn luyện viên của Fram Reykjavik, và đến tháng 7 năm 2023, ông trở thành huấn luyện viên tạm quyền của đội sau khi người tiền nhiệm Jón Þórir Sveinsson rời vị trí.

Sự nghiệp câu lạc bộ

IFK Göteborg

Sau khi thi đấu cho Fylkir, Ragnar gia nhập câu lạc bộ Thụy Điển IFK Göteborg vào năm 2006. Ông ra mắt Allsvenskan vào ngày 6 tháng 4 năm 2007, đá chính trong trận đầu tiên của mùa giải 2007. Ông sau đó thi đấu trọn 90 phút trong cả 26 trận giải vô địch của câu lạc bộ, tạo thành cặp trung vệ chắc chắn với Mattias Bjärsmyr khi đội giành chức vô địch Allsvenskan 2007. Ông thường xuyên được liên hệ với nhiều câu lạc bộ lớn tại Ligue 1, Serie A, BundesligaGiải bóng đá Ngoại hạng Anh. Giám đốc thể thao của IFK Göteborg, Håkan Mild, nhận xét rằng câu lạc bộ có thể thu về khoảng 3 triệu euro phí chuyển nhượng cho hậu vệ tài năng này.[2] Trong mùa giải thứ hai, Ragnar thi đấu 29 trận[3] trong tổng số 30 trận, khi đội kết thúc ở vị trí thứ ba. Câu lạc bộ cũng giành SupercupenCúp bóng đá Thụy Điển trong mùa giải 2008.

F.C. Copenhagen

Ngày 30 tháng 5 năm 2011, Ragnar ký hợp đồng bốn năm với nhà vô địch Đan Mạch F.C. Copenhagen.[4] Mức phí được cho là khoảng 5,5 triệu krone Đan Mạch.[5]

FC Krasnodar

Ngày 23 tháng 1 năm 2014, câu lạc bộ Russian Football Premier League FC Krasnodar thông báo ký hợp đồng với Ragnar có thời hạn hai năm rưỡi, kèm tùy chọn gia hạn thêm một năm.[6]

Fulham

Ngày 23 tháng 8 năm 2016, Ragnar ký hợp đồng hai năm với đội bóng Championship Fulham với mức phí không được tiết lộ.[7] Ông ghi bàn thắng đầu tiên và cũng là duy nhất sau 18 lần chơi cho Fulham trong chiến thắng 2–0 trước Ipswich Town vào ngày 26 tháng 12 năm 2016.[8]

Rubin Kazan

Ngày 3 tháng 8 năm 2017, ông trở lại Nga, ký hợp đồng cho mượn với FC Rubin Kazan trong mùa giải 2017–18.[9]

Rostov

Ngày 18 tháng 1 năm 2018, ông ký hợp đồng chuyển nhượng chính thức đến FC Rostov, câu lạc bộ Nga thứ ba trong sự nghiệp của mình, nơi ông hội ngộ các đồng đội ở đội tuyển quốc gia Iceland là Sverrir Ingi IngasonBjörn Bergmann Sigurðarson.[10] Ngày 1 tháng 1 năm 2020, hợp đồng của ông với Rostov bị chấm dứt theo thỏa thuận chung.[11]

Trở lại Copenhagen

Ngày 12 tháng 1 năm 2020, ông trở lại Copenhagen sau 6 năm chơi bóng ở Nga và Anh với hợp đồng đến mùa hè năm 2020.[12] Tại Copenhagen, ông mặc áo số 27. Sau này, hợp đồng được gia hạn thêm 1 năm nhưng anh đã sớm rời đi khi ở giai đoạn giữa mùa giải.[13]

Rukh Lviv

Ngày 18 tháng 1 năm 2021, Sigurðsson chuyển đến đội bóng Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina Rukh Lviv, ký hợp đồng đến mùa hè năm 2021, kèm tùy chọn gia hạn thêm một năm.[14]

Sự nghiệp quốc tế

Tập tin:Ragnar Sigurðsson 2018.jpg
Ragnar thi đấu cho Rostov năm 2018

Ragnar được chọn vào đội hình 23 cầu thủ do Heimir HallgrímssonLars Lagerbäck dẫn dắt tham dự Euro 2016.[15] Ông ghi bàn thắng đầu tiên cho Iceland vào ngày 16 tháng 11 năm 2014 trong trận thua 1–2 trước Cộng hòa Séc tại Doosan Arenavòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016.[16] Ngày 27 tháng 6 năm 2016, ông ghi bàn đầu tiên cho Iceland trong chiến thắng gây bất ngờ 2–1 trước Anhvòng 16 đội.[17][18] Những nỗ lực của ông trong trận đấu giúp ông được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận.[19] Ragnar thực hiện một pha tắc bóng vào phút chót, được mô tả là "xuất sắc", để ngăn Jamie Vardy có cơ hội ghi bàn gỡ hòa trong trận đấu.[20]

Tháng 5 năm 2018, ông có tên trong đội hình 23 cầu thủ Iceland tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga.[21] Đây là giải đấu đáng nhớ với đội tuyển Iceland khi họ xuất sắc hoà được đội tuyển Argentina rất mạnh. Tuy vậy họ đã sớm bị loại khi để thua Croatia và Nigeria sau đó.

Đời tư

Ngày 5 tháng 7 năm 2016, cảnh sát nhận được thông báo về một vụ gây rối tại nhà riêng của Ragnar ở Garðabær. Khi cảnh sát đến nhà, Ragnar đã rời khỏi hiện trường, còn căn hộ ở trong tình trạng tồi tệ với nhiều đồ đạc bị hư hỏng. Trong báo cáo của cảnh sát, vợ khi đó của Ragnar khẳng định rằng ông đã đe dọa bà. Vài ngày sau, Ragnar được cảnh sát triệu tập thẩm vấn, nơi ông phủ nhận mọi cáo buộc về bạo lực và đe dọa. Những người hàng xóm của Ragnar, vốn là người ban đầu gọi cảnh sát, đã báo cáo vụ việc lên Hiệp hội bóng đá Iceland (KSÍ), nhưng không có hành động nào được thực hiện. Sự việc được công khai vào tháng 9 năm 2021, khi một số vụ bạo lực liên quan đến các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp Iceland bị truyền thông Iceland phanh phui.[22]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu[23][24][25]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp Châu Âu Khác[a] U-23 Tổng cộng
Hạng đấu App Bàn thắng App Bàn thắng App Bàn thắng App Bàn thắng App Bàn thắng
Fylkir 2002 Úrvalsdeild 1 0 1 0
2003 2 0 2 0
Fylkir 2004 Úrvalsdeild 3 0 2 0 1 0 1 0 7 0
2005 17 1 4 0 7 0 28 1
2006 18 1 1 0 4 0 23 1
Tổng cộng 38 2 10 0 1 0 12 0 61 2
IFK Göteborg 2007 Allsvenskan 26 0 26 0
2008 29 4 3 0 32 4
2009 29 4 4 1 2 0 35 5
2010 28 1 2 0 2 0 1[b] 0 33 1
2011 13 3 2 0 0 0 15 3
Tổng cộng 125 12 8 1 5 0 1 0 139 13
Copenhagen 2011–12 Giải bóng đá vô địch quốc gia Đan Mạch 24 1 4 0 9 0 37 1
2012–13 31 3 0 0 10 0 41 3
2013–14 14 0 1 0 9 0 24 0
Tổng cộng 69 4 5 0 28 0 0 0 102 4
Krasnodar 2013–14 Giải bóng đá Ngoại hạng Nga 6 0 3 0 9 0
2014–15 26 1 2 0 11 0 39 1
2015–16 24 1 2 1 9 1 35 3
2016–17[26] 3 0 0 0 0 0 3 0
Tổng cộng 59 2 7 1 20 1 0 0 86 4
Fulham 2016–17[26] Championship 17 1 1 0 18 1
Rubin Kazan (mượn) 2017–18 Giải bóng đá Ngoại hạng Nga 12 0 1 0 13 0
Rostov 2017–18 Giải bóng đá Ngoại hạng Nga 9 0 9 0
Tổng cộng 329 21 32 2 56 1 13 0 430 24

Quốc tế

Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm[27]
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Iceland 2007 6 0
2008 4 0
2009 3 0
2010 3 0
2012 8 0
2013 10 0
2014 8 1
2015 9 0
2016 15 2
2017 8 0
2018 10 0
2019 10 2
2020 3 0
Tổng cộng 97 5
Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Iceland trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Ragnar.
Danh sách bàn thắng quốc tế được ghi bởi Ragnar Sigurðsson[27]
Thứ tự Ngày Địa điểm Lần khoác áo Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải đấu
1 16 tháng 11 năm 2014 Doosan Arena, Plzeň, Cộng hòa Séc 42  Séc 1–0 1–2 UEFA Euro 2016 qualification
2 27 tháng 6 năm 2016 Stade de Nice, Nice, Pháp 60  Anh 1–1 2–1 UEFA Euro 2016
3 6 tháng 10 năm 2016 Laugardalsvöllur, Reykjavík, Iceland 63  Phần Lan 3–2 3–2 Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
4 11 tháng 6 năm 2019 Laugardalsvöllur, Reykjavík, Iceland 88  Thổ Nhĩ Kỳ 1–0 2–1 Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020
5 2–0

Danh hiệu

IFK Göteborg

Copenhagen

Krasnodar

Cá nhân

Ghi chú


Tham khảo

  1. ^ a b "2018 FIFA World Cup Russia: List of players: Iceland" (PDF). FIFA. ngày 10 tháng 6 năm 2018. tr. 13. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018.
  2. ^ Sigurdsson intresserar engelska klubbar [liên kết hỏng vĩnh viễn] – Retrieved on 7 tháng 12 năm 2008, sportal.nu (in Swedish)
  3. ^ Player Profile: Ragnar Sigurdsson Lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007 tại Wayback Machine – Retrieved on 7 tháng 12 năm 2008, svenskfotboll.se (in Swedish)
  4. ^ FC København henter islænding i Sverige – Retrieved on 30 tháng 5 năm 2011, pol.dk (in Danish)
  5. ^ Officielt: Sigurdsson til FCK Lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2012 tại Wayback Machine – Retrieved on 30 tháng 5 năm 2011, sporten.dk (in Danish)
  6. ^ "Рагнар Сигурдссон стал игроком "Краснодара"" (bằng tiếng Nga). FC Krasnodar. ngày 23 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018.
  7. ^ "Sigurdsson Signs". Fulham Football Club. ngày 23 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2016.
  8. ^ "Ipswich 0–2 Fulham". BBC. ngày 26 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016.
  9. ^ Рагнар Сигурдссон – в «Рубине»! (bằng tiếng Nga). FC Rubin Kazan. ngày 3 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  10. ^ Рагнар Сигурдссон – игрок «Ростова! (bằng tiếng Nga). FC Rostov. ngày 18 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2018.
  11. ^ "Рагнар Сигурдссон покинул ФК "Ростов"" (bằng tiếng Nga). FC Rostov. ngày 1 tháng 1 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2020.
  12. ^ Bản mẫu:Chú thích press release
  13. ^ "FCK extend Ragnar Sigurdsson contract". F.C. København (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2026.
  14. ^ Bản mẫu:Chú thích press release
  15. ^ "A karla – Lokahópur fyrir EM 2016" (bằng tiếng Iceland). Knattspyrnusamband Íslands. ngày 9 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016.
  16. ^ Teitsson, Kristinn Páll (ngày 16 tháng 11 năm 2014). "Strákarnir felldir í Tékklandi". Vísir (bằng tiếng Iceland). Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2014.
  17. ^ "The Latest: Iceland beats England 2–1 at Euro 2016". ABC News. Associated Press. ngày 27 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2016.
  18. ^ Taylor, Daniel (ngày 27 tháng 6 năm 2016). "England humiliated as Iceland knock them out of Euro 2016". The Guardian. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2016.
  19. ^ "Iceland 'should have beaten the English by a bigger score'". ESPN FC. ngày 28 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2016.
  20. ^ "Iceland celebrates biggest victory with win over England". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2016.
  21. ^ Crawford, Stephen (ngày 4 tháng 6 năm 2018). "Revealed: Every World Cup 2018 squad - 2018 23-man lists". Goal. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2019.
  22. ^ "Landsliðsmaður flúði lögreglu eftir meint heimilisofbeldi nóttina eftir EM-fögnuð".
  23. ^ Ragnar Sigurðsson tại Soccerway
  24. ^ "Ragnar Sigurdsson". Swedish Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014.
  25. ^ "Ragnar Sigurðsson". KSÍ. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2014.
  26. ^ a b "Trận thi đấu của Ragnar Sigurðsson trong 2016/2017". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2017.
  27. ^ a b "Ragnar Sigurðsson". Football Association of Iceland (bằng tiếng Iceland). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2016.
  28. ^ "Alla 47 ärkeänglar | ifkdb.se". ifkdb.se. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.

Liên kết ngoài