Bước tới nội dung

Antonio Rukavina

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Antonio Rukavina
Tập tin:Antonio Rukavina 2018.jpg
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 26 tháng 1, 1984 (42 tuổi)
Nơi sinh Belgrade, CHXHCN Serbia, Nam Tư
Chiều cao 1,77 m
Vị trí Hậu vệ biên phải
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
Bežanija
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2002–2006 Bežanija 145 (18)
2007 Partizan 32 (4)
2008 Borussia Dortmund 19 (0)
2009–2012 1860 Munich 112 (1)
2012–2014 Valladolid 71 (2)
2014–2018 Villarreal 60 (0)
2018–2021 Astana 67 (0)
Tổng cộng 507 (25)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2007–2019 Serbia 59 (0)
Thành tích huy chương
Huy chương bạc – vị trí thứ hai UEFA Under-21 Championship 2007
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Antonio Rukavina (Kirin Serbia: Антонио Рукавина, phát âm [ǎntonio rukǎʋina]; sinh ngày 26 tháng 1 năm 1984) là một cựu cầu thủ bóng đá người Serbia từng thi đấu ở vị trí hậu vệ biên phải.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Rukavina khởi đầu tại câu lạc bộ địa phương Bežanija, có những lần ra sân đầu tiên ở đội một trong mùa giải 2002–03, khi đội giành quyền thăng hạng lên Second League of Serbia and Montenegro. Ông cũng giúp đội vô địch Serbian First League, qua đó giành quyền lên chơi tại Serbian SuperLiga.

Tháng 12 năm 2006, có thông báo rằng Partizan và Bežanija đã đạt thỏa thuận chuyển nhượng Rukavina và Žarko Lazetić.[1] Cả hai cầu thủ ký hợp đồng bốn năm vào tháng 1 năm 2007.[2] Dưới thời huấn luyện viên mới được bổ nhiệm Miroslav Đukić, Rukavina nhanh chóng khẳng định vị trí thường xuyên ở đội một, ghi ba bàn tại giải vô địch quốc gia sau 15 lần ra sân trong nửa sau của mùa giải 2006–07. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm đội trưởng trước mùa giải 2007–08.

Tháng 1 năm 2008, Rukavina chuyển đến câu lạc bộ Đức Borussia Dortmund,[3] ký một hợp đồng dài hạn. Ông có trận ra mắt Bundesliga vào tháng 2 cùng năm, thi đấu trọn 90 phút trong trận hòa 3–3 trên sân MSV Duisburg. Tháng 2 năm 2009, Rukavina chuyển sang câu lạc bộ 2. Bundesliga 1860 Munich theo dạng cho mượn đến hết mùa giải.[4] Ông chuyển hẳn đến 1860 Munich vào tháng 6 năm 2009, trong thương vụ mà Sven Bender đi theo chiều ngược lại thay cho phí chuyển nhượng.[5]

Tháng 7 năm 2012, Rukavina chuyển đến Tây Ban Nha và ký hợp đồng ba năm với Valladolid, qua đó tái hợp đồng hương kiêm cựu huấn luyện viên Miroslav Đukić.[6] Ông có trận ra mắt La Liga vào tháng 8 trong chiến thắng 1–0 trên sân Zaragoza, thi đấu trọn vẹn trận đấu. Trong hai mùa giải tại José Zorrilla, Rukavina có 71 lần ra sân và ghi hai bàn ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Tây Ban Nha.

Ngày 8 tháng 7 năm 2014, Rukavina ký hợp đồng hai năm với Villarreal.[7] Ông có 32 lần ra sân trên mọi đấu trường trong mùa giải ra mắt cùng El Submarino Amarillo. Ở mùa giải 2015–16 tiếp theo, Rukavina ra sân 31 trận, trong đó có 10 lần tại UEFA Europa League.

Tháng 7 năm 2018, Rukavina ký hợp đồng với nhà vô địch Kazakhstan Astana theo dạng chuyển nhượng tự do.[8] Ông giúp đội bảo vệ thành công chức vô địch quốc gia trong mùa giải đầu tiên của mình. Tháng 8 năm 2019, Rukavina gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ đến năm 2021.[9] Ngày 11 tháng 11 năm 2021, Rukavina tuyên bố giải nghệ.[10]

Sự nghiệp quốc tế

Rukavina từng đại diện cho đội tuyển U-21 Serbia tại Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu 2007.[11] Ông là hậu vệ phải lựa chọn số một của đội tại giải đấu, có bốn lần ra sân trong hành trình đội giành ngôi á quân sau khi thua 1–4 trước chủ nhà Hà Lan trong trận chung kết năm 2007.

Ngày 2 tháng 6 năm 2007, Rukavina có trận ra mắt quốc tế chính thức cho Serbia, thi đấu trọn 90 phút trong chiến thắng 2–0 trên sân Phần Lan ở một trận vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008.[12]

Tháng 6 năm 2010, ông có tên trong danh sách 23 cầu thủ cuối cùng tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2010,[13] nhưng không ra sân trận nào.

Tháng 6 năm 2018, huấn luyện viên Serbia Mladen Krstajić đưa Rukavina vào danh sách 23 cầu thủ cuối cùng tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.[14] Ông ra sân trong hai trận vòng bảng, gặp Costa RicaBrasil,[15][16] khi Serbia kết thúc ở vị trí thứ ba. Ông có tổng cộng 59 lần khoác áo đội tuyển và không ghi bàn,[17] trong khi trận quốc tế cuối cùng của ông là trận vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu trên sân Luxembourg vào tháng 9 năm 2019.[18]

Đời tư

Bà cố nội của Rukavina là người Croatia.[19]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu[20]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia Châu lục Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Bežanija 2002–03 Serbian League Belgrade 27 8 27 8
2003–04 Second League of
Serbia and Montenegro
33 3 33 3
2004–05 33 2 33 2
2005–06 Serbian First League 36 3 36 3
2006–07 Serbian SuperLiga 16 2 16 2
Tổng cộng 145 18 145 18
Partizan 2006–07 Serbian SuperLiga 15 3 2 0 0 0 17 3
2007–08 17 1 0 0 2 0 19 1
Tổng cộng 32 4 2 0 2 0 36 4
Borussia Dortmund 2007–08 Bundesliga 14 0 4 0 18 0
2008–09 5 0 1 0 1 0 1[a] 0 8 0
Tổng cộng 19 0 5 0 1 0 1 0 26 0
1860 Munich (mượn) 2008–09 2. Bundesliga 15 1 0 0 15 1
1860 Munich 2009–10 2. Bundesliga 32 0 3 0 35 0
2010–11 34 0 2 0 36 0
2011–12 31 0 2 0 33 0
Tổng cộng 112 1 7 0 119 1
Valladolid 2012–13 La Liga 37 1 1 0 38 1
2013–14 34 1 1 0 35 1
Tổng cộng 71 2 2 0 73 2
Villarreal 2014–15 La Liga 21 0 7 0 4 0 32 0
2015–16 18 0 3 0 10 0 31 0
2016–17 4 0 2 0 6 0 12 0
2017–18 17 0 4 0 3 0 24 0
Tổng cộng 60 0 16 0 23 0 99 0
Astana 2018 Kazakhstan
Premier League
3 0 0 0 14 0 0 0 17 0
2019 28 0 0 0 14 0 1[b] 0 43 0
2020 11 0 0 0 0 0 0[b] 0 11 0
2021 25 0 3 0 4 0 2[b] 0 34 0
Tổng cộng 67 0 3 0 32 0 3 0 105 0
Tổng cộng sự nghiệp 507 25 35 0 58 0 4 0 604 25
  1. ^ Lần ra sân ở German Supercup
  2. ^ a b c Lần ra sân ở Kazakhstan Super Cup

Quốc tế

Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm[20]
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Serbia 2007 7 0
2008 7 0
2009 4 0
2010 4 0
2011 0 0
2012 1 0
2013 5 0
2014 2 0
2015 0 0
2016 7 0
2017 7 0
2018 11 0
2019 4 0
Tổng cộng 59 0

Danh hiệu

Bežanija

Borussia Dortmund

Astana

Serbia

Tham khảo

  1. ^ "Lazetić i Rukavina u Partizanu!" (bằng tiếng Serbia). partizan.rs. ngày 12 tháng 12 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017.
  2. ^ "Tri nove laste u Partizanovom jatu!" (bằng tiếng Serbia). partizan.rs. ngày 11 tháng 1 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017.
  3. ^ "Rukavina completes Dortmund transfer". UEFA. ngày 4 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010.
  4. ^ "Antonio Rukavina wechselt auf Leihbasis zu 1860 München" (bằng tiếng Đức). bvb.de. ngày 2 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017.
  5. ^ "Sven Bender für Rukavina" (bằng tiếng Đức). Kicker. ngày 18 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017.
  6. ^ "El Valladolid ficha a Lluís Sastre y al serbio Antonio Rukavina" (bằng tiếng Tây Ban Nha). marca.com. ngày 20 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017.
  7. ^ "Rukavina, nuevo fichaje del Villarreal" (bằng tiếng Tây Ban Nha). marca.com. ngày 8 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017.
  8. ^ "Rukavina leaves Villarreal, joins Astana". football-espana.net. ngày 4 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
  9. ^ "Марин Томасов и Антонио Рукавина продлили контракты с Астаной". fcastana.kz/ (bằng tiếng Nga). FC Astana. ngày 26 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2019.
  10. ^ "Антонио Рукавина: В Казахстане я чувствовал себя как дома". fcastana.kz/ (bằng tiếng Russian). FC Astana. ngày 11 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2021.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  11. ^ "Rukavina's eyes on last four". UEFA. ngày 14 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017.
  12. ^ "Stanković: "Čestitke debitantima"" (bằng tiếng Serbia). b92.net. ngày 2 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017.
  13. ^ "Serbia cuts goalkeeper Brkic to make 23". espn.com. ngày 1 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017.
  14. ^ "Soccer: Krstajic names Serbia's final 23-man World Cup squad". Reuters. ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018.
  15. ^ "Kolarov stunner seals Serbia win". fifa.com. ngày 17 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 6. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  16. ^ "Brazil see off Serbia to top group". fifa.com. ngày 27 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 6. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  17. ^ "Antonio Rukavina – International Appearances". RSSSF. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
  18. ^ "Antonio Rukavina, international football player". EU-football.info. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
  19. ^ "Antonio Rukavina: Nemam namjere igrati za Hrvatsku". Jutarnji list (bằng tiếng Croatia). ngày 29 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2020.
  20. ^ a b Antonio Rukavina tại Soccerway

Liên kết ngoài