Bước tới nội dung

B36 Tórshavn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
B36 Tórshavn
Tập tin:B36 Tórshavn logo.svg
Tên đầy đủBóltfelagið 1936
Biệt danhB36
Những chú hổ trắng
Hvítir
Thành lập28 tháng 3 năm 1936; 90 năm trước (1936-03-28)
SânSân vận động Gundadalur,
Tórshavn, Quần đảo Faroe
Sức chứa5.000
Chủ tịchEdvard Heen
Người quản lýJákup Martin Joensen
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Quần đảo Faroe
2025Giải bóng đá Ngoại hạng Quần đảo Faroe, thứ 5 trên 10
Websiteb36.fo
Mùa giải hiện nay

B36 Tórshavn (tiếng Faroe: Bóltfelagið 1936 Tórshavn) là một câu lạc bộ bóng đá Faroe có trụ sở tại thủ đô Tórshavn, thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Quần đảo Faroe, hạng đấu cao nhất của bóng đá Quần đảo Faroe. B36 Tórshavn luôn thi đấu các trận sân nhà tại Gundadalur.[1]

Ngày nay, B36 Tórshavn là một trong những câu lạc bộ bóng đá thành công nhất tại Quần đảo Faroe, với 11 lần vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Quần đảo Faroe, 6 lần vô địch Cúp bóng đá Quần đảo Faroe và một lần vô địch Siêu cúp Quần đảo Faroe. Câu lạc bộ cũng có một bộ phận bóng đá nữ, hiện đang trong quá trình tái thiết. B36 Tórshavn là một trong những câu lạc bộ bóng đá lớn nhất tại Quần đảo Faroe, và được biết đến với lối chơi kỹ thuật, tích cực. Vào tháng 4 năm 2024, F.C. Copenhagen thông báo quan hệ hợp tác với B36 Tórshavn.[2][3]

B36 Tórshavn được biết đến với sự kết hợp giữa thành công lịch sử, dấu ấn tại đấu trường châu Âu và hệ thống đào tạo trẻ cung cấp cầu thủ cho đội tuyển quốc gia.

Lịch sử

Thành lập

B36 Tórshavn chính thức được thành lập vào ngày 28 tháng 3 năm 1936, nhưng đã thi đấu các trận đấu từ năm 1935. Thủ đô khi đó đang phát triển, và bóng đá nhận được rất nhiều sự quan tâm. B36 được thành lập bởi những người trẻ muốn chơi bóng đá nhưng không có cơ hội thi đấu cho câu lạc bộ hiện có là HB Tórshavn. Sáng kiến được đưa ra bởi một doanh nhân tên là Niels Ejdesgaard, người trở thành chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ bóng đá mới. Khi B36 được thành lập, họ tranh chấp với đối thủ địa phương về quyền sử dụng Sân vận động Gundadalur, mặc dù cả hai đội đều sử dụng địa điểm này và thi đấu một số trận derby tại đó trong mùa giải đầu tiên. Mâu thuẫn được giải quyết bởi thị trưởng Tórshavn, người quyết định rằng sân vận động sẽ được chia sẻ ngang bằng giữa hai câu lạc bộ. Năm 1946, câu lạc bộ lần đầu tiên được vinh danh là nhà vô địch quốc gia, và năm 1965 câu lạc bộ giành cúp quốc gia đầu tiên.

Thời kỳ khó khăn

Năm 1962, B36 Tórshavn giành chức vô địch quốc gia lần thứ năm, nhưng những thời kỳ đen tối sau đó đã đến. Câu lạc bộ phải chờ 35 năm để giành chức vô địch quốc gia tiếp theo. Tệ hơn nữa, đội bóng đối thủ HB Tórshavn đạt được nhiều thành công trong cùng giai đoạn. Vào giữa thập niên 1980, B36 Tórshavn hai lần xuống hạng khỏi hạng đấu cao nhất. Sau đó vào năm 1987, Kristian á Neystabø tiếp quản chức chủ tịch và Kjartan Mohr làm thủ quỹ. Họ đảm nhận nhiệm vụ tái thiết câu lạc bộ và thành công trong việc xoay chuyển tình hình. Thành tích được cải thiện, và cúp quốc gia được giành vào năm 1991, dù chức vô địch quốc gia bị đánh mất ở trận cuối cùng cùng năm đó. Sau đó, vào năm 1997, câu lạc bộ ăn mừng chức vô địch quốc gia đầu tiên sau 35 năm. Kể từ đó, B36 Tórshavn đã năm lần vô địch và ba lần giành cúp quốc gia.

Kình địch địa phương

Trong 20–25 năm qua, sự kình địch địa phương với HB Tórshavn đã gia tăng, và hiện nay hai câu lạc bộ gần như ngang bằng về sức mạnh. Năm 2018, hai đội đã thi đấu một trận chung kết cúp đầy căng thẳng, trong đó B36 Tórshavn giành chiến thắng trên chấm luân lưu, sau một trong những trận chung kết cúp kịch tính nhất trong lịch sử Quần đảo Faroe. Sau hai thẻ đỏ vào cuối trận, B36 Tórshavn phải chơi với 9 người chống lại 11 người từ thời gian bù giờ của trận đấu chính thức và trong toàn bộ hiệp phụ. Ở phút 95, B36 Tórshavn gỡ hòa 2–2 bằng cú sút cuối cùng trong thời gian thi đấu chính thức của cầu thủ trẻ Hannes Agnarson, rồi tiếp tục ngăn HB Tórshavn ghi bàn.[4] Tình thế 9 chống 11 này là sự lặp lại trận lượt về bán kết cúp năm trước, khi B36 Tórshavn cũng chơi với 9 người trong toàn bộ hiệp phụ và khoảng 20 phút thời gian thi đấu chính thức. Dù thiếu 2 người, B36 Tórshavn thắng trận 3–2, khi huyền thoại câu lạc bộ Róaldur Jacobsen ghi bàn từ khoảng cách 72 mét ở phút cuối.[5]

Cầu thủ được bán ra nước ngoài

Thông thường, các cầu thủ Faroe chuyển ra nước ngoài thi đấu là những cầu thủ trẻ gia nhập các câu lạc bộ nước ngoài với tư cách cầu thủ học viện, nhưng gần đây B36 Tórshavn đã bán hai cầu thủ đội một cho các đội bóng Na Uy. Năm 2018, hậu vệ tuyển thủ Quần đảo Faroe Odmar Færø được bán cho Hamarkameratene, nơi anh thi đấu một mùa giải. Sau đó anh trở lại giải vô địch Quần đảo Faroe để thi đấu cho KÍ Klaksvík. Tương tự, cựu cầu thủ Đội tuyển bóng đá U-21 quốc gia Quần đảo Faroe Meinhard Olsen được bán cho Kristiansund BK vào năm 2018. Sau một thời gian ngắn khoác áo B36 vào năm 2020, anh một lần nữa ra nước ngoài và hiện thi đấu cho Mjøndalen IF Fotball tại Na Uy. Tháng 6 năm 2019, anh ra mắt Đội tuyển bóng đá quốc gia Quần đảo Faroe trong trận gặp Tây Ban Nha.

Năm 2022, Martin Agnarsson được bán cho đội bóng Superliga Đan Mạch Viborg FF, sau khi hai đội gặp nhau tại UEFA Europa Conference League. Martin hiện là cầu thủ thường xuyên của đội tuyển U-21 quốc gia Quần đảo Faroe. Vào tháng 11 năm 2022, anh ra mắt đội tuyển quốc gia Quần đảo Faroe trong một trận giao hữu với Kosovo.

Cầu thủ quốc tế

B36 Tórshavn thường xuyên cung cấp cầu thủ cho đội tuyển quốc gia Quần đảo Faroe. Năm 2024, Andrass Johansen, Hannes Agnarsson, Jann BenjaminsenMagnus Egilsson được triệu tập cho các trận đấu gặp Liechtenstein và Đan Mạch. Một cầu thủ hiện tại của đội tuyển U-21 quốc gia Quần đảo Faroe là Jógvan Gullfoss.

Năm 2023, Taufee Skandari ra mắt Afghanistan. Đây là lần đầu tiên một cầu thủ không phải người Faroe tại giải vô địch Quần đảo Faroe được triệu tập lên đội tuyển quốc gia. Anh ra mắt trong trận gặp Kyrgyzstan tại CAFA Nations Cup 2023.

Các cựu tuyển thủ quốc gia trong đội hình hiện tại là: Heini Vatnsdal, Bogi Reinert Petersen và Hannes Agnarsson.

Hannes Agnarsson, Bogi Reinert Petersen, Bergur Poulsen, Dávid B. Andreasen, Ragnar Samuelsen, Símun Sólheim và Silas Eyðsteinsson đều từng thi đấu cho đội tuyển U-21 quốc gia Quần đảo Faroe.

Giải đấu châu Âu

Các câu lạc bộ tại Quần đảo Faroe lần đầu tham dự các giải đấu châu Âu vào năm 1992, sau khi Hiệp hội bóng đá Quần đảo Faroe trở thành thành viên của UEFA vào năm 1990. B36 được bốc thăm gặp Avenir Beggen ở vòng loại Cup Winners' Cup năm 1992. Họ đã tiến rất gần, nhưng không thể vào vòng một sau thất bại 1–0 và trận hòa 1–1 trên sân nhà.

Ở mùa 2005–06, đội lọt vào vòng hai của UEFA Cup sau khi đánh bại ÍBV Vestmannaeyar của Iceland với tổng tỉ số 3–2. Ở vòng hai, họ thua sát nút câu lạc bộ Superliga Đan Mạch FC Midtjylland 1–2 trên sân khách và hòa 2–2 trên sân nhà. Đội lọt vào vòng loại thứ hai của UEFA Champions League ở mùa 2006–07 sau khi đánh bại Birkirkara F.C. của Malta với tổng tỉ số 5–2 và bị loại ở vòng loại thứ hai của UEFA Champions League, khi thua cả hai trận trước Fenerbahçe với tỉ số 4–0 và 5–0.

Tại UEFA Europa League 2018–19, B36 lọt vào vòng loại thứ hai sau khi đánh bại St Joseph's của Gibraltar trên chấm luân lưu ở vòng sơ loại, sau tổng tỉ số 2–2. Đội cũng vượt qua vòng loại thứ nhất khi đánh bại OFK Titograd của Montenegro sau trận hòa 0–0 trên sân nhà và chiến thắng 2–1 trên sân khách. Ở vòng hai, B36 Tórshavn gặp Beşiktaş Istanbul. Đối thủ này quá mạnh, và các trận đấu kết thúc với tỉ số 0–2 và 0–6.

Chiến dịch Europa League 2020–21 là chiến dịch châu Âu thành công nhất từ trước đến nay, khi B36 trở thành đội Faroe đầu tiên vượt qua ba vòng tại một giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA. Đây là năm xảy ra đại dịch, vì vậy các trận vòng loại được thi đấu theo thể thức một trận ở mỗi vòng. Các chiến thắng lần lượt đến trước St Joseph's của Gibraltar trên sân khách, Levadia Tallinn sau hiệp phụ trên sân nhà và The New Saints sau loạt luân lưu trên sân nhà. Đối thủ ở vòng ba trở nên hơi quá mạnh. B36 thi đấu trên sân khách và thua 1–3 trước CSKA Sofia.

Tại Conference League 2022–23, B36 trở thành đội Faroe đầu tiên trong lịch sử lật ngược thất bại trên sân khách thành chiến thắng chung cuộc. Họ thua 0–2 trước Borac Banja Luka, nhưng thắng 3–1 sau hiệp phụ trên sân nhà và thắng 4–3 trên chấm luân lưu. Chiến dịch kết thúc ở vòng ba, nơi đội bóng Đan Mạch Viborg là đối thủ của họ.

Tại Conference League 2023–24, B36 lọt vào vòng loại thứ ba sau các chiến thắng trước Paide Linnameeskond của Estonia và Haverfordwest County của Wales. Ở vòng ba, đối thủ đến từ Croatia là Rijeka tỏ ra quá mạnh, và B36 thua cả hai trận.

Đội hình hiện tại

Tính đến 15 tháng 6 năm 2026

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Quần đảo Faroe Silas Eyðsteinsson
3 HV Quần đảo Faroe Bergur Poulsen
5 HV Quần đảo Faroe Børge Petersen
7 HV Quần đảo Faroe Símun Sólheim
8 TV Quần đảo Faroe Ragnar Samuelsen
9 Quần đảo Faroe Hannes Agnarsson
10 Sénégal Boubacar Dabo
11 Quần đảo Faroe Pætur Petersen
12 TV Quần đảo Faroe Heini Guttesen
14 TV Quần đảo Faroe Jógvan Gullfoss
15 TV Quần đảo Faroe Gilli Samuelsen
16 TV Quần đảo Faroe Carl Mikkelsen
17 TV Quần đảo Faroe Jóhann H. Joensen
Số VT Quốc gia Cầu thủ
18 TV Quần đảo Faroe Dávid B. Andreasen
19 TV Quần đảo Faroe Rani í Soylu
20 TV Quần đảo Faroe Djóni Sivertsen
21 Quần đảo Faroe Tobias Elmelund Hansen
22 HV Quần đảo Faroe Bogi Reinert Petersen (đội trưởng)
23 HV Quần đảo Faroe Heini Vatnsdal
24 Quần đảo Faroe Bartal Páll Klein
25 TM Quần đảo Faroe Hans Jørgensen
26 HV Quần đảo Faroe Rói Hansen
27 TV Quần đảo Faroe Tórur Eið Eliasen
28 HV Quần đảo Faroe Mattias Weihe Joensen
30 TV Quần đảo Faroe Leivur F. Guttesen

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
13 TV Quần đảo Faroe Dávid Viderø (tại 07 Vestur đến ngày 5 tháng 7 năm 2026)

Danh hiệu

Thành tích tại các giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA

Cập nhật đầy đủ tính đến trận đấu diễn ra ngày 18 tháng 7 năm 2024

Tổng quan

Giải đấu Trận T H B BT BB
UEFA Champions League
14
2
3
9
12
30
UEFA Cup / UEFA Europa League
31
4
7
20
29
70
European Cup Winners' Cup
2
0
1
1
1
2
UEFA Europa Conference League
14
4
3
7
11
18
UEFA Intertoto Cup
4
0
0
4
2
15
TỔNG
65
10
14
41
55
135

Các trận đấu

Ở mùa giải 2020–21, B36 trở thành đội Faroe đầu tiên vượt qua ba vòng của một giải đấu cấp câu lạc bộ UEFA.[6][7]

Mùa giải Giải đấu Vòng Đối thủ Sân nhà Sân khách Tổng
1992–93 European Cup Winners' Cup VL Luxembourg Avenir Beggen 1–1 0–1 1–2
1997 UEFA Intertoto Cup Bảng 5 Bỉ Genk 0–5 thứ 5
Na Uy Stabæk 0–5
Nga F.K. Dynamo Moskva 0–1
Hy Lạp Panachaiki 2–4
1998–99 UEFA Champions League VL1 Israel Beitar Jerusalem 0–1 1–4 1–5
1999–2000 Cúp UEFA VL Thổ Nhĩ Kỳ Ankaragücü 0–1 0–1 0–2
2000–01 Cúp UEFA VL Đan Mạch AB 0–1 0–8 0–9
2002–03 UEFA Champions League VL1 Gruzia Torpedo Kutaisi 0–1 2–5 2–6
2004–05 Cúp UEFA VL1 Latvia Liepājas Metalurgs 1–3 1–8 2–11
2005–06 Cúp UEFA VL1 Iceland ÍBV 2–1 1–1 3–2
VL2 Đan Mạch Midtjylland 2–2 1–2 3–4
2006–07 UEFA Champions League VL1 Malta Birkirkara 2–2 3–0 5–2
VL2 Thổ Nhĩ Kỳ Fenerbahçe 0–5 0–4 0–9
2007–08 Cúp UEFA VL1 Litva Ekranas 1–3 2–3 3–6
2008–09 Cúp UEFA VL1 Đan Mạch Brøndby 0–2 0–1 0–3
2009–10 UEFA Europa League VL1 Gruzia Olimpi Rustavi 0–2 0–2 0–4
2012–13 UEFA Champions League VL1 Bắc Ireland Linfield 0–0 0–0 0–0 (3–4 p)
2014–15 UEFA Europa League VL1 Bắc Ireland Linfield 1–2 1–1 2–3
2015–16 UEFA Champions League VL1 Wales The New Saints 1–2 1–4 2–6
2016–17 UEFA Champions League VL1 Malta Valletta 2–1 0–1 2–2 (a)
2017–18 UEFA Europa League VL1 Estonia Nõmme Kalju 1–2 1–2 2–4
2018–19 UEFA Europa League VS Gibraltar St Joseph's 1–1 1–1 2–2, 4–2 (p)
VL1 Montenegro OFK Titograd 0–0 2–1 2–1
VL2 Thổ Nhĩ Kỳ Beşiktaş 0–2 0–6 0–8
2019–20 UEFA Europa League VL1 Bắc Ireland Crusaders 2–3 0–2 2–5
2020–21 UEFA Europa League VS Gibraltar St Joseph's 2–1
VL1 Estonia FCI Levadia 4–3 (s.h.p.)
VL2 Wales The New Saints 2–2 (5–4 p)
VL3 Bulgaria CSKA Sofia 1–3
2022–23 UEFA Europa Conference League VL1 Bosna và Hercegovina Borac Banja Luka 3–1 (s.h.p.) 0–2 3–3 (4–3 p)
VL2 San Marino Tre Fiori 1–0 0–0 1–0
VL3 Đan Mạch Viborg 1–2 0–3 1–5
2023–24 UEFA Europa Conference League VL1 Estonia Paide Linnameeskond 0–0 2–0 (s.h.p.) 2–0
VL2 Wales Haverfordwest County 2–1 1–1 (s.h.p.) 3–2
VL3 Croatia Rijeka 1–3 0–2 1–5
2024–25 UEFA Conference League VL1 Latvia Auda 0–1 0–2 0–3
Ghi chú
  • VS: Vòng sơ loại
  • VL: Vòng loại
  • VL1: Vòng loại thứ nhất
  • VL2: Vòng loại thứ hai
  • VL3: Vòng loại thứ ba

Huấn luyện viên

  • Quần đảo Faroe Martin Holm (1946-47)
  • Đan Mạch Arne Rasmussen (1948)
  • Scotland John Black (1953)
  • Quần đảo Faroe Petur Simonsen[8] (1958)
  • Quần đảo Faroe Petur Simonsen[9] (1962)
  • Đan Mạch Bengt Anemann (1965)
  • Quần đảo Faroe Jørleif Kúrberg (1966)
  • Áo Walter Pfeiffer (1967)
  • Quần đảo Faroe Gunnleif Mouritsen (1968)
  • Đan Mạch Per From Egebjerg (1970-71)
  • Iceland Eggert Jóhannesson (1974-75)
  • Quần đảo Faroe Árni Rein (1976-77)
  • Quần đảo Faroe Jacob Thomsen (1978)
  • Quần đảo Faroe Sólbjørn Mortensen (1979)
  • Scotland Stan Mills (1980)
  • Quần đảo Faroe Jørleif Kúrberg (1980)
  • Quần đảo Faroe Jógvan Nordbúð (1981-82)
  • Quần đảo Faroe Jóhan Nielsen (1983-86)
  • Quần đảo Faroe Jógvan Nordbúð (1987-89)
  • Quần đảo Faroe Petur Simonsen (1990–92)
  • Ba Lan Jacek Burkhardt (1993–94)
  • Iceland Páll Guðlaugsson (1994)
  • Quần đảo Faroe Petur Simonsen (1995)
  • Quần đảo Faroe Jógvan Nordbúð (1996)
  • Serbia Tomislav Sivić (1997–99)
  • Thụy Điển Per Olov Andersson (2000)
  • Ba Lan Piotr Krakowski (2000–02)
  • România Ion Geolgău (2002–03)
  • Quần đảo Faroe Jóannes Jakobsen (2004)
  • Quần đảo Faroe Sigfríður Clementsen (2005–06)
  • Quần đảo Faroe Kurt Mørkøre (2007)
  • Quần đảo Faroe Heðin Askham (2008)
  • Quần đảo Faroe Mikkjal Thomassen (ngày 1 tháng 1 năm 2009–09)
  • Serbia Milan Cimburović (2009)
  • Quần đảo Faroe Sigfríður Clementsen (2009–10)
  • Quần đảo Faroe Allan Mørkøre (2010)
  • Quần đảo Faroe John Petersen (2011)
  • Quần đảo Faroe Mikkjal Thomassen (2011–13)
  • Quần đảo Faroe Sámal Erik Hentze (2014)
  • Quần đảo Faroe Eyðun Klakstein (2015–16)
  • Quần đảo Faroe Jákup á Borg (2017–20)
  • Quần đảo Faroe Dan Brimsvík (2020–24)
  • Na Uy Magne Hoseth (2024)
  • Quần đảo Faroe Jákup Martin Joensen (2024-)

Cựu cầu thủ nổi bật

  • Quần đảo Faroe Kriss Guttesen là thủ môn của đội hình mạnh nhất từ năm 1946 đến năm 1960. Ông giành bốn chức vô địch quốc gia cùng câu lạc bộ và thi đấu ba trận quốc tế không chính thức.
  • Quần đảo Faroe Tórður Holm là một vận động viên xuất sắc, thi đấu ở nhiều môn. Trong bóng đá, ông được biết đến là một hậu vệ rất mạnh mẽ. Ông giành bốn chức vô địch quốc gia và một danh hiệu cúp cùng câu lạc bộ, đồng thời thi đấu 11 trận quốc tế không chính thức.
  • Quần đảo Faroe Baldvin Baldvinsson là một tay săn bàn khét tiếng, thi đấu cho câu lạc bộ trong thập niên 1960 và 1970. Ông giành một chức vô địch quốc gia và một danh hiệu cúp cùng câu lạc bộ, đồng thời thi đấu năm trận quốc tế không chính thức. Sau khi kết thúc sự nghiệp cầu thủ, ông trở thành một trong những trọng tài được kính trọng nhất trong bóng đá Quần đảo Faroe.
  • Quần đảo Faroe Eiler Mouritsen là một tiền vệ kỹ thuật, thi đấu cho câu lạc bộ trong thập niên 1970.
  • Quần đảo Faroe Tummas Eli Hansen là một trung vệ cực kỳ chắc chắn, người đã dẫn dắt câu lạc bộ đến chức vô địch quốc gia đầu tiên sau 35 năm vào năm 1997. Ông cũng giành một danh hiệu cúp cùng câu lạc bộ và thi đấu 27 trận chính thức cùng 4 trận không chính thức cho Quần đảo Faroe.
  • Quần đảo Faroe Jens Kristian Hansen là anh trai của Tummas Eli Hansen. Ông dành phần lớn sự nghiệp tại B36, với những giai đoạn ngắn ở Đan Mạch và Scotland. Ông hai lần giành chức vô địch quốc gia và hai lần giành cúp quốc gia. Ở cấp độ quốc tế, ông thi đấu 44 trận cho Quần đảo Faroe và ghi ba bàn, trong đó bàn nổi tiếng nhất là vào lưới Tây Ban Nha ở một trận vòng loại World Cup.[10] Ông cũng thi đấu hai trận quốc tế không chính thức.
  • Quần đảo Faroe John Petersen là một tiền đạo, người dành phần lớn giai đoạn hay nhất trong sự nghiệp tại câu lạc bộ, giành hai chức vô địch quốc gia, hai danh hiệu cúp và ghi tổng cộng 54 bàn. Trong nhiều năm, ông là cầu thủ ghi bàn kỷ lục tại Giải bóng đá Ngoại hạng Quần đảo Faroe với 147 bàn. Ông thi đấu 57 trận cho Quần đảo Faroe và ghi 6 bàn.
  • Quần đảo Faroe Jákup á Borg là cầu thủ được yêu thích mọi thời đại và là người khuấy động khán đài nổi tiếng của B36 Tórshavn, dù ông từng trải qua bốn mùa giải với đối thủ địa phương HB Tórshavn. Ông giành năm chức vô địch quốc gia cùng B36 và hai chức vô địch với HB Tórshavn. Ngoài ra, ông còn giành ba danh hiệu cúp, hai với B36 và một với đối thủ. Ông ghi tổng cộng kỷ lục 153 bàn tại Giải bóng đá Ngoại hạng Quần đảo Faroe, thành tích chỉ mới bị vượt qua gần đây. Ông cũng thi đấu 61 trận cho Quần đảo Faroe và ghi 2 bàn.
  • Quần đảo Faroe Klæmint Matras, còn được biết đến với biệt danh Mr. B36, thi đấu ở vị trí tiền vệ phòng ngự, và lối chơi hết mình cùng tinh thần chiến đấu của ông khiến ông trở thành huyền thoại trong mắt người hâm mộ. Ông làm đội trưởng trong nhiều mùa giải, giành bốn chức vô địch quốc gia và ba danh hiệu cúp. Ông được ghi nhận đã thi đấu 2 trận cho Quần đảo Faroe.
  • Ba Lan Łukasz Cieślewicz là một công dân Ba Lan, người dành phần lớn sự nghiệp thi đấu cho B36 Tórshavn. Ông và gia đình ban đầu đến Quần đảo Faroe khi ông còn là thiếu niên. Cha ông, Robert Cieślewicz, là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, từng thi đấu tại Quần đảo Faroe trong vài năm. Sau một vài năm thi đấu tại Đan Mạch, Łukasz gia nhập câu lạc bộ vào năm 2011. Ông ngay lập tức trở thành một trong những ngôi sao của Giải bóng đá Ngoại hạng Quần đảo Faroe, và giành ba chức vô địch quốc gia cùng một danh hiệu cúp với câu lạc bộ. Ông rời B36 vào năm 2020 để gia nhập Víkingur Gøta, và trong các năm 2021 và 2022 ông thi đấu cho B68 Toftir. Hiện ông đã giải nghệ.
  • Quần đảo Faroe Róaldur Jacobsen là một tiền vệ tấn công từng thi đấu trọn sự nghiệp cho B36. Ông là một trong những cầu thủ kỹ thuật nhất tại giải vô địch Quần đảo Faroe, đồng thời cũng là một chuyên gia đá phạt xuất sắc. Ông giành ba chức vô địch quốc gia và một danh hiệu cúp cùng câu lạc bộ. Ở cấp độ quốc tế, ông thi đấu sáu trận cho Quần đảo Faroe và nhiều trận U-21. Ông giải nghệ ở tuổi 28 vì chấn thương.

Tham khảo

  1. ^ "About football turf". Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019.
  2. ^ "B36 Tórshavn bliver ny samarbejdsklub". F.C. København (bằng tiếng Đan Mạch). ngày 14 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2024.
  3. ^ "FCK indgår samarbejde med færøsk traditionsklub". bold.dk (bằng tiếng Đan Mạch). ngày 9 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2024.
  4. ^ "Cup Final 2018". YouTube. ngày 25 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2021.
  5. ^ "Cup Semi Final 2017 (highlights)". ngày 26 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019.
  6. ^ Solby Christiansdóttir (ngày 16 tháng 9 năm 2020). "B36 hevur skrivað fótbóltssøgu" (bằng tiếng Faroe). KVF. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2020.
  7. ^ Jóannes Hansen (ngày 16 tháng 9 năm 2020). "B36 skrivar føroyska søgu í Europa" (bằng tiếng Faroe). in.fo. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2020.
  8. ^ "Petur á Barnaheiminum"
  9. ^ "Petur á Barnaheiminum"
  10. ^ "Spain – Faroes (11'th October 1997)". Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019.

Liên kết ngoài