Moon Seon-min (tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; HanjaLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; sinh ngày 9 tháng 6 năm 1992) là một cầu thủ bóng đá người Hàn Quốc thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh cho FC Seoul[2]đội tuyển quốc gia Hàn Quốc. Anh trở thành cầu thủ bóng đá Hàn Quốc đầu tiên thi đấu tại Allsvenskan, hạng đấu cao nhất của Thụy Điển.[3]

Moon Seon-min
Tập tin:250222 FC 서을 vs 안양 (문선민).jpg
Moon năm 2025
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 9 tháng 6, 1992 (34 tuổi)
Nơi sinh Seoul, Hàn Quốc
Chiều cao 1,73 m[1]
Vị trí tiền vệ cánh
Thông tin đội
Đội hiện nay
FC Seoul
Số áo 27
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
2011 Học viện Nike
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2012–2015 Östersunds FK 81 (10)
2015Djurgårdens IF (mượn) 10 (1)
2016 Djurgårdens IF 10 (1)
2017–2018 Incheon United 67 (18)
2019–2024 Jeonbuk Hyundai Motors 137 (26)
2020–2021Gimcheon Sangmu (nghĩa vụ) 21 (5)
2025– FC Seoul 44 (7)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2009 U-17 Hàn Quốc 3 (0)
2018– Hàn Quốc 21 (2)
Thành tích huy chương
Đại diện cho  Hàn Quốc
Bóng đá nam
Giải vô địch Đông Á

Bản mẫu:Đội hình MedalGold

*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 25 tháng 4 năm 2026
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 15 tháng 7 năm 2025
Moon Seon-min
Hangul
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Hanja
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).

Sự nghiệp câu lạc bộ

Đầu sự nghiệp

Sinh ra tại Seoul, Hàn Quốc, Moon bắt đầu sự nghiệp bóng đá tại Trường Trung học Janghoon vào năm 2008 và gắn bó ở đó trong hai năm.[4] Sau khi tốt nghiệp trung học vào năm 2010, sự nghiệp bóng đá của Moon gặp trở ngại khi không có câu lạc bộ K League nào đề nghị hợp đồng với anh và anh cũng không có cơ hội gia nhập một trường đại học nào.[5] Moon phải tìm hướng đi khác khi tham gia cuộc thi "The Chance" do Nike, Inc. tài trợ vào đầu năm 2011 và nằm trong số 100 cầu thủ, sau đó là 32 cầu thủ, được chọn vào vòng tiếp theo.[6] Anh trở thành một trong tám người chiến thắng được chuyển đến Anh và gia nhập Nike Academy vào mùa hè năm đó.[7] Trong thời gian ở Nike Academy, Moon trải nghiệm việc tập luyện trong thời tiết lạnh tại Anh, trái ngược với khí hậu ở Hàn Quốc.[8]

Östersunds FK

Moon ký hợp đồng với câu lạc bộ hạng ba Thụy Điển Östersunds FK vào ngày 26 tháng 1 năm 2012, sau khi huấn luyện viên người Anh của đội, Graham Potter, phát hiện ra anh khi ông trở về quê nhà để theo dõi cầu thủ Ghana David Accam, người cũng đang tập luyện tại Nike Academy vào thời điểm đó.[9]

Moon có trận ra mắt Östersunds FK khi đá chính cả trận trong trận hòa 1–1 trước IK Sirius ở trận mở màn mùa giải.[10] Anh ra sân thêm hai trận trước khi phải nghỉ thi đấu một tháng vì chấn thương ngón chân.[11] Mãi đến ngày 16 tháng 6 năm 2012, Moon mới trở lại sau chấn thương, vào sân thay người ở phút 62 trong thất bại 1–0 trước IK Frej.[12] Ở trận đấu tiếp theo trước BK Forward, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong thất bại 2–1.[13] Moon sau đó ghi bàn thắng thứ hai trong mùa giải vào ngày 14 tháng 7 năm 2012, trong trận hòa 1–1 trước Västerås SK.[14] Kể từ khi trở lại đội một sau chấn thương, anh giành lại vị trí trong đội hình chính và giúp đội vô địch Division 1 Norra, qua đó thăng hạng lên Superettan, hạng đấu thứ hai của Thụy Điển, ở mùa giải 2012.[15] Kết thúc mùa giải 2012, Moon có 25 lần ra sân và ghi hai bàn trên mọi đấu trường.[16]

Đầu mùa giải 2013, Moon phải cạnh tranh vị trí trong đội một và thường vào sân từ ghế dự bị.[17] Mãi đến ngày 15 tháng 6 năm 2013, anh mới ghi bàn đầu tiên trong mùa giải, trong chiến thắng 2–1 trước Ljungskile.[18] Bàn thắng thứ hai của anh trong mùa giải đến vào ngày 10 tháng 8 năm 2013, trong chiến thắng 1–0 trước IK Brage.[19] Sau đó, Moon giành lại vị trí trong đội hình xuất phát trong phần còn lại của mùa giải 2013.[20] Anh có 25 lần ra sân và ghi hai bàn trên mọi đấu trường. Sau khi mùa giải 2013 kết thúc, Moon quyết định trở về Hàn Quốc vì nỗi nhớ nhà.[21] Tuy nhiên, giữa giai đoạn tiền mùa giải 2014, anh trở lại Östersund và ký hợp đồng lại với câu lạc bộ.[22]

Moon khởi đầu mùa giải 2014 bằng bàn thắng đầu tiên trong mùa giải, trong chiến thắng 3–0 trước Varbergs BoIS vào ngày 3 tháng 5 năm 2014, rồi ghi bàn thắng thứ hai bảy ngày sau đó, vào ngày 10 tháng 5 năm 2014, trong chiến thắng 3–2 trước Landskrona.[23] Sau khi bắt đầu mùa giải trên ghế dự bị, Moon nhanh chóng giành lại vị trí trong đội hình xuất phát.[24] Một tháng sau, vào ngày 25 tháng 6 năm 2014, anh ghi bàn thắng thứ ba trong mùa giải, trong thất bại 2–1 trước Ängelholm.[25] Moon sau đó ghi thêm hai bàn trong mùa giải 2014.[26] Moon cũng đóng góp sáu pha kiến tạo trong giai đoạn sau của mùa giải 2014.[27] Dù phải nghỉ thi đấu hai lần trong mùa giải 2014,[28] anh vẫn có 25 lần ra sân và ghi năm bàn trên mọi đấu trường. Nhờ màn trình diễn của mình, Moon được trang web Thụy Điển "FotbollZ" chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Östersunds.[29]

Đầu mùa giải 2015, Moon bắt đầu mùa giải trên ghế dự bị.[30] Mãi đến ngày 5 tháng 5 năm 2015, anh mới ghi bàn đầu tiên trong mùa giải, đồng thời kiến tạo bàn thắng thứ ba của câu lạc bộ cho Michael Omoh, người lập hat-trick trong chiến thắng 4–1 trước Syrianska.[31] Cho đến khi rời đội, Moon đã ra sân trong mọi trận đấu kể từ đầu mùa giải và có 16 lần ra sân, ghi một bàn trên mọi đấu trường.[32]

Djurgårdens IF

Tập tin:Seon Min Moon.jpg
Moon trong thời gian khoác áo Djurgårdens IF.

Ngày 17 tháng 7 năm 2015, Moon ký hợp đồng với đội bóng Allsvenskan Djurgårdens IF.[33] Ban đầu, câu lạc bộ dự định ký hợp đồng với anh trước khi Allsvenskan khởi tranh, nhưng sau chấn thương phải nghỉ hết mùa của tiền vệ cánh phải Haris Radetinac, họ quyết định mượn anh từ Östersund trong phần còn lại của năm, kèm điều khoản mua đứt khi hợp đồng cho mượn kết thúc.[34]

Sau khi ngồi dự bị trong hai trận, Moon có trận ra mắt Djurgårdens IF vào ngày 10 tháng 8 năm 2015, khi anh thi đấu 71 phút trước khi bị thay ra trong thất bại 1–0 trước AIK.[35] Sau đó, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho Djurgårdens IF trong chiến thắng 4–2 trước Halmstad vào ngày 29 tháng 8 năm 2015.[36] Cơ hội ở đội một của Moon chủ yếu đến từ những lần vào sân từ ghế dự bị, và anh có 10 lần ra sân, ghi một bàn trên mọi đấu trường.[37] Dù vậy, câu lạc bộ ấn tượng với màn trình diễn của anh và ký hợp đồng chính thức với anh theo bản hợp đồng ba năm.[38]

Đầu mùa giải 2016, Moon bắt đầu thường xuyên được thi đấu cho đội một ở vị trí tiền vệ.[39] Mãi đến ngày 2 tháng 5 năm 2016, Moon mới ghi bàn thắng đầu tiên trong mùa giải, trong chiến thắng 3–0 trước câu lạc bộ cũ của anh, Östersunds FK.[40] Tuy nhiên, cơ hội thi đấu ở đội một của anh bị hạn chế về sau trong mùa giải 2016 do thường phải ngồi dự bị và gặp vấn đề chấn thương.[41] Dù vậy, anh vẫn có 11 lần ra sân và ghi một bàn trên mọi đấu trường. Ngày 25 tháng 11 năm 2016, có thông báo rằng Moon đã bị chấm dứt hợp đồng.[42]

Sau khi rời Thụy Điển, Moon cho biết anh đã nhìn lại quãng thời gian của mình tại quốc gia này.[43][44]

Incheon United

Sau khi rời Djurgårdens IF, Moon trở về Hàn Quốc và ký hợp đồng với Incheon United vào ngày 8 tháng 12 năm 2016.[45] Sau khi gia nhập câu lạc bộ, anh nói: "Tôi nghĩ rằng với tư cách một cầu thủ, tôi vẫn chưa trải nghiệm bóng đá Hàn Quốc. Tôi quyết định thử thách bản thân ở K-League khi cơ hội đến. Khi đó, tôi nhận được lời đề nghị từ cựu giám đốc Kim Do-hoon và Incheon, và sau đó giám đốc Lee Ki-hyeong cũng đề nghị chuyển nhượng tôi. Tôi rất vui khi lên chuyến bay trở về Hàn Quốc."[46] Moon cũng được bổ nhiệm làm đội phó của câu lạc bộ.[47]

Moon có trận ra mắt Incheon United vào ngày 18 tháng 3 năm 2017 trước Jeonbuk Hyundai Motors và thi đấu 81 phút trong trận hòa 0–0.[48] Màn trình diễn ra mắt của anh được truyền thông Hàn Quốc khen ngợi.[49] Ở trận đấu tiếp theo trước Suwon Samsung Bluewings, anh ghi những bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong trận hòa 3–3.[50] Với màn trình diễn này, Moon được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất vòng Bốn của mùa giải 2017.[51] Moon trở thành cầu thủ thường xuyên của đội một, thi đấu ở vị trí tiền vệ và nhanh chóng tạo dấu ấn.[52] Kể từ đầu mùa giải, Moon đá chính mọi trận cho đến khi anh bị loại khỏi đội hình trong trận gặp Gangwon vào ngày 16 tháng 7 năm 2017 do phong độ kém.[53] Phong độ kém của anh tiếp tục trong hai tháng tiếp theo, khiến anh phải ngồi trên ghế dự bị.[54] Dù vậy, Moon tiếp tục giành lại vị trí trong đội một và sau đó giúp câu lạc bộ tránh xuống hạng.[55] Những bàn thắng của anh trước Jeonnam DragonsSangju Sangmu góp phần giúp Incheon United tiếp tục ở lại K-League thêm một mùa giải.[56]

Trước mùa giải 2018, Moon nói rằng anh cần thể hiện tốt để đáp ứng kỳ vọng của cổ động viên câu lạc bộ.[57] Moon sau đó ghi những bàn thắng đầu tiên trong mùa giải, trong chiến thắng 3–2 trước Jeonbuk Hyundai Motors vào ngày 10 tháng 3 năm 2018.[58] Với màn trình diễn này, Moon được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất vòng Hai của mùa giải 2018.[59] Kể từ đầu mùa giải 2018, anh tiếp tục giành lại vị trí trong đội một, thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh trái và tiền vệ cánh phải.[60] Moon ghi năm bàn trong tháng 4, lần lượt trước Jeju United, Suwon Samsung Bluewings và hai lần trước Gyeongnam.[61] Sau khi Giải vô địch bóng đá thế giới kết thúc, Moon ghi bàn trong ngày trở lại đội hình xuất phát và ghi thêm một bàn nữa trong trận hòa 3–3 trước Jeonbuk Hyundai Motors vào ngày 7 tháng 7 năm 2018.[62] Tuy nhiên, trong trận đấu này, Moon bị chấn thương gân kheo và bỏ lỡ một trận; trước đó, anh đã thi đấu mọi trận kể từ đầu mùa giải 2018.[63] Moon trở lại đội một sau chấn thương, đá chính cả trận trong thất bại 3–0 trước Gyeongnam vào ngày 14 tháng 7 năm 2018.[64] Một tuần sau, trong trận gặp FC Seoul vào ngày 22 tháng 7 năm 2018, Moon ghi bàn thắng quyết định ở phút 87, giúp đội thắng 2–1 và chấm dứt chuỗi 16 trận không thắng của câu lạc bộ.[65] Anh tiếp tục giữ vị trí trong đội một trong phần còn lại của mùa giải 2018.[66] Một tháng sau, vào ngày 22 tháng 8 năm 2018, Moon ghi hai bàn, gồm bàn thứ nhất và thứ ba của câu lạc bộ, đồng thời kiến tạo bàn thứ hai trong chiến thắng 3–1 trước Jeonnam Dragons.[67] Sau trận đấu, anh được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất vòng 25 của mùa giải 2018 lần thứ hai.[68] Về cuối mùa giải 2018, Moon ghi thêm ba bàn cho đội và một lần nữa giúp câu lạc bộ tránh xuống hạng.[69] Kết thúc mùa giải 2018, anh có 38 lần ra sân và ghi 14 bàn trên mọi đấu trường.

Jeonbuk Hyundai Motors

Ngày 15 tháng 1 năm 2019, Jeonbuk Hyundai Motors chính thức ký hợp đồng với Moon Sun-min.[70] Moon Sun-min đến Jeonbuk theo một vụ trao đổi với Lee Jae-sung của Jeonbuk Hyundai Motors, người chuyển theo chiều ngược lại.[71] Việc anh rời Incheon United khiến các cổ động viên của câu lạc bộ thất vọng.[72] Khi gia nhập Jeonbuk Hyundai Motors, anh nói rằng việc đến câu lạc bộ này sẽ giúp anh phát triển với tư cách cầu thủ và được thi đấu tại AFC Champions League.[73] Moon sau đó cho rằng lý do anh chuyển nhượng là vì không được Paulo Bento công nhận đúng mức.[74]

Moon có trận ra mắt Jeonbuk Hyundai Motors trong trận mở màn mùa giải gặp Daegu khi vào sân thay người ở phút 75 trong chiến thắng 1–0.[75] Anh ghi bàn thắng đầu tiên trong trận đấu tiếp theo, trong chiến thắng 4–0 trước Suwon Samsung Bluewings.[76] Bốn ngày sau, vào ngày 13 tháng 3 năm 2019, Moon có trận ra mắt AFC Champions League, thi đấu 30 phút trong thất bại 1–0 trước Buriram United.[77] Đầu mùa giải 2019, Moon thường phải ngồi dự bị do phong độ không tốt.[78] Bàn thắng thứ hai của anh cho câu lạc bộ đến vào ngày 6 tháng 4 năm 2019, trong chiến thắng 2–0 trước câu lạc bộ cũ Incheon United.[79] Một tháng sau, vào ngày 29 tháng 5 năm 2019, Moon ghi hai bàn cho câu lạc bộ trong chiến thắng 3–2 trước Gangwon.[80] Sau trận đấu, anh được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất vòng 14 của mùa giải 2019.[81] Tiếp đó, anh ghi bàn trước Sangju Sangmu vào ngày 2 tháng 6 năm 2019.[82] Mười bảy ngày sau, vào ngày 19 tháng 6 năm 2019, Moon ghi bàn thắng đầu tiên tại AFC Champions League trong trận hòa 1–1 trước Shanghai SIPG ở lượt đi vòng 16 đội AFC Champions League.[83] Sau trận đấu, bàn thắng của anh được chọn là Bàn thắng đẹp nhất và anh cũng được vinh danh là Cầu thủ tiêu biểu của vòng 16 đội AFC Champions League.[84] Tuy nhiên, ở lượt về, anh bị truất quyền thi đấu trong những phút cuối hiệp phụ vì một pha phạm lỗi thiếu chuyên nghiệp; trận đấu phải bước vào loạt sút luân lưu và Jeonbuk Hyundai Motors thua 5–4.[85] Sau trận đấu, Moon xin lỗi về hành động của mình và nói rằng anh lẽ ra phải kiên nhẫn hơn.[86] Sau đó, vào ngày 10 tháng 7 năm 2019, Moon lập hat-trick đầu tiên trong sự nghiệp, trong chiến thắng 4–1 trước Daegu.[87] Trong hai tháng tiếp theo, Moon tiếp tục đóng góp cho các trận đấu của câu lạc bộ bằng việc kiến tạo nhiều bàn thắng, giúp đội có chuỗi thắng trong cuộc đua danh hiệu.[88] Trong trận gặp Suwon Samsung Bluewings vào ngày 26 tháng 9 năm 2019, anh vào sân thay người ở phút 81 và ghi bàn muộn trong chiến thắng 2–0.[89] Một tháng sau, vào ngày 20 tháng 10 năm 2019 trước Pohang Steelers, Moon ghi bàn thắng thứ 11 trong mùa giải, đồng thời kiến tạo bàn mở tỷ số trong chiến thắng 3–0.[90] Bàn thắng trước Pohang Steelers và màn trình diễn của anh lần lượt giúp anh giành giải Bàn thắng của tháng 10 và Cầu thủ xuất sắc nhất tháng 10.[91] Sau khi bỏ lỡ một trận, Moon trở lại đội hình xuất phát trước Gangwon ở trận cuối cùng của mùa giải và thi đấu 85 phút, khi Jeonbuk Hyundai Motors thắng 1–0 để giành chức vô địch quốc gia lần thứ ba liên tiếp.[92] Moon kết thúc mùa giải đầu tiên tại Jeonbuk Hyundai Motors với 37 lần ra sân và ghi 11 bàn trên mọi đấu trường. Nhờ màn trình diễn của mình, Moon thắng lớn tại lễ trao giải K League 2019 vào ngày hôm sau, giành giải Cầu thủ kiến tạo nhiều nhất K League và được chọn vào Đội hình tiêu biểu K League.[93] Sports G gọi Moon là bản hợp đồng hay nhất năm 2019.[94]

Sangju Sangmu

Trước mùa giải 2020, có thông báo rằng Moon gia nhập Sangju Sangmu, một câu lạc bộ quân đội.[95] Trước đó, anh từng nói trong một cuộc phỏng vấn rằng mình có ý định thực hiện nghĩa vụ quân sự.[44]

Sự nghiệp quốc tế

Tập tin:Mex-Kor (10).jpg
Moon đi bóng trong trận đấu của Hàn Quốc gặp Mexico tại Giải vô địch bóng đá thế giới ở Nga.

Vào tháng 3 năm 2009, Moon lần đầu tiên được triệu tập vào đội tuyển U-17 Hàn Quốc.[96] Anh có trận ra mắt U-17 Hàn Quốc khi vào sân thay người ở phút 57 trong chiến thắng 2–0 trước Nigeria vào ngày 9 tháng 4 năm 2009.[97] Moon sau đó có thêm hai lần ra sân cho U-17 Hàn Quốc.[98]

Vào tháng 5 năm 2018, Moon được điền tên vào danh sách sơ bộ 28 người của Hàn Quốc tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga.[99] Điều này đến từ màn trình diễn ấn tượng của anh tại Incheon United vào đầu mùa giải 2018.[100] Anh ra mắt đội tuyển Hàn Quốc trong trận gặp Honduras vào ngày 28 tháng 5 năm 2018, vào sân ở phút 56 và ghi bàn thắng thứ hai của đội tuyển trong chiến thắng 2–0.[101] Moon ra sân trong hai trận tiếp theo, đều từ ghế dự bị.[102] Cuối cùng, anh được chọn vào danh sách 23 người.[103] Sau khi bỏ lỡ hai trận vì chấn thương và phải ngồi dự bị, Moon có trận ra mắt Giải vô địch bóng đá thế giới trước Mexico vào ngày 23 tháng 6 năm 2018 và thi đấu 77 phút trước khi bị thay ra, khi Hàn Quốc thua 2–1.[104] Sau trận đấu, Osen chấm màn trình diễn của Moon 6,5 điểm vì anh tích cực tham gia các tình huống phản công ở tuyến trên.[105] Anh có thêm một lần ra sân tại Giải vô địch bóng đá thế giới, trong trận gặp Đức, và thi đấu 69 phút trước khi bị thay ra trong chiến thắng 2–0 vào ngày 27 tháng 6 năm 2018. Tuy nhiên, Hàn Quốc bị loại ở vòng bảng, xếp thứ ba và Moon có hai lần ra sân tại giải đấu.[106] Sau giải đấu, Best Eleven đánh giá màn trình diễn của Moon, đặc biệt là trong trận gặp Đức.[107]

Tập tin:2018 World Cup Hàn Quốc national football team Farewell Ceremony (2).jpg
Moon (trái) chụp cùng Lee Chung-yongJu Se-jong tại buổi lễ được tổ chức ở Seoul Plaza.

Hai tháng sau, vào cuối tháng 8, Moon một lần nữa được triệu tập lên đội tuyển quốc gia.[108][44] Anh ra sân cho đội tuyển, thi đấu 22 phút trong chiến thắng 2–0 trước Costa Rica vào ngày 7 tháng 9 năm 2018.[109] Hai tháng sau, vào ngày 20 tháng 11 năm 2018, Moon ghi bàn thắng thứ hai cho đội tuyển quốc gia trong chiến thắng 4–0 trước Uzbekistan.[110] Tuy nhiên, một tháng sau, anh bị loại khỏi danh sách 23 người trước thềm Cúp bóng đá châu Á 2019 tại Qatar.[111] Một năm sau, Moon được triệu tập lên đội tuyển quốc gia tham dự Giải vô địch bóng đá Đông Á 2019 khi Hàn Quốc là chủ nhà giải đấu.[112] Anh ra sân trong mọi trận đấu của đội tuyển tại giải, khi Hàn Quốc giành chức vô địch Đông Á sau khi thắng cả ba trận.[113]

Đời tư

Kể từ khi thi đấu tại Hàn Quốc, Moon có biệt danh là "Wolmido Azar".[114] Khi lớn lên, anh cho rằng Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 tại Hàn Quốc và Nhật Bản là lý do khiến anh muốn trở thành cầu thủ bóng đá.[115] Trong thời gian thi đấu ở nước ngoài, Moon nói tiếng Anh lưu loát và hiểu một ít tiếng Thụy Điển.[116]

Vào tháng 6 năm 2018, Moon thông báo kết hôn với Oh Hye-ji, một cổ động viên lâu năm của Incheon United. Hai người có một con gái.[117] Moon nói rằng sự ra đời của con gái khiến anh cảm thấy có trách nhiệm hơn.[118]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Tính đến trận đấu diễn ra ngày 25 tháng 4 năm 2026
Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia Châu lục Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Östersunds FK 2012 Swedish Division 1 15 2 1 0 16 2
2013 Superettan 25 2 25 2
2014 25 5 25 5
2015 16 1 16 1
Tổng cộng 81 10 1 0 82 10
Djurgårdens IF (mượn) 2015 Allsvenskan 10 1 10 1
Djurgårdens IF 2016 10 1 1 0 11 1
Incheon United 2017 K League 1 30 4 1 0 31 4
2018 37 14 1 0 38 14
Tổng cộng 67 18 2 0 69 18
Jeonbuk Hyundai Motors 2019 K League 1 32 10 0 0 5[a] 1 37 11
2021 19 3 0 0 19 3
2022 23 1 2 0 9[a] 3 34 4
2023 34 6 4 1 6[a] 4 44 11
2024 29 6 1 0 5[b] 3 2[c] 1 37 10
Tổng cộng 137 26 7 1 25 11 2 1 171 39
Gimcheon Sangmu (nghĩa vụ) 2020 K League 1 20 5 0 0 20 5
2021 K League 2 1 0 0 0 1 0
Tổng cộng 21 5 0 0 21 5
FC Seoul 2025 K League 1 35 6 2 0 6[a] 0 43 6
2026 9 1 0 0 4[a] 0 13 1
Tổng cộng 44 7 2 0 10 0 56 7
Tổng cộng sự nghiệp 370 68 13 1 35 11 2 1 420 81
  1. ^ a b c d e Lần ra sân ở AFC Champions League Elite
  2. ^ Ba lần ra sân ở AFC Champions League Elite, hai lần ra sân và ba bàn thắng ở AFC Champions League Two
  3. ^ Lần ra sân ở play-off thăng/xuống hạng K League

Quốc tế

Tỉ số và kết quả liệt kê số bàn thắng của Hàn Quốc trước.[119]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải đấu
1. 28 tháng 5 năm 2018 Sân vận động Daegu, Daegu, Hàn Quốc   Honduras 2–0 2–0 Giao hữu
2. 20 tháng 11 năm 2018 Queensland Sport and Athletics Centre, Brisbane, Úc   Uzbekistan 3–0 4–0 Giao hữu

Danh hiệu

Östersunds FK

Jeonbuk Hyundai Motors

Gimcheon Sangmu

Hàn Quốc

Cá nhân

Tham khảo

  1. ^ "2018 FIFA World Cup Russia – List of Players" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 4 tháng 6 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018.
  2. ^ "'World Cup Representative' Moon Sun-min becomes Incheon United's 'Star'" (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
  3. ^ "Ms. Sunmin, who grew up in Sweden, sets the target for Sweden". YTN (bằng tiếng Hàn). ngày 15 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
  4. ^ "'2002년생vs2002레전드' 문선민 배출한 서울 장훈고와 지구방위대 승부" (bằng tiếng Hàn). Sports Hankooki. ngày 5 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "[매거진S] 벵거가 선택한 소년, 그 후 1년" (bằng tiếng Hàn). Sports Naver. ngày 27 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  5. ^ "Should Moon Sun Min be brought back to the National Team?". Taeguk Warriors. ngày 1 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  6. ^ "한국 청소년 3명..'세계 축구유망주 100인' 선정" (bằng tiếng Hàn). Sports Naver. ngày 25 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "문선민, 전세계 유망주 발굴 프로그램 '더 찬스' 우승..유럽 유학" (bằng tiếng Hàn). Sports V Daum. ngày 23 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  7. ^ "Moons debut: ett väldigt positivt intryck" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2015.
    ""The Chance" Final Eight Players Announced". Nike, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2015.
  8. ^ "[김현회] '문..직' 문선민은 역시 '약간 떡관종이야'" (bằng tiếng Hàn). Sports G. ngày 15 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  9. ^ "Graham: "Whoever came to the club had to have a real desire for ÖFK"" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds FK. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2015.
    "나이키 아카데미 출신 문선민, 스웨덴 리그 진출" (bằng tiếng Hàn). Sports Chosun. ngày 26 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  10. ^ "MATCHREFERAT - SVFF SERIEMATCH" (bằng tiếng Thụy Điển). Fotbollz. ngày 14 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  11. ^ "Moon och Shaze saknas mot Sandviken" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 5 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "ÖFK NÄRA SEGER MOT VASALUND" (bằng tiếng Thụy Điển). Fotbollz. ngày 18 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "ÖFK'S TREDJE POÄNG PÅ LIKA MÅNGA MATCHER MEN FORTFARANDE INGEN VINST" (bằng tiếng Thụy Điển). Fotbollz. ngày 28 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  12. ^ "Upp till bevis, ÖFK" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 15 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Inför ÖFK-Väsby" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 8 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  13. ^ "Petters trista födelsedag" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 24 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  14. ^ "En poäng – men ingen straff" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 16 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  15. ^ "Jag kommer gärna på segerfesten, ÖFK!" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 22 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Östersund klart för superettan" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 28 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  16. ^ "Smajic och Landin skyttevinnare – men Strömstedt meste målgörare" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 20 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  17. ^ "ÖFK tappade segern på tre minuter" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 20 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "5–0 när ÖFK bjöd på propaganda" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 4 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Vi var några som tog fel beslut i lördags" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 19 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  18. ^ "ÖFK tog första segern sedan den 4 maj "Vi har alltid trott på det vi gör. Och nu ger det resultat"" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 14 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  19. ^ "Moon landade i grevens tid" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 11 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  20. ^ "Lindkvists volley frälste hemmapubliken" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Det blev inte som Moon tänkte sig" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Petters parader visade vägen" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 15 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "2–0 när ÖFK spelade ut GAIS på hemmaplan" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 24 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  21. ^ "Inget nytt kontrakt för Moon" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 3 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  22. ^ "Seon-Min Moon tillbaka i ÖFK" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2015.
  23. ^ "Smajic visade vägen i lyckosam comeback" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 3 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Ett mycket stor seger" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 9 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  24. ^ "Efterlysningen: Bättre försvarsspel" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 18 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Hopcutt: – Jag borde ha dödat matchen" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 17 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Sex ordinarie spelare missar cupmatchen" (bằng tiếng Thụy Điển). Ltz.se. ngày 19 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Så scoutar ÖFK guldkornen" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 11 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Varning för få ÖFK-försvarare" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 24 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  25. ^ "Svag första halvlek gick inte reparera" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 25 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  26. ^ "Avskedsshowen för Modou Barrow?" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 18 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "ÖFK-seger efter mål med frillan" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 2 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  27. ^ "ÖPTV: Se presskonferensen efter ÖFK:s segermatch" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 17 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Spännande veckor framöver" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 19 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Förlust för ÖFK i sprakande match" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 21 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  28. ^ "Tveksamt att Moon är tillbaka på onsdag" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 22 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Nästa smäll: Moon borta" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 3 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  29. ^ "SEON- MIN MOON DEN BÄSTE!" (bằng tiếng Thụy Điển). FotbollZ. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2015.
  30. ^ "KRÖNIKA: Det här kan räcka långt, ÖFK" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 14 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Super-Dragan har presenterat sig" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 14 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Krönika: Ge Moon mera speltid" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 25 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  31. ^ "All fakta från ÖFK:s seger" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 5 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  32. ^ "Ännu ett poängtapp för ÖFK" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Drömstart för Bobo" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 3 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Följ ÖFK–Assyriska här" (bằng tiếng Thụy Điển). Itz.se. ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  33. ^ "Seon-Min Moon går till Djurgården från ÖFK" (bằng tiếng Thụy Điển). Expressen. ngày 17 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  34. ^ Bản mẫu:Chú thích web 2016
  35. ^ "Det är en högtid för alla sportspelsälskare" (bằng tiếng Thụy Điển). Expressen. ngày 31 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Djurgårdens drag: Moon startar i derbyt" (bằng tiếng Thụy Điển). Expressen. ngày 10 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "AIK vann derbyt – trots tidigt rött kort" (bằng tiếng Thụy Điển). Aftonbladet. ngày 10 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  36. ^ "Blodet forsade – efter Keenes fula armbåge" (bằng tiếng Thụy Điển). Expressem. ngày 29 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  37. ^ "Räddade poäng – med matchens sista spark" (bằng tiếng Thụy Điển). Aftonbladet. ngày 28 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Succédebutanten: Jag har varit så jäkla bra" (bằng tiếng Thụy Điển). Aftonbladet. ngày 24 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  38. ^ "KLART: Djurgården kontrakterar duo" (bằng tiếng Thụy Điển). Aftonbladet. ngày 27 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "DIF SKRIVER TREÅRSKONTRAKT MED SEON-MIN MOON" (bằng tiếng Thụy Điển). Djurgårdens IF. ngày 27 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  39. ^ "Djurgården krossade Falkenberg totalt" (bằng tiếng Thụy Điển). Expressen. ngày 7 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Hammarby slog Dif – mäktiga sviten lever" (bằng tiếng Thụy Điển). Expressen. ngày 19 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Lühr: Det är en väldigt konstigt serie just nu" (bằng tiếng Thụy Điển). Expressen. ngày 3 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  40. ^ "Allt lossnade för Dif - seger efter dundermål" (bằng tiếng Thụy Điển). Expressen. ngày 2 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  41. ^ "Mrabti: 'Mitt mål var att spela'" (bằng tiếng Thụy Điển). Aftonbladet. ngày 11 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Då: derbysmäll Nu: skadesmäll" (bằng tiếng Thụy Điển). Aftonbladet. ngày 18 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  42. ^ "Seon-Min Moon lämnar Djurgården" (bằng tiếng Thụy Điển). aftonbladet.se. ngày 25 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016.
  43. ^ "문선민 "스웨덴, 피지컬 좋지만 둔해…준비 잘하면 해볼만"" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 10 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  44. ^ a b c "'신데렐라'? 문선민은 여전히 새로운 꿈을 꾼다[이성모의 어시스트+]" (bằng tiếng Hàn). Goal.com. ngày 6 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  45. ^ "인천, 스웨덴에서 뛰던 공격수 문선민 영입" (bằng tiếng Hàn). Noctus News. ngày 8 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "[오피셜] 인천유나이티드, '신데렐라' 문선민 영입…공격력 한층 더 강화" (bằng tiếng Hàn). Sports Naver. ngày 8 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  46. ^ "[인터뷰] 'K리그 신인' 문선민, 부주장 된 사연" (bằng tiếng Hàn). Football List. ngày 20 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  47. ^ "인천, '주장' 김도혁·'부주장' 문선민 체제" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 17 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  48. ^ "'홍정남 PK 선방' 전북, 인천과 0-0...3G 연속 무패" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 18 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  49. ^ "K리그 데뷔전 맹활약 문선민 "한국에서 인정받고 싶었다"" (bằng tiếng Hàn). Sports Seoul. ngày 18 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "MOM에도 만족 못하는 문선민, "수비-슈팅 아쉽다"" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 18 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "K리그 첫 발 내딘 문선민, "10점 만점에 6.5~7점"" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 18 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  50. ^ "[인터뷰] 인천utd 문선민 "날 놓은 K리그가 원망스럽냐고요?"" (bằng tiếng Hàn). News Joins. ngày 4 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  51. ^ "'수원전 2골' 문선민, 클래식 4R 라운드 MVP 선정" (bằng tiếng Hàn). News Joins. ngày 6 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  52. ^ "'경인 더비' 앞둔 황선홍 "인천 기 살려주면 어려워"" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 20 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.<vr>"이재성 시즌 첫 골 전북, 인천과 무승부 '2위 유지'" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 21 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "안 되던 많은 것들을 되게 했던 '조커' 문선민" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  53. ^ "이기형 감독, "0-3 패배, 의욕이 너무 앞섰다"" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 12 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "단숨에 경기 흐름을 바꾼 '슈퍼 서브' 송시우" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 16 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  54. ^ "문선민이 매일 데뷔 경기를 다시 보는 이유는?" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 19 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.|
    "'녹색 날개' 한교원, 232일 만 전북 복귀전서 합격점" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 2 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'하창래 극적 동점골' 인천, 수원과 무승부" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 23 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  55. ^ "강등 싸움 첫 경험한 인천 문선민, "확신 있었다"" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 18 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'특급 조커' 송시우, 경인더비 복수를 완성하다" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 17 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "인천 잔류 이끈 문선민…'신데렐라에서 에이스로'" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 18 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'상승세' 인천, 전남마저 잡고 '순위 판' 흔들까" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 20 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  56. ^ "9명으로 싸운 인천, 전남과 무… 생존왕 증명" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 5 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'문선민 1골 1도움' 인천, 상주 꺾고 클래식 잔류 확정" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 18 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  57. ^ "문선민, "팬들의 기대치에 걸맞은 플레이 선보이겠다"" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  58. ^ "'문선민 멀티골' 인천, 홈에서 전북 격침" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 10 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  59. ^ "전북전 멀티골 문선민, K리그1 2라운드 MVP" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 14 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "[김현회] '문..직' 문선민은 역시 '약간 떡관종이야'" (bằng tiếng Hàn). Sports-G. ngày 15 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  60. ^ "[스한 리뷰] 인천의 기세는 꺾였고, 대구는 또 못 넣었다" (bằng tiếng Hàn). Sports Hankooki. ngày 17 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "[스한 리뷰] 3분을 버티지 못한 FC서울, '모든 것'을 잃었다" (bằng tiếng Hàn). Sports Hankooki. ngày 1 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "인천 문선민 "무고사-아길라르와 함께라면"" (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. ngày 25 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "[스한 리뷰] 인천에겐 짜릿했고, 울산에겐 절망적이었던 '그 골'" (bằng tiếng Hàn). Sports Hankooki. ngày 20 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  61. ^ "찌아구 살아난 제주, 인천에 승… 2연승으로 단숨에 4위" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 14 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'박형진 극적 결승골' 수원, 인천에 3-2 짜릿 역전승...7경기 무패" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 22 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "문선민이 2골을 넣어도 역전 당하는 최악의수비" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 29 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  62. ^ "'김신욱 천금 동점골' 전북, '문선민 2골' 인천과 3-3 무승부" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 7 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  63. ^ "'2골' 문선민, "월드컵서 배운 것이 큰 도움"... 햄스트링 부상" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 7 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  64. ^ "돌파·연계에 게임 메이킹까지… 외로이 혼자 싸운 문선민" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  65. ^ "결승골 문선민, 월드컵 기운 받아 승승장구 다짐" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 22 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  66. ^ "월드컵에서 부쩍 자란 문선민, 인천도 덩달아 웃는다" (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. ngày 23 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'UFO 골' 문선민, "인천의 K리그1 잔류가 가장 큰 목표"" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 20 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "상주전 앞둔 인천, '생존 시동' 걸어야 할 때다" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 3 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  67. ^ "부담과 견제 속에서 '다시 나타난 영웅' 문선민" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 22 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  68. ^ "'2골 1도움' 인천 문선민, K리그1 25라운드 MVP 선정" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 23 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  69. ^ "'외나무 다리 대결' 인천-서울, 1-1 무승부...모두 웃지 못했다" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 26 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'문선민-무고사 골' 인천, 대구 2-1 꺾고 5G만의 승리... 탈 꼴찌" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 6 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'쐐기포' 문선민, "마지막 경기서 골을 넣고 잔류해 더 기쁘다"" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'황금골' 문선민, 인천 잔류 일등공신이었다" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  70. ^ "전북, 인천과 1대1 트레이드…문선민 받고 이재성 보내" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 15 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  71. ^ Hee Sun, Kim (ngày 15 tháng 1 năm 2019). "[오피셜] 전북, 문선민 영입… 이재성은 인천行([Official] Jeonbuk Hyundai Motors, to recruit Moon Sun-min... Lee Jae-sung to Incheon.)". Ilgan Sports.
  72. ^ "센터백 필요했던 인천, 문선민 전북行으로 급선회" (bằng tiếng Hàn). Goal.com. ngày 15 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  73. ^ "[현장 생생인터뷰]이적생 문선민 "동국형 관제탑 발언, 전혀 그런 의도아니었다"" (bằng tiếng Hàn). The Chosun Ilbo. ngày 19 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  74. ^ "문선민, 벤투 돌리려 이적했는데 '8골 8도움'도 모자랐나" (bằng tiếng Hàn). Sports Hankooki. ngày 26 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  75. ^ "'임선영 만회골' 전북, 대구와 1-1 무승부... 개막전 무패행진 질주" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 1 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  76. ^ "문선민 '골'과 '관제탑', 만원 원정팬에 최고의 선물" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 9 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  77. ^ "K리그의 ACL 무패 끝…'1강' 전북이 졌다 [챔피언스리그]" (bằng tiếng Hàn). MK Sports. ngày 13 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  78. ^ "'서울전 쾌승' 전북 모라이스 감독, "멋진 경기, 냉철하지 못한 건 아쉬워"" (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. ngày 28 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "전북현대, 우라와 레즈와 리턴매치 '역대 전적 균형 깬다'" (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. ngày 22 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "축구팬 79% "K리그 선두 전북, 최하위 인천에 승리"" (bằng tiếng Hàn). Sports MK. ngày 13 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  79. ^ "문선민 '친정에 비수' 전북, 인천에 2-0 승리" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  80. ^ "'문선민 멀티골' 전북, 강원에 3-2 재역전승... 선두 등극 [Oh!쎈 ON]" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 29 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  81. ^ "'선두 탈환 주역' 문선민, K리그1 14라운드 MVP 선정" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  82. ^ "'이동국 200호골' 전북, 상주 제압하고 4연승 질주" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 2 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  83. ^ "'ACL 16강' 전북, 상하이 원정서 1-1 무승부" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 19 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  84. ^ "울산 황일수-전북 문선민, AFC챔스 이주의 골 후보" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 20 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "문선민·김인성, ACL 16강 TOP5 플레이어 선정" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 23 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  85. ^ "해도 해도 너무한 상하이, 결국 폭발한 문선민" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  86. ^ "'퇴장' 문선민, "원래 심판에 항의 잘 안 하는데... 죄송합니다"" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  87. ^ "'문선민 해트트릭' 전북, 인천 잡고 단독 선두 탈환(종합)" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 10 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  88. ^ "'스피드 폭발' 문선민, 상승세 '병수볼'에 찬물 세례" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 4 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'K리그 최고' 인정받는 문선민-김보경, 벤투호 부름 받을까" (bằng tiếng Hàn). Sports Hankooki. ngày 17 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'극적 어시스트' 문선민, 전천후 활약으로 크랙 면모 과시" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 24 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'최강 날개' 로페즈-문선민 앞세운 전북, 서울 다시 울릴까" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 1 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  89. ^ "'이승기-문선민 연속골' 전북, 수원 2-0 꺾고 다득점 앞선 선두유지" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 26 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  90. ^ "'8년만의 국내 10-10클럽' 문선민, "딸 때문에 변하게 됐다" [오!쎈 인터뷰]" (bằng tiếng Hàn). MSN. ngày 21 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "10-10 클럽 가입, 포항 수비 파괴한 문선민" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 20 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  91. ^ "전북 문선민, K리그1 10월 '이 달의 선수상' 수상" (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. ngày 21 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'팀의 목표를 향해!' 10월 이 달의 선수는 누구?" (bằng tiếng Hàn). Goal.com. ngày 8 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  92. ^ "[인터뷰] 문선민 "대표팀 소집, 그리고 입대? 생애 첫 우승이 먼저죠"" (bằng tiếng Hàn). Football List. ngày 29 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "문선민, "'전주성의 기적', '카잔의 기적' 만큼 기뻐"" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 1 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  93. ^ "수원 타가트, 2019시즌 K리그1 득점왕…도움왕은 문선민" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 1 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "2019 K리그1 득점왕은 수원 타가트… 도움왕은 문선민(종합)" (bằng tiếng Hàn). Sports Hankooki. ngày 1 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "2019 K리그 김보경&문선민 등 베스트 11 공개...조현우 GK 3연패" (bằng tiếng Nhật). Osen. ngày 2 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  94. ^ "[K리그 결산] 전북, '신의 한 수' 된 문선민 영입과 리그 3연패" (bằng tiếng Hàn). Sports G. ngày 18 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  95. ^ "상무, 축구 문선민·야구 송성문 등 2020시즌 합격자 발표" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 3 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  96. ^ (bằng tiếng Hàn). Sports Naver. ngày 16 tháng 3 năm 2009 https://sports.news.naver.com/news.nhn?oid=001&aid=0002555591. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020. {{Chú thích báo}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |U-17 title= (trợ giúp)
    "U-17 축구대표, UAE 초청 4개국대회 참가" (bằng tiếng Hàn). Sports Naver. ngày 6 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  97. ^ "U-17 축구대표, UAE 초청대회 우승" (bằng tiếng Hàn). Sports Naver. ngày 13 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  98. ^ "U-17 대표팀, 2승 1무로 UAE 4개국대회 우승" (bằng tiếng Hàn). Sports Naver. ngày 13 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "[주말인터뷰] 문선민 "숨 가쁘게 달린 2018년, 아름다운 시즌 마무리 위해"" (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. ngày 8 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  99. ^ "신태용호, 손흥민-황희찬 승선…이승우 '깜짝 발탁'" (bằng tiếng Hàn). Jeju News. ngày 18 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  100. ^ "'대표팀 깜짝 발탁' 인천 문선민 "내 장점인 투지 있는 플레이 보여줄 것"" (bằng tiếng Hàn). MK Sports. ngày 14 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'신태용호 깜짝 발탁' 문선민, 아찔한 장면 후 교체" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 20 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  101. ^ "'손흥민-문선민 연속골' 한국, 온두라스에 2–0 완승" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 28 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  102. ^ "[한국-보스니아] 신태용호, '비슈카 해트트릭' 보스니아에 1–3 패" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "신태용호, 볼리비아와 소득 없이 무승부" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 7 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  103. ^ "신태용호, 러시아월드컵 등번호 확정…이승우 '10번'" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 4 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  104. ^ "[레오강 LIVE] 황희찬·문선민, 부상으로 세네갈전 결장" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 11 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "[한국-스웨덴] 신태용의 트릭 4–3–3, 공격 전개는 없었다" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "한국, 멕시코에 1-2 패 사실상 16강 탈락'… 손흥민 첫 골" (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. ngày 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  105. ^ "[한국-멕시코] 장현수 5.7점 최악 평점... 분전 손흥민 8.1점" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  106. ^ "[WC 독일전] 한국 2–0 승, '챔프' 독일을 집으로 보냈다!" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "[한국-독일] '김영권-손흥민 골' 한국, 세계 1위 독일 2–0 제압...1승 2패로 탈락" (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  107. ^ "[WC 독일전] 발바닥에 땀 내서 독일을 식은땀나게 한 문선민" (bằng tiếng Hàn). Best Eleven. ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  108. ^ "벤투호 출범, 손흥민·황의조 호출…김문환·황인범 첫 발탁" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  109. ^ "벤투호, 데뷔전서 코스타리카에 2–0 완승…이재성-남태희 연속골" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 7 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  110. ^ "[한국 우즈베키스탄] 한국, 문선민 추가골로 3–0 리드" (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. ngày 20 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  111. ^ "손흥민·황의조 발탁, 아시안컵 명단 확정…박주호, 문선민 탈락" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 20 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  112. ^ "줄곧 6번 썼던 황인범, 동아시안컵 등번호 '16번'으로 교체" (bằng tiếng Hàn). MK Sports. ngày 10 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  113. ^ "'황인범 프리킥골' 한국, 홍콩에 1–0 앞서며 전반전 마쳐[MBN 축구중계]" (bằng tiếng Hàn). Sports Hankooki. ngày 11 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "[동아시안컵] 한국, 중국에 1–0 승… 답답한 골 결정력 부족" (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. ngày 15 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "한국 축구, 일본 꺾고 E-1 챔피언십 '3회 연속 우승'" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 18 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  114. ^ "인천 찾은 슈틸리케…'뉴페이스' 물색하나" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 15 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "'월미도 아자르' 문선민, 생애 두번째 멀티골로 전북 격침" (bằng tiếng Hàn). Joy News 24. ngày 12 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  115. ^ "'깜짝 발탁' 인천 문선민, "투지 있는 플레이 보여줄 것"" (bằng tiếng Hàn). My Daily. ngày 14 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  116. ^ "[인터뷰] 'K리그 신인' 문선민, 부주장 된 사연" (bằng tiếng Hàn). Football List. ngày 20 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
    "Moon: – Jag firade med stekt ris" (bằng tiếng Thụy Điển). Östersunds-Posten. ngày 15 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  117. ^ "[인터뷰] 문선민 "꿈같은 독일전…이제 뱃속아기 만나러 갑니다"" (bằng tiếng Hàn). No Cut News. ngày 7 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  118. ^ "전북 격침시킨 문선민 "아빠 되니 책임감이 늘었다"" (bằng tiếng Hàn). News Joins. ngày 10 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
  119. ^ "Moon, Seon-Min". National Football Teams. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
  120. ^ "K LEAGUE STATS", K LEAGUE, K League 1, truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025

Liên kết ngoài