Bước tới nội dung

Simone Perrotta

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Simone Perrotta
Perrotta năm 2007
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Simone Perrotta[1]
Ngày sinh 17 tháng 9, 1977 (48 tuổi)
Nơi sinh Ashton-under-Lyne, Anh
Chiều cao 1,78 m
Vị trí Tiền vệ
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1995–1998 Reggina 77 (1)
1998–1999 Juventus 5 (0)
1999–2001 Bari 56 (1)
2001–2004 Chievo 95 (6)
2004–2013 Roma (36)
Tổng cộng 478 (44)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
1998–2000 U-21 Ý 6 (1)
2002–2009 Ý 48 (2)
Thành tích huy chương
Bóng đá nam
Đại diện cho  Ý
Giải vô địch bóng đá thế giới
Vô địch Đức 2006
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Simone Perrotta Ufficiale OMRI[2][3] (phát âm tiếng Ý: [siˈmoːne perˈrɔtta]; sinh ngày 17 tháng 9 năm 1977) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng thi đấu ở vị trí tiền vệ. Sinh tại Anh, ông đại diện cho đội tuyển quốc gia Ý. Trong suốt sự nghiệp, ông nổi bật nhờ cường độ hoạt động, năng lượng và lối chơi con thoi với vai trò đoạt bóng ở khu vực giữa sân. Sau khi ban đầu thi đấu cho các đội bóng Ý Reggina, Juventus, BariChievo, Perrotta dành phần lớn sự nghiệp cho câu lạc bộ Serie A Roma cho đến khi giải nghệ vào ngày 29 tháng 6 năm 2013; ông giành hai danh hiệu Coppa Italia liên tiếp cùng câu lạc bộ vào các năm 2007 và 2008, cũng như Siêu cúp bóng đá Ý.

Ông thi đấu cho Ý 48 lần từ năm 2002 đến năm 2009, và là thành viên đội tuyển vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới 2006. Perrotta cũng đại diện cho Ý tại hai kỳ Giải vô địch bóng đá châu Âu.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Sự nghiệp ban đầu: Reggina và Juventus

Perrotta sinh tại Ashton-under-Lyne, Anh, trong cùng bệnh viện với Geoff Hurst, nhà vô địch World Cup 1966 của đội tuyển Anh.[4] Ông trưởng thành trong hệ thống trẻ của Reggina và ra mắt tại Serie B vào năm 1995, trở thành một nhân tố quan trọng trong đội hình. Năm 1998, Juventus quyết định ký hợp đồng với ông; tuy nhiên, do đội bóng khi đó có nhiều tiền vệ giàu kinh nghiệm và đẳng cấp thế giới xếp trên ông, như Antonio Conte, Didier Deschamps, Edgar Davids, Alessio TacchinardiZinedine Zidane, ông gặp khó khăn trong việc giành thời gian thi đấu, chỉ có năm lần ra sân tại giải quốc nội cho câu lạc bộ thành Torino và tổng cộng 15 trận trên mọi đấu trường. Dù không có nhiều cơ hội tại câu lạc bộ, ông vẫn ghi được một bàn tại Coppa Italia, có trận ra mắt Champions League và góp mặt tại UEFA Intertoto Cup, giải đấu mà Juventus sau đó giành chức vô địch, trước khi được cho Bari mượn.[5][6]

Bari

Năm 1999, Perrotta được chuyển đến Bari theo một thỏa thuận đồng sở hữu trị giá 3 tỉ lira Ý, tương đương 1.549.371 euro,[7] như một phần trong thương vụ Gianluca Zambrotta, và thi đấu tại đây trong hai mùa giải, dần chen chân vào đội một.[5][6] Tháng 6 năm 2001, Bari mua đứt ông với giá khoảng 300.000 euro, khiến Juventus ghi nhận chi phí tài chính 1,25 triệu euro do phần giảm giá.[8]

Chievo

Đầu mùa giải Serie A, sau khi Bari xuống hạng khỏi Serie A, ông chuyển đến Chievo, nơi ông ở lại trong ba mùa giải và tạo dựng danh tiếng là một trong những tiền vệ hay nhất nước Ý. Cùng với Eugenio Corini, ông là trụ cột ở hàng tiền vệ của đội Chievo mới thăng hạng gây bất ngờ, dẫn đầu bảng ở kỳ nghỉ đông và kết thúc mùa giải ở vị trí thứ năm dưới thời huấn luyện viên Luigi Delneri, qua đó giành quyền tham dự Cúp UEFA.[5][6] Ông thậm chí còn kiến tạo bàn thắng quyết định trong chiến thắng nổi tiếng của Chievo trước Internazionale ở mùa giải đó. Dù duy trì phong độ ổn định, hai mùa giải tiếp theo của ông tại câu lạc bộ kém thành công hơn do sự ra đi của một số cầu thủ chủ chốt, khi Chievo đứng thứ bảy tại Serie A trong mùa giải 2002–03 và thứ chín trong mùa giải 2003–04.[5][6]

Roma

Năm 2004, Roma ký hợp đồng với ông từ câu lạc bộ vùng Veneto với giá 7,2 triệu euro, trả trong bốn đợt.[9] Thỏa thuận sau đó được điều chỉnh thành ba đợt; tân binh Roma Matteo Brighi, được định giá 16 triệu euro, được cho Chievo mượn trong mùa giải như một phần của thương vụ.[10] Giá sau đó được giảm xuống còn 7,05 triệu euro.[11] Mùa giải đầu tiên của ông tại câu lạc bộ chứng kiến ông thi đấu trong vai trò hỗ trợ như một tiền vệ phòng ngự, phía sau bộ ba tấn công gồm Francesco Totti, Antonio CassanoVincenzo Montella; tuy nhiên, mùa giải này nhìn chung không thành công, khi Roma trải qua nhiều lần thay đổi huấn luyện viên, bị loại từ vòng Một UEFA Champions League, đứng thứ tám tại Serie A và thua Inter trong Chung kết Coppa Italia 2005.[5][6]

Mùa giải tiếp theo chứng kiến Luciano Spalletti đến làm huấn luyện viên trưởng mới của Roma. Trong sơ đồ 4–2–3–1 của Spalletti, Perrotta thi đấu ở vị trí cao hơn, phía sau tiền đạo cắm và nằm giữa hai cầu thủ chạy cánh trái, phải với vai trò tiền vệ tấn công trung tâm. Ở vị trí này, ông tìm lại phong độ và trở thành một thành viên chủ chốt của hàng tiền vệ Roma, khi đội bóng vào Chung kết Coppa Italia 2006. Nhờ các màn trình diễn tốt cho câu lạc bộ thủ đô, ông được triệu tập vào đội hình Ý của Marcello Lippi tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2006, nơi ông đá chính cả bảy trận cho đội sau đó vô địch. Năm 2006, ông cũng ký gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ thủ đô, giữ ông ở lại Roma đến năm 2010.[5][6][12]

Perrotta tiếp tục thi đấu nổi bật trong vai trò cao hơn này dưới thời Spalletti và ghi 13 bàn trên mọi đấu trường trong mùa giải 2006–07, khi ông giành Coppa Italia trong năm 2007 và kết thúc với tư cách vua phá lưới của giải đấu; mùa giải tiếp theo, ông giúp Roma bảo vệ danh hiệu, đồng thời giành Siêu cúp bóng đá Ý, trận đấu mà ông bị truất quyền thi đấu.[5][6]

Perrotta ký gia hạn hợp đồng thêm một năm với Roma vào tháng 10 năm 2009, kéo dài thời gian ở lại câu lạc bộ đến năm 2011.[13][14] Tháng 3 năm 2011, ông ký một hợp đồng khác, với mức lương cơ bản giảm xuống còn 2,5 triệu euro mỗi mùa.[15]

Trong mùa giải 2011–12, Perrotta thường được sử dụng như một tiền vệ trung tâm bên cạnh Daniele De RossiMiralem Pjanić.[5][6] Ngày 20 tháng 2 năm 2012, Perrotta ký gia hạn hợp đồng thêm một năm với Roma, giữ ông ở lại câu lạc bộ đến năm 2013. Mức lương cố định trước thuế của Perrotta trong mùa giải hiện tại được tăng lên 2,6 triệu euro cộng thưởng theo thành tích.[16][17] Ông thi đấu 20 trận trong mùa giải 2011–12 nhưng không ghi bàn.

Sau gần hai năm không ghi bàn, ông lập công trước Siena vào ngày 2 tháng 12 năm 2012, giúp Roma dẫn 2–1 trên sân khách. Roma cuối cùng thắng 3–1, với một cú đúp của Mattia Destro. Ông ghi bàn trở lại vào ngày 3 tháng 3 năm 2013, cũng trong chiến thắng 3–1, trước Genoa tại Sân vận động Olimpico. Ông vào sân thay tiền đạo Dani Osvaldo ở phút 81 và tám phút sau, ở phút 89, ghi bàn ấn định trận đấu. Sau khi Aurelio Andreazzoli được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền, ông được thi đấu nhiều hơn đáng kể so với dưới thời huấn luyện viên người Séc Zdeněk Zeman. Ông kết thúc mùa giải với 16 lần ra sân tại giải quốc nội, trong đó chỉ có bốn trận đá chính, và ghi hai bàn; dưới thời huấn luyện viên Aurelio Andreazzoli, ông ngồi dự bị trong thất bại 1–0 của Roma trước đối thủ cùng thành phố LazioChung kết Coppa Italia 2013. Ngày 29 tháng 6 năm 2013, Perrotta tuyên bố giải nghệ khỏi bóng đá chuyên nghiệp.[18]

Sự nghiệp quốc tế

Perrotta đủ điều kiện thi đấu cho cả Ý và Anh – trường hợp sau là do ông sinh ra tại quốc gia này; ngoài việc là người Ý, ông tự động là công dân Anh vì Vương quốc Anh cấp quyền công dân theo nơi sinh vô điều kiện cho đến năm 1983. Perrotta ra mắt đội tuyển U-21 Ý dưới thời Marco Tardelli, có sáu lần ra sân và ghi một bàn.[5] Ông giành Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu, góp mặt trong chiến thắng 2–1 của Ý trước Cộng hòa Séc ở trận chung kết năm 2000,[5] nhưng sau đó bị loại khỏi đội hình tham dự Thế vận hội Mùa hè 2000 vì chấn thương.[19] Ông ra mắt đội tuyển quốc gia dưới thời Giovanni Trapattoni vào ngày 20 tháng 11 năm 2002, trong trận hòa 1–1 trước Thổ Nhĩ Kỳ.[5] Sau đó, ông thi đấu cho Ý tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2004,[5] ghi bàn trong chiến thắng 2–1 trước Bulgaria, dù đội tuyển Ý bị loại ở vòng Một của giải đấu theo thành tích đối đầu trực tiếp sau khi cùng có năm điểm với Đan MạchThụy Điển.[20]

Perrotta cũng đại diện cho đội tuyển Ý tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 dưới thời huấn luyện viên Marcello Lippi,[21] đá chính trong cả bảy trận của Azzurri,[22] bao gồm cả trận chung kết,[23] trên đường đến chức vô địch thế giới lần thứ tư,[5][24] đồng thời kiến tạo bàn thắng của Filippo Inzaghi trong chiến thắng 2–0 trước Cộng hòa Séc ở trận cuối vòng bảng của Ý vào ngày 22 tháng 6.[25][26] Khác với tại Roma, Perrotta thường được sử dụng như một tiền vệ cánh trái trong đội tuyển Ý dưới thời Lippi, hoặc như một tiền vệ phòng ngự dâng cao, như tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006.[27]

Dưới thời huấn luyện viên mới Roberto Donadoni, Perrotta ghi bàn thắng thứ hai cho Ý trong chiến thắng 3–1 trên sân khách trước Gruzia ở một trận vòng loại Euro 2008 vào ngày 11 tháng 10 năm 2006.[28] Ông có lần đầu tiên mang băng đội trưởng đội tuyển Ý vào ngày 21 tháng 11 năm 2007, trong hiệp hai của chiến thắng 3–1 trên sân nhà trước Quần đảo Faroe ở một trận vòng loại châu Âu.[5] Ông tiếp tục tham dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008, thường thi đấu như một tiền vệ tấn công,[5] nơi Ý thua đội sau đó vô địch là Tây Ban Nha trên chấm luân lưu ở tứ kết.[29]

Năm 2009, sau khi bị Marcello Lippi gạch khỏi đội hình tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2010,[30] ông giã từ sự nghiệp quốc tế; lần ra sân cuối cùng của ông cho Ý diễn ra vào ngày 10 tháng 2 năm 2009, trong trận giao hữu thua 2–0 trước Brasil tại Sân vận động Emirates.[31] Tổng cộng, ông có 48 lần ra sân cho Ý và ghi hai bàn.[32]

Phong cách thi đấu

Là một cầu thủ hai chiều nhanh nhẹn, mạnh mẽ về thể chất, giàu năng lượng, quyết liệt và chăm chỉ, Perrotta được biết đến nhờ tốc độ, sự đa năng và tính ổn định, cũng như sức bền, lối chơi con thoi và phong cách di chuyển không ngừng. Bộ kỹ năng rộng cho phép ông thi đấu ở bất kỳ vị trí nào tại hàng tiền vệ. Ông thường được sử dụng ở trung tâm, và nhiều khi trong vai trò trụ phía trước hàng phòng ngự, nơi ông giỏi gây áp lực lên đối thủ, phá vỡ lối chơi, rồi phân phối bóng cho đồng đội sau khi giành lại quyền kiểm soát, hoặc phối hợp với các cầu thủ khác bằng những đường chuyền để giúp khởi phát tấn công. Tuy nhiên, trong suốt sự nghiệp, ông cũng được bố trí ở các vai trò khác; chẳng hạn, ông từng được sử dụng trong vai trò tiền vệ trung tâm thiên tấn công hơn, được gọi là mezzala trong thuật ngữ bóng đá Ý, nhờ khả năng di chuyển của mình.[5][6][33][34][35][36][37][38] Với đội tuyển quốc gia Ý, dưới thời huấn luyện viên Marcello Lippi, ông được sử dụng dạt biên như một tiền vệ cánh thiên phòng ngự trong sơ đồ 4–4–1–1 tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006, nhờ cường độ hoạt động và khả năng tạt bóng; sau đó, ông cũng được huấn luyện viên Roma Claudio Ranieri sử dụng trong vai trò tương tự.[27][39][40][41] Dưới thời huấn luyện viên Roma Luciano Spalletti, ông thậm chí được bố trí ở vai trò cao hơn trong mùa giải 2006–07, như một tiền vệ tấn công ảo phía sau tiền đạo duy nhất của đội là Francesco Totti trong sơ đồ 4–2–3–1, trong đó Totti đóng vai trò số 9 ảo; sự thay đổi vị trí này tỏ ra hiệu quả nhờ khả năng di chuyển không bóng, nhạy bén ghi bàn từ hàng tiền vệ và khả năng xâm nhập muộn vào khu vực cấm địa của Perrotta, dù ông không phải là cầu thủ có kỹ thuật thiên bẩm nhất ở vị trí của mình.[42][43][44][45]

Đời tư

Perrotta có nguồn gốc Calabria và sinh tại Anh. Ông sống ở Anh đến năm năm tuổi, theo học tại Trường Tiểu học Công giáo St Ann cũ trên phố Burlington, thuộc khu bầu cử St Peter'sAshton-under-Lyne. Cha mẹ ông, Francesco và Anna Maria, điều hành một quán rượu tại Ashton và sống trên phố Fitzroy, cũng như một thời gian ngắn tại Chiltern Chapel, trước khi chuyển trở lại Ý vào năm 1982, về quê nhà Cerisano, gần Cosenza.[5] Ông đã kết hôn và có một con trai tên Peter.

Ngày 22 tháng 12 năm 2010, một bức tượng của Perrotta được khánh thành tại Ashton-under-Lyne, gần sân Tameside của Curzon Ashton F.C. trong Làng thể thao Roy Oldham, phố Richmond. Tác phẩm điêu khắc ba người của Andrew Edwards và Sculpture For Sport tưởng niệm ba người đàn ông đến từ khu Tameside từng giành huy chương vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới: Geoff Hurst, Jimmy Armfield và Perrotta.[46] Ông nói được tiếng Anh và tiếng Ý.

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp Châu lục Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Reggina 1995–96 Serie B 22 0 22 0
1996–97 29 0 29 0
1997–98 26 1 26 1
Juventus 1998–99 Serie A 7 0 6 1 1 0 14 1
1999–2000 0 0 0 0 1 0 1 0
Bari 1999–2000 Serie A 31 1 31 1
2000–01 25 0 0 0 25 0
Chievo 2001–02 Serie A 32 4 3 1 35 5
2002–03 32 1 0 0 2 0 34 1
2003–04 31 1 0 0 31 1
Roma 2004–05 Serie A 30 3 5 0 4 0 39 3
2005–06 35 5 5 2 7 1 47 8
2006–07 34 8 7 4 9 1 50 13
2007–08 29 5 6 1 6 1 41 7
2008–09 25 5 2 0 6 0 33 5
2009–10 32 5 3 0 5 1 40 5
2010–11 26 3 3 0 6 1 34 4
2011–12 19 0 2 0 2 1 23 1
2012–13 16 2 1 0 0 0 17 2
Tổng cộng 246 36 33 7 44 6 326 49
Tổng cộng sự nghiệp 479 44 43 9 48 6 573 59

Quốc tế

Đội tuyển quốc gia Ý[47]
Năm Số trận Bàn thắng
2002 1 0
2003 11 0
2004 9 1
2005 0 0
2006 12 1
2007 5 0
2008 8 0
2009 2 0
Tổng cộng 48 2
Tỉ số và kết quả liệt kê số bàn thắng của Italy trước.[47]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải đấu
1 22 tháng 6 năm 2004 Sân vận động D. Afonso Henriques, Guimarães, Bồ Đào Nha  Bulgaria 1–1 2–1 Giải vô địch bóng đá châu Âu 2004
2 11 tháng 10 năm 2006 Sân vận động Boris Paichadze, Tbilisi, Gruzia  Gruzia 3–1 3–1 Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008

Danh hiệu

Câu lạc bộ

Roma[48]

Quốc tế

Ý[48]

Cá nhân

Huân chương

  • CONI: Vòng cổ vàng Công trạng Thể thao: 2006[50]

Tham khảo

  1. ^ "2006 FIFA World Cup Germany: List of Players: Italy" (PDF). FIFA. ngày 21 tháng 3 năm 2014. tr. 15. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2019.
  2. ^ FIFA.com[liên kết hỏng]
  3. ^ AscotSportal.com Lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007 tại Wayback Machine
  4. ^ "Two World Cup stars, two nations, one birthplace: Ashton-under-Lyne". Independent.co.uk. tháng 4 năm 2009.
  5. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q Bản mẫu:Chú thích web 1999
  6. ^ a b c d e f g h i Stefano Bedeschi (ngày 17 tháng 9 năm 2013). "Gli eroi in bianconero: Simone PERROTTA" (bằng tiếng Ý). Tutto Juve. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016.
  7. ^ "Relazioni e Bilancio al 30 Giugno 2000". Juventus FC (bằng tiếng Ý). Borsa Italiana Archive. ngày 19 tháng 12 năm 2000. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015. page 42, IMMOBILIZZAZIONI FINANZIARIE Compartecipazioni ex art. 102 bis N.O.I.F.
  8. ^ "Reports and Financial Statements at 30 tháng 6 năm 2002" (PDF). Juventus FC. ngày 28 tháng 10 năm 2002. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012.
  9. ^ "ACQUISTO DEL DIRITTO ALLE PRESTAZIONI SPORTIVE DI SIMONE PERROTTA" (PDF). AS Roma (bằng tiếng Ý). ngày 3 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2011.
  10. ^ "AS Roma Official Website" (PDF).
  11. ^ "AS Roma Official Website" (PDF).
  12. ^ "PROLUNGATO IL CONTRATTO SINO AL 30 GIUGNO 2010" (PDF). AS Roma (bằng tiếng Ý). ngày 11 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2011.
  13. ^ Bản mẫu:Chú thích web 2007
  14. ^ "Prolungamento contratto economico del calciatore Perrotta" (PDF) (bằng tiếng Ý). AS Roma. ngày 29 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2011.
  15. ^ "Prolungamento del contratto economico del calciatore Simone Perrotta" (PDF). AS Roma (bằng tiếng Ý). ngày 22 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011.
  16. ^ http://www.agi.it/english-version/sport/elenco-notizie/201202201944-spr-ren1078-football_roma_s_perrotta_extends_contract_by_one_season[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  17. ^ "AS Roma Official Website" (PDF).
  18. ^ "Perrotta announces retirement". Football Italia. ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016.
  19. ^ "Under 21, Morrone al posto di Perrotta". Corriere della Sera (bằng tiếng Ý). ngày 4 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  20. ^ "Cassano's last-gasp winner all for nought as Trapattoni pays price for early exit". The Guardian. ngày 23 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2015.
  21. ^ "Lippi ha fiducia, nonostante tutto Convocato Buffon: "E' sereno"" (bằng tiếng Ý). La Repubblica. ngày 15 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2017.
  22. ^ Antonio Sansonetti (ngày 6 tháng 6 năm 2014). "Home Sport Italia 2006: campioni del mondo. Grosso jolly, Cannavaro e Buffon muro: voto simpatia 7,5" (bằng tiếng Ý). BlitzQuotidiano.it. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016.
  23. ^ "Italy 1 – 1 France (5–3 pens)". The Guardian. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014.
  24. ^ Maurizio Crosetti (ngày 9 tháng 7 năm 2006). "L' Italia campione del mondo 2006 Repubblica lo racconto così". repubblica.it (bằng tiếng Ý). La Repubblica. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015.
  25. ^ Nicola Apicella (ngày 22 tháng 6 năm 2006). "Rep. Ceca-Italia 0-2". repubblica.it (bằng tiếng Ý). La Repubblica. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015.
  26. ^ "Czech Republic vs. Italy 0 - 2". Soccerway. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  27. ^ a b GIANNI MURA (ngày 28 tháng 6 năm 2006). "Obiettivo semifinale Italia, è la grande occasione adesso può soltanto crescere" (bằng tiếng Ý). La Repubblica. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016.
  28. ^ "Grazie ai gol del centrocampo l'Italia ritorna ai piani alti" (bằng tiếng Ý). La Repubblica. ngày 11 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  29. ^ "Spain 0 – 0 Italy". ESPNsoccernet. ESPN. ngày 22 tháng 6 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2010.
  30. ^ "Pronta la tạira Azzurra: Ecco la lista deil 23 per il mondiale" (bằng tiếng Ý). FIGC. ngày 1 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  31. ^ "Brasile-Italia 2-0" (bằng tiếng Ý). Italia1910. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  32. ^ "Perrotta, Simone" (bằng tiếng Ý). FIGC. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016.
  33. ^ "Simone Perrotta, l'eroe tutta corsa e cuore" (bằng tiếng Ý). Mai Dire Calcio. ngày 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015.
  34. ^ "Buon compleanno a Simone Perrotta, che compie 37 anni!" (bằng tiếng Ý). Vivo Azzurro. ngày 17 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016.
  35. ^ Matteo Pinci (ngày 18 tháng 10 năm 2008). "Roma: Perrotta, 5 gol all'Inter e una vita da mediano" (bằng tiếng Ý). www.tuttomercatoweb.com. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017.
  36. ^ Sebastiano Vernazza (ngày 15 tháng 4 năm 2019). "Chievo, ciao Serie A. La nostra Top Undici gialloblù" (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2019.
  37. ^ "Buon compleanno a Simone Perrotta!" (bằng tiếng Ý). Federazione Italiana Giuoco Calcio. ngày 17 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2024.
  38. ^ "Simone Perrotta: "Quanti ricordi a Roma con Totti e Spalletti"" (bằng tiếng Ý). www.guerinsportivo.it. ngày 30 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2024.
  39. ^ Peter Berlin (ngày 8 tháng 7 năm 2006). "France and Italy - Settled and Similar". The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2017.
  40. ^ "Gioco All'italiana: An Unbiased Explanation". Medium. ngày 4 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2020.
  41. ^ "Restaurazione Ranieri E' la rivincita dei mediani". la Repubblica (bằng tiếng Ý). ngày 17 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  42. ^ "Una conversazione sul calcio con Totti" (bằng tiếng Ý). AS Roma. ngày 7 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016.
  43. ^ Cerrato, Andrea (ngày 17 tháng 3 năm 2019). "Vecino trequartista "alla Perrotta": l'idea che premia Spalletti". Calcio News 24 (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  44. ^ "Perrotta e i dubbi sulla scelta di Spalletti: 'E Francesco?'". Sky Sport Italia (bằng tiếng Ý). ngày 13 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  45. ^ Lorenzoni, Gianluca (ngày 30 tháng 1 năm 2017). "La terra di mezzo di Simone Perrotta - Zona Cesarini" (bằng tiếng Ý). zonacesarini.net. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  46. ^ Wier, Katie. "Statue depicts a hat-trick of heroes". MEN Media. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012.
  47. ^ a b Simone Perrotta tại National-Football-Teams.com
  48. ^ a b "S. Perrotta". Soccerway. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2015.
  49. ^ Roberto Di Maggio; Davide Rota (ngày 4 tháng 6 năm 2015). "Italy - Coppa Italia Top Scorers". RSSSF. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
  50. ^ "Coni: Consegna dei Collari d'Oro e dei Diplomi d'Onore. Premia il Presidente del Consiglio Romano Prodi. Diretta Tv su Rai 2" (bằng tiếng Ý). Coni.it. ngày 16 tháng 10 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2016.
  51. ^ "ONORIFICENZE - 2006". quirinale.it (bằng tiếng Ý). ngày 12 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Vua phá lưới Coppa Italia