Giải bóng đá Ngoại hạng Singapore
Giải bóng đá Ngoại hạng Singapore (tiếng Anh: Singapore Premier League), thường được viết tắt là SPL, tên chính thức là AIA Singapore Premier League vì lý do tài trợ, là giải bóng đá chuyên nghiệp dành cho nam được quản lý bởi Hiệp hội bóng đá Singapore (FAS), đại diện cho cấp độ cao nhất trong hệ thống các giải bóng đá Singapore. Giải đấu được thành lập với tên gọi S. League vào ngày 14 tháng 4 năm 1996, sau khi FAS công bố ý định thúc đẩy và mở rộng cộng đồng bóng đá địa phương đang phát triển bằng cách tổ chức một giải đấu nội địa hàng đầu. Tính đến năm 2025, giải đấu bao gồm tám câu lạc bộ, thi đấu bốn lượt trong đó mỗi đội gặp các đội khác một lần. Mùa giải diễn ra từ cuối tháng 8 đến tháng 5, mỗi đội thi đấu 28 trận, tổng cộng 112 trận trong cả mùa giải. Các câu lạc bộ SPL thành công sẽ giành quyền tham dự các giải đấu cấp câu lạc bộ châu lục, bao gồm AFC Champions League Two. SPL hiện không áp dụng chế độ lên hạng và xuống hạng. Kể từ khi giải đấu ra đời năm 1996, đã có 7 câu lạc bộ lên ngôi vô địch. Warriors[a] là câu lạc bộ thành công nhất với 9 danh hiệu, tiếp theo là Albirex Niigata (S) (6), Tampines Rovers (5), Lion City Sailors (4),[b] Geylang International (2), DPMM (2) và Étoile (1). Nhà đương kim vô địch là Lion City Sailors, đội đã giành chức vô địch giải đấu lần thứ tư trong mùa giải 2024–25.
| Mùa giải hiện tại: | |
| Tập tin:Singapore Premier League 2018.png | |
| Cơ quan tổ chức | Hiệp hội bóng đá Singapore (FAS) |
|---|---|
| Thành lập | 14 tháng 4 năm 1996 (với tên gọi S. League) 31 tháng 3 năm 2018 (với tên gọi Singapore Premier League) |
| Quốc gia | Singapore (8 đội) |
| Liên đoàn | AFC |
| Số đội | 8 |
| Cấp độ trong hệ thống | 1 |
| Cúp quốc nội | Cúp bóng đá Singapore Siêu cúp bóng đá Singapore |
| Cúp quốc tế | AFC Champions League Two ASEAN Club Championship |
| Đội vô địch hiện tại | Lion City Sailors (lần thứ 4) |
| Đội vô địch nhiều nhất | Warriors FC (9 lần) |
| Thi đấu nhiều nhất | Daniel Bennett (518) |
| Vua phá lưới | Aleksandar Đurić (385) |
| Đối tác truyền hình | 1 Play Sports (live streaming) J Sports |
| Website | spl |
Lịch sử
Nguồn gốc
Singapore đã từng đại diện tham dự Cúp Malaysia thông qua đội Singapore Lions từ năm 1921. Lions là một trong những đội thành công nhất tại giải đấu này, đã giành chức vô địch 24 lần từ năm 1921 đến 1994. Sau một cuộc tranh chấp về doanh thu bán vé giữa FAS và FAM[1] sau khi giành cú đúp giải vô địch quốc gia và cúp quốc gia năm 1994, Lions đã rút lui khỏi các giải đấu của Malaysia. Sau đó, FAS quyết định xây dựng một hệ thống giải đấu chuyên nghiệp. Tuy nhiên, do ước tính mất khoảng một năm để thiết lập cấu trúc của một giải đấu chuyên nghiệp, đội Singapore Lions đã được thi đấu tập huấn tại giải đấu cấp cao nhất của bóng đá nội địa lúc bấy giờ, giải bán chuyên FAS Premier League. Đội bóng này đã giành chức vô địch FAS Premier League cuối cùng, kết thúc mùa giải với thành tích bất bại.
Kỷ nguyên S.League (1996–2017)
Mùa giải khai mạc
S.League được thành lập vào năm 1996. FAS đã mời các câu lạc bộ nộp đơn đăng ký tham gia giải đấu mới được thành lập. Có tám đơn đăng ký thành công. Hai câu lạc bộ từ Premier League – thế lực Geylang International (đổi tên thành Geylang United; 6 chức vô địch Premier League liên tiếp) và Balestier United (đổi tên thành Balestier Central) – đã gia nhập cùng sáu câu lạc bộ từ Giải bóng đá Quốc gia nghiệp dư (National Football League) – Police SA, Singapore Armed Forces (SAFFC), Tampines Rovers, Tiong Bahru United, Wellington (đổi tên thành Woodlands Wellington) và Sembawang Rangers (sáp nhập giữa Gibraltar Crescent và Sembawang SC) – cho mùa giải đầu tiên của S.League. Mùa giải được chia thành hai giai đoạn (series). Đội vô địch Tiger Beer Series là Geylang United đã đánh bại đội vô địch Pioneer Series là SAFFC với tỷ số 2–1 trong trận play-off tranh chức vô địch cuối mùa giải để trở thành nhà vô địch S.League đầu tiên.[2] Con số 30.000 khán giả tại trận play-off vẫn là kỷ lục về lượng khán giả trong lịch sử S.League.
Mở rộng giải đấu
Police FC đổi tên thành Home United vào mùa giải 1997 để phản ánh việc họ không chỉ đại diện cho Lực lượng Cảnh sát Singapore mà còn các đơn vị "Home Team" khác của Bộ Nội vụ Singapore như SCDF và ICA. Đội bóng từ giải NFL là Jurong Town, đổi tên thành Jurong FC, đã tham gia giải đấu, nâng số lượng câu lạc bộ tham dự lên 9. Giải đấu chuyển từ thể thức trước đó sang thi đấu vòng tròn. Singapore Armed Forces đã giành chức vô địch đầu tiên của họ. Gombak United và Marine Castle United gia nhập S.League vào năm 1998, tiếp tục nâng số lượng câu lạc bộ lên 11. Tiong Bahru United đổi tên thành Tanjong Pagar United khi bắt đầu mùa giải. Singapore Armed Forces giành chức vô địch thứ hai liên tiếp. Clementi Khalsa gia nhập S.League vào năm 1999 với tư cách là đại diện của cộng đồng người Sikh tại Singapore. Giải đấu duy trì 12 đội trong năm năm tiếp theo. Home United giành chức vô địch đầu tiên của họ.
Các câu lạc bộ khách mời
Trong những năm 2000, FAS quyết định mời các câu lạc bộ nước ngoài tham gia giải đấu để tăng tính cạnh tranh. Sinchi, một đội bóng gồm các cầu thủ Trung Quốc, đã trở thành câu lạc bộ nước ngoài đầu tiên tham gia vào năm 2003. Các công dân Trung Quốc Thi Giai Ý (Shi Jiayi) và Khâu Lễ (Qiu Li) sau đó đã trở thành các cầu thủ Singapore nhập tịch. Sporting Afrique, một câu lạc bộ bao gồm các cầu thủ châu Phi, và Super Reds, một đội gồm các cầu thủ Hàn Quốc, đã trở thành câu lạc bộ nước ngoài thứ ba và thứ tư tham gia giải đấu lần lượt vào năm 2006 và 2007. Sporting Afrique đã bị từ chối tham dự S.League 2007 do những tranh cãi bên lề sân cỏ và thành tích kém cỏi. Vào năm 2010, Super Reds đã bị từ chối một suất tham dự sau ba mùa giải sau những nỗ lực chuyển đổi thành một đội bóng gồm các cầu thủ địa phương. Các câu lạc bộ Giải bóng đá Ngoại hạng Trung Quốc là Liaoning (2007), Dalian Shide (2008) và Beijing Guoan (2010) đã đưa các đội vệ tinh của họ vào S.League. Cả ba câu lạc bộ đều chỉ tồn tại một mùa giải trước khi rút khỏi giải đấu do thành tích kém và các vấn đề kỷ luật. Câu lạc bộ Brunei DPMM gia nhập S.League vào năm 2009 trước khi bị loại khỏi giải do lệnh cấm của FIFA. Họ tái gia nhập giải đấu vào năm 2012. Họ là câu lạc bộ đầu tiên có trụ sở bên ngoài Singapore. Vào năm 2010, câu lạc bộ Pháp Étoile trở thành đội bóng nước ngoài đầu tiên vô địch S.League. Etoile rút khỏi S.League trước mùa giải 2012 để tập trung vào bóng đá phong trào và phát triển thanh thiếu niên. Vào năm 2012, các đội tuyển trẻ quốc gia Malaysia là Harimau Muda A và Harimau Muda B đã gia nhập S.League sau một thỏa thuận giữa Hiệp hội bóng đá Singapore và Hiệp hội bóng đá Malaysia (FAM) về việc cử các đội đại diện của họ tham gia vào các giải đấu nội địa của nhau. Đội bóng Singapore LionsXII đã trở lại các giải đấu của Malaysia vào năm 2012. Tương tự như Singapore FA trước đây, LionsXII nhanh chóng trở thành một thế lực thành công trong hệ thống giải đấu Malaysia trong thời gian ngắn ngủi, giành chức vô địch giải đấu vào năm 2013 cũng như Cúp FA vào năm 2015. Tuy nhiên, vào ngày 25 tháng 11 năm 2015, FAM quyết định không gia hạn Biên bản ghi nhớ (MoU) với FAS. Điều này tự động loại LionsXII khỏi việc tham gia bất kỳ giải đấu bóng đá nào nữa tại Malaysia. Tương tự, đội hình Harimau Muda của Malaysia cũng không tham gia Giải bóng đá Singapore kể từ đó.[3] Câu lạc bộ J.League Albirex Niigata đã đưa đội vệ tinh của họ là Albirex Niigata Singapore vào S.League 2004. Câu lạc bộ này trở thành đội bóng nước ngoài lâu đời nhất tại S.League, thu hút sự ủng hộ của cộng đồng người Nhật xa xứ và một số người hâm mộ địa phương. Tính đến năm 2023, họ là đội bóng nước ngoài có thời gian gắn bó lâu nhất với bóng đá Singapore.
Mùa giải thứ 20
Giải đấu đã thực hiện một số thay đổi cho mùa giải 2015 để tăng tính cạnh tranh.[4][5] Số lượng câu lạc bộ giảm từ 12 xuống 10, với sự rút lui của Tanjong Pagar United do vấn đề tài chính, và sự sáp nhập của Woodlands Wellington và Hougang United.[4][6] Giải đấu quay trở lại thể thức ba lượt đấu được sử dụng từ năm 2001 đến 2011.[4] Hạn ngạch cầu thủ nước ngoài vẫn giữ ở mức năm người mỗi câu lạc bộ, nhưng các ưu đãi được đưa ra cho những đội ký hợp đồng với cầu thủ dưới 21 tuổi.[6] Thời gian đạt chuẩn cho bài kiểm tra thể lực 2,4 km bắt buộc đã giảm từ 10 phút xuống 9 phút 45 giây.[4] Một quy định mới về giới hạn độ tuổi – tối đa năm cầu thủ từ 30 tuổi trở lên và tối thiểu ba cầu thủ dưới 25 tuổi cho các câu lạc bộ có đội hình 22 người, tối đa bốn cầu thủ từ 30 tuổi trở lên và tối thiểu hai cầu thủ dưới 25 tuổi cho các câu lạc bộ có đội hình 20 người – sau đó đã bị bãi bỏ.[6][7]
Tái thương hiệu thành Singapore Premier League (2018–nay)
Giải đấu được đổi tên thương hiệu thành Singapore Premier League vào ngày 21 tháng 3 năm 2018. Những cải tổ sâu rộng hơn cũng được thực hiện để chú trọng hơn vào các cầu thủ trẻ địa phương nhằm củng cố đội tuyển quốc gia; điều này, trên thực tế, đã dẫn đến việc một số ngôi sao kỳ cựu cũng như các ngôi sao địa phương và nước ngoài được các câu lạc bộ nước ngoài mua lại.[8] Các câu lạc bộ Singapore Premier League có thể ký hợp đồng với tối đa bốn cầu thủ nước ngoài trong mùa giải 2020, tăng so với ba cầu thủ ở mùa giải 2019.[9] Trong mùa giải 2022, tám đội đã thi đấu theo thể thức bốn lượt lần đầu tiên trong toàn bộ lịch sử giải đấu.[10] Để đáp ứng những thay đổi trong các giải đấu cấp câu lạc bộ của Liên đoàn bóng đá châu Á và những sửa đổi tiềm năng của Lịch thi đấu quốc tế FIFA, FAS đã thông báo rằng lịch thi đấu của giải sẽ trải qua quy trình chuyển đổi kéo dài hai năm.[11] Mùa giải 2024-25 được diễn ra từ ngày 10 tháng 5 năm 2024 đến ngày 25 tháng 5 năm 2025,[12] lần đầu tiên một mùa giải được lên lịch vắt qua hai năm. Mùa giải 2025-26 sau đó sẽ phù hợp với các giải đấu cấp câu lạc bộ của AFC, bắt đầu vào tháng 8 năm 2025 và kết thúc vào tháng 5 năm 2026, thiết lập mốc thời gian cho các mùa giải tiếp theo.[11] Động thái này rất quan trọng trong việc đồng bộ hóa các kỳ chuyển nhượng, cũng như cho phép sắp xếp lịch thi đấu dễ dàng hơn cho các giải đấu cấp câu lạc bộ khu vực hoặc quốc gia.[11]
Thể thức thi đấu
Giải đấu không có hệ thống lên hạng hoặc xuống hạng. Các câu lạc bộ tham gia Singapore Premier League theo lời mời của Hiệp hội bóng đá Singapore.
| Mùa giải | Số lượng CLB | Số trận mỗi CLB | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1996 | 8 | 14 × 2 giai đoạn | Một trận play-off tranh chức vô địch giữa các đội đứng đầu mỗi giai đoạn vào cuối mùa giải. |
| 1997 | 9 | 16 | |
| 1998 | 11 | 20 | |
| 1999–2000 | 12 | 22 | |
| 2001–2003 | 12 | 33 | Vào năm 2003, các trận đấu tiến hành sút luân lưu nếu kết quả hòa. Đội thắng loạt sút luân lưu được thưởng thêm một điểm ngoài điểm số của trận hòa. |
| 2004–2005 | 10 | 27 | |
| 2006 | 11 | 30 | |
| 2007–2011 | 12 | 33 | Kết quả của DPMM đã bị hủy bỏ vào cuối năm 2009 sau lệnh cấm của FIFA, chính thức để lại 11 đội chơi 30 trận mỗi đội. |
| 2012 | 13 | 24 | |
| 2013–2014 | 12 | 27 | Giải đấu được chia thành hai nửa sau vòng đấu thứ 22. Các đội ở mỗi nửa thi đấu với mọi đội khác trong nửa của mình một lần, thêm năm trận đấu nữa. Kết quả ở giai đoạn 2 được cộng vào giai đoạn 1 để tính xếp hạng chung cuộc. |
| 2015 | 10 | 27 | Giải đấu trở lại thể thức ba lượt. |
| 2016–2017 | 9 | 24 | |
| 2018–2019 | 9 | 24 | |
| 2020 | 8 | 14 | |
| 2021 | 8 | 21 | |
| 2022 | 8 | 28 | Giải đấu thi đấu theo thể thức bốn lượt lần đầu tiên trong lịch sử. |
| 2023 | 9 | 24 | Giải đấu trở lại thể thức ba lượt. |
| 2024–25 | 9 | 32 | Giải đấu trở lại thể thức bốn lượt. |
| 2025–26 | 8 | 21 | Giải đấu trở lại thể thức ba lượt. |
Các câu lạc bộ
Tổng cộng có 25 câu lạc bộ đã thi đấu tại giải kể từ khi thành lập năm 1996 đến hết mùa giải 2024–25. 8 câu lạc bộ sau đây đang tranh tài tại giải đấu trong mùa giải 2025–26.
| Câu lạc bộ | Thành lập | Trụ sở | Sân vận động | Sức chứa | Tên gọi trước đây |
|---|---|---|---|---|---|
| Albirex Niigata (S) | 2004 | Jurong East | Sân vận động Jurong East | 2.700 | |
| Balestier Khalsa | 1898 | Toa Payoh | Sân vận động Toa Payoh | 3.800 | hình thành từ việc sáp nhập Balestier Central và Clementi Khalsa vào năm 2002. |
| Geylang International | 1973 | Bedok | Sân vận động Bedok | 3.800 | được biết đến với tên Geylang United từ 1996 đến 2012. |
| Lion City Sailors | 1946 | Bishan | Sân vận động Bishan | 6.254 | được biết đến với tên Police FC trong mùa giải đầu tiên; trước đây là Home United từ 1997 đến 2020. |
| Hougang United | 1998 | Hougang | Sân vận động Hougang | 6.000 | được biết đến với tên Marine Castle United (1998–2001), Sengkang Marine (2002–2003), Sengkang Punggol (2006–2010; sáp nhập với Paya Lebar Punggol). |
| Tampines Rovers | 1945 | Tampines | Our Tampines Hub | 5.000 | |
| Tanjong Pagar United | 1974 | Queenstown | Sân vận động Queenstown | 3.800 | được biết đến với tên Tiong Bahru Constituency Sports Club (1974–1996), Tiong Bahru United (1996–1998). |
| Young Lions | 2002 | Kallang | Sân vận động Jalan Besar | 6.000 | Tên tài trợ; Courts Young Lions (2011–2015), Garena Young Lions (2016–2017). |
Balestier Khalsa, Geylang International và Tampines Rovers là những câu lạc bộ đã thi đấu trọn vẹn 28 mùa giải của Singapore Premier League tính đến năm 2024.
Cựu câu lạc bộ
| Đội bóng | Thành lập | Trụ sở | Sân vận động | Năm hoạt động |
|---|---|---|---|---|
| Gombak United | 1960 | Bukit Gombak | Sân vận động Bukit Gombak | 1998–2002
2006–2012 |
| Woodlands Wellington | 1988 | Woodlands | Sân vận động Woodlands | 1996–2014 |
| Sembawang Rangers | 1996 | Sembawang | Sân vận động Yishun | 1996–2003 |
| Jurong Town | 1975 | Jurong | Sân vận động Jurong | 1997–2003 |
| Warriors | 1979 | Choa Chu Kang | Sân vận động Choa Chu Kang | 1996–2019 |
| Home United | 1998 | Jalan Besar | Sân vận động Jalan Besar | 1998-2019 |
Năm biểu thị các mùa giải hoạt động trong giải đấu.
Các câu lạc bộ khách mời
Năm biểu thị các mùa giải hoạt động trong giải đấu Trụ sở trong nước là các câu lạc bộ nước ngoài có trụ sở tại Singapore.
Tài trợ
Sau mùa giải đầu tiên không có nhà tài trợ, giải đấu được tài trợ bởi Great Eastern từ năm 2009 đến năm 2018 khi Yeo's và Hyundai trở thành các nhà tài trợ đồng hành, trong thời gian đó giải được gọi là Great Eastern-Yeo's S.League và Great Eastern-Hyundai S.League. Vào năm 2019, một tập đoàn tài chính và bảo hiểm đa quốc gia có trụ sở tại Hồng Kông đã tài trợ cho giải đấu với tư cách là nhà tài trợ chính. Đối với mùa giải 2018, giải đấu đã được đổi tên thương hiệu thành Singapore Premier League.
| Giai đoạn | Nhà tài trợ | Thương hiệu |
|---|---|---|
| 1996–2008 | Không có nhà tài trợ | S.League |
| 2009–2016 | Great Eastern-Yeo's | Great Eastern-Yeo's S.League |
| 2017–2018 | Great Eastern-Hyundai | – Great Eastern-Hyundai S.League
– Great Eastern-Hyundai Singapore Premier League |
| 2019–nay | AIA | AIA Singapore Premier League |
Vòng loại cho các giải đấu châu Á
Đội vô địch giải đấu đủ điều kiện tham dự AFC Champions League 2, giống như đội vô địch Cúp Singapore. Các câu lạc bộ nước ngoài không đủ điều kiện đại diện cho Hiệp hội bóng đá Singapore tại các giải đấu lục địa của AFC. Suất tham dự sẽ được trao cho câu lạc bộ nội có thành tích tốt nhất tiếp theo trong giải đấu nếu một câu lạc bộ nước ngoài giành chiến thắng ở bất kỳ giải nào trong hai giải đấu này.
Các nhà vô địch
Giải đấu đã chứng kiến bảy câu lạc bộ giành chức vô địch kể từ khi thành lập. Warriors (trước đây là Singapore Armed Forces FC) giữ nhiều danh hiệu nhất với chín lần. Vào năm 2010, Étoile trở thành đội bóng nước ngoài đầu tiên giành chiến thắng tại giải đấu.[13]
| Câu lạc bộ khách mời |
* Mùa giải đầu tiên của S.League được chia thành hai giai đoạn. Đội vô địch của mỗi giai đoạn đã thi đấu trận play-off tranh chức vô địch, trong đó Geylang United đánh bại Singapore Armed Forces để giành danh hiệu S.League đầu tiên.
Vô địch theo câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Vô địch | Á quân | Năm vô địch |
|---|---|---|---|
| Warriors | 9
|
4
|
1997, 1998, 2000, 2002, 2006, 2007, 2008, 2009, 2014 |
| Albirex Niigata (S) | 6
|
1
|
2016, 2017, 2018, 2020, 2022, 2023 |
| Tampines Rovers | 5
|
8
|
2004, 2005, 2011, 2012, 2013 |
| Lion City Sailors | 4
|
8
|
1999, 2003, 2021, 2024–25 |
| DPMM | 2
|
2
|
2015, 2019 |
| Geylang International | 2
|
1
|
1996, 2001 |
| Étoile | 1
|
0
|
2010 |
| Tanjong Pagar United | 0
|
3
|
|
| Super Reds | 0
|
1
|
| Câu lạc bộ khách mời |
Giải thưởng
Tiền thưởng
Vào ngày 1 tháng 7 năm 2025, FAS giới thiệu những cải tiến cho Singapore Premier League với việc tăng tiền thưởng, theo đó thông thường tiền thưởng chỉ được trao cho bốn đội đứng đầu nhưng từ mùa giải 2025–26 trở đi, các đội xếp thứ năm và thứ sáu sẽ nhận được lần lượt 50.000 và 30.000 đô la như một khoản khích lệ thành tích cho các vị trí giữa bảng xếp hạng.[16] Tính đến mùa giải 2025–26. Tiền thưởng được tính bằng đô la Singapore. Vô địch: $200,000 Á quân: $150,000 Hạng ba: $100,000 Hạng tư: $70,000 Hạng năm: $50,000 Hạng sáu: $30,000
Bảng xếp hạng mọi thời đại
Bảng xếp hạng Singapore Premier League mọi thời đại là thành tích tích lũy của tất cả kết quả trận đấu, điểm số và bàn thắng của mọi đội bóng đã từng thi đấu tại giải kể từ khi thành lập năm 1996. Bảng dưới đây chính xác tính đến cuối mùa giải 2023. Các đội được in đậm là một phần của mùa giải 2024–25.
| VT |
Câu lạc bộ |
Số Mùa giải |
ST |
T (LL)[c] | H |
B |
BT |
BB |
HS |
Đ |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Tampines Rovers | 28 | 720 | 389 (3) | 145 | 183 | 1,425 | 909 | +516 | 1,318 |
| 2 | Warriors a | 24 | 654 | 371 (2) | 121 | 160 | 1,407 | 865 | +542 | 1,238 |
| 3 | Home United | 24 | 654 | 357 (2) | 123 | 172 | 1,309 | 853 | +456 | 1,198 |
| 4 | Geylang International a | 28 | 720 | 294 (3) | 145 | 289 | 1,131 | 1,127 | +4 | 1,043 |
| 5 | Albirex Niigata (S) | 20 | 534 | 275 | 118 | 139 | 1,022 | 735 | +287 | 985 |
| 6 | Balestier Khalsa | 28 | 720 | 211 (2) | 158 | 371 | 994 | 1,396 | −402 | 756 |
| 7 | Woodlands Wellington c | 19 | 531 | 167 (4) | 120 | 240 | 743 | 930 | −187 | 623 |
| 8 | Young Lions | 19 | 567 | 141 (1) | 109 | 316 | 683 | 1,123 | −440 | 529 |
| 9 | Tanjong Pagar United | 15 | 404 | 136 (2) | 85 | 172 | 583 | 692 | −109 | 492 |
| 10 | Gombak United | 12 | 346 | 114 | 88 | 144 | 462 | 528 | −66 | 432 |
| 11 | Hougang United f | 13 | 321 | 113 | 65 | 143 | 508 | 571 | −63 | 379 |
| 12 | DPMM d | 9 | 225 | 103 | 48 | 74 | 414 | 333 | +81 | 357 |
| 13 | Jurong Town | 7 | 179 | 70 (7) | 29 | 73 | 261 | 274 | −13 | 253 |
| 14 | Sembawang Rangers | 8 | 207 | 53 (5) | 47 | 102 | 256 | 409 | −149 | 216 |
| 15 | Lion City Sailors g | 4 | 87 | 57 | 15 | 15 | 273 | 117 | +156 | 186 |
| 16 | Super Reds | 3 | 96 | 41 | 20 | 35 | 144 | 146 | −2 | 143 |
| 17 | Étoile f | 2 | 66 | 42 | 11 | 13 | 119 | 59 | +60 | 132 |
| 18 | Clementi Khalsa | 4 | 110 | 22 | 29 | 59 | 150 | 261 | −111 | 95 |
| 19 | Sinchi b | 3 | 87 | 22 (6) | 13 | 46 | 109 | 167 | −58 | 88 |
| 20 | Harimau Muda B | 3 | 81 | 23 | 14 | 44 | 90 | 150 | −60 | 83 |
| 21 | Harimau Muda A | 1 | 24 | 13 | 3 | 8 | 37 | 23 | +14 | 42 |
| 22 | Beijing Guoan Talent e | 1 | 33 | 10 | 6 | 17 | 30 | 49 | −19 | 31 |
| 23 | Liaoning Guangyuan | 1 | 33 | 8 | 5 | 20 | 33 | 63 | −30 | 29 |
| 24 | Sporting Afrique (Châu Phi) | 1 | 30 | 5 | 9 | 26 | 36 | 59 | −23 | 24 |
| 25 | Dalian Shide Siwu | 1 | 33 | 5 | 7 | 21 | 26 | 75 | −55 | 22 |
| 26 | Paya Lebar Punggol | 1 | 27 | 1 | 1 | 25 | 23 | 78 | −55 | 4 |
a: Không bao gồm trận play-off tranh chức vô địch vào cuối Mùa giải 1996. Geylang United đã đánh bại Singapore Armed Forces 2–1 để giành chức vô địch S.League. b: Sinchi FC bị trừ 3 điểm vì hành vi sai trái nghiêm trọng vào năm 2005. c: Woodlands Wellington bị trừ 6 điểm vì bỏ trận đấu vào năm 2007. d: Kết quả 2009 liên quan đến DPMM bị hủy bỏ do lệnh cấm của FIFA nên mùa giải không được tính. e: Young Lions và Beijing Guoan Talent mỗi đội bị trừ 5 điểm vì hành vi sai trái nghiêm trọng vào năm 2010. f: Étoile và Hougang United mỗi đội bị trừ 5 điểm vì vụ ẩu đả trước trận đấu vào năm 2011. g: Lion City Sailors là một phần của thực thể câu lạc bộ mới từ mùa giải 2020 trở đi.
Kỷ lục và thống kê
Kỷ lục câu lạc bộ
- Nhiều chức vô địch nhất: 9, Warriors
- Số lần vô địch liên tiếp nhiều nhất: 4, Warriors (2006, 2007, 2008, 2009)
- Khoảng cách điểm vô địch lớn nhất: 23 điểm, 2018; Albirex Niigata (S) (66 điểm) so với Home United (43 điểm)
- Nhiều điểm nhất trong một mùa giải: 84, SAFFC (2002)
- Nhiều trận thắng nhất trong một mùa giải: 26, SAFFC (2002)
- Trận thắng sân nhà đậm nhất: 9–0
- SAFFC vs Sembawang Rangers (15 tháng 6 năm 2002)
- Tampines Rovers vs Tanjong Pagar United (16 tháng 3 năm 2004)
- Trận thắng sân khách đậm nhất: 1–10
- Young Lions vs Lion City Sailors (13 tháng 8 năm 2022)
- Trận đấu có nhiều bàn thắng nhất: 4–9
- Hougang United vs Lion City Sailors (26 tháng 8 năm 2022)
- Số trận thua nhiều nhất trong một mùa giải: 25, Gombak United (2002)
- Ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải: 104
- SAFFC (2002)
- Home United (2003)
- Bị thủng lưới nhiều nhất trong một mùa giải: 103, Young Lions (2022)
- Bị thủng lưới ít nhất trong một mùa giải: 11, Tampines Rovers (2020)
Kỷ lục cầu thủ
- Số lần ra sân nhiều nhất: 518
- Ghi nhiều bàn thắng nhất: 385
- Ghi nhiều bàn thắng nhất trong một trận đấu: 5
- Andrey Voronkov (gặp Balestier Khalsa vào ngày 13 tháng 4 năm 2019 trong chiến thắng 7–1)
- Reo Nishiguchi (gặp Young Lions vào ngày 1 tháng 10 năm 2022 trong chiến thắng 8–1)
- Tsubasa Sano, phút 83 (gặp Young Lions vào ngày 26 tháng 5 năm 2017 trong chiến thắng 8–0)
- Nhiều chức vô địch giải đấu nhất: 8
- Vua phá lưới trong một mùa giải: 44
- Khoác áo nhiều câu lạc bộ khác nhau nhất: 8
- Farizal Basri (Tampines Rovers, Young Lions, SAFFC, Balestier Khalsa, Geylang United, Sengkang Punggol, Home United và Woodlands Wellington)
- Cầu thủ lớn tuổi nhất:
- Alizanda Sitom, 46 tuổi, 9 tháng, 26 ngày (cho DPMM gặp Home United vào ngày 25 tháng 5 năm 2017)
- Cầu thủ (không phải thủ môn) lớn tuổi nhất:
- Daniel Bennett, 44 tuổi, 9 tháng, 13 ngày (cho Tanjong Pagar United gặp Tampines Rovers vào ngày 20 tháng 10 năm 2022)
- Cầu thủ ghi bàn lớn tuổi nhất:
- Daniel Bennett ~ 44 tuổi, 7 tháng, 27 ngày (vào ngày 3 tháng 9 năm 2022 gặp Hougang United)
- Cầu thủ trẻ nhất:
- Nathan Mao, 15 tuổi, 5 ngày (cho Lion City Sailors gặp Tampines Rovers vào ngày 31 tháng 3 năm 2023)
- Cầu thủ ghi bàn trẻ nhất:
- Hakeme Yazid Said, 16 tuổi, 5 tháng, 25 ngày (cho DPMM gặp Geylang International vào ngày 2 tháng 8 năm 2019)
- Số mùa giải góp mặt nhiều nhất: 26
- Daniel Bennett (từ 1996 đến 2022)
Kỷ lục huấn luyện viên
- Nhiều chức vô địch nhất: 4
- Richard Bok (2006, 2007, 2008, 2009)
- Kazuaki Yoshinaga (2017, 2018, 2022, 2023)
- Nhiều trận đấu nhất: 123
- Jörg Steinebrunner (với Woodlands Wellington, Sengkang Punggol, Geylang International và Warriors)
| Hạng | Cầu thủ | Năm | Số lần ra sân | Bàn thắng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Daniel Bennett | 1996–2001, 2002, 2003–2022 | 513 | 21 |
| 2 | Yazid Yasin | 1996–2016 | 476 | 0 |
| 3 | Aleksandar Đurić | 1999, 2000–2014 | 439 | 385 |
| 4 | Indra Sahdan Daud | 1996–2016 | 419 | 178 |
| 5 | Fahrudin Mustafić | 2002–2009, 2011–2018 | 332 | 45 |
| 6 | Yasir Hanapi | 2008–2011, 2013–2017, 2018–nay | 317 | 46 |
| 7 | Zaiful Nizam | 2006–nay | 316 | 0 |
| 8 | Fazrul Nawaz | 2004–2012, 2014, 2015–2021 | 312 | 145 |
| 9 | Noh Alam Shah | 1997–2006, 2012. 2014–2015 | 306 | 126 |
| 10 | Irwan Shah | 2009–2011, 2014–2023 | 293 | 9 |
| Shahdan Sulaiman | 2006–2011, 2013–2017, 2019–nay | 46 |
| Hạng | Cầu thủ | Năm | Số lần ra sân | Bàn thắng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Aleksandar Đurić | 1999, 2000–2014 | 439 | 385 |
| 2 | Egmar Gonçalves | 1996–1998, 2000–2006 | 255 | 239 |
| 3 | Mirko Grabovac | 1999–2008 | 239 | 226 |
| 4 | Indra Sahdan Daud | 1996–2016 | 419 | 178 |
| 5 | Fazrul Nawaz | 2004–2012, 2014, 2015–2021 | 312 | 145 |
| 6 | Peres de Oliveira | 2001–2010 | 237 | 133 |
| 7 | Khairul Amri | 2004–2009, 2013, 2016–2019, 2021–2023 | 270 | 128 |
| 8 | Noh Alam Shah | 1997–2006, 2012. 2014–2015 | 306 | 126 |
| 9 | Agu Casmir | 2002–2007, 2008–2010, 2014–2015 | 212 | 125 |
| 10 | Jordan Webb | 2010–2020 | 243 | 101 |
Cầu thủ nước ngoài đáng chú ý
Người nước ngoài đã nhập tịch Singapore không được tính trong danh sách. Chỉ áp dụng với tư cách cầu thủ và không tính vai trò huấn luyện viên sau khi giải nghệ.
| Cầu thủ | Câu lạc bộ | Năm | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Mohammad Khakpour | Geylang United | 1995–1996 | Khakpour từng là đội trưởng đội tuyển quốc gia Iran tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1998 được tổ chức tại Pháp. |
| Hamid Reza Estili | Geylang United | 1996 | Estili đã ghi bàn trong chiến thắng 2–1 của Iran trước Hoa Kỳ tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1998. |
| Mark Atkinson | Sembawang Rangers | 1996 | Atkinson có tên trong đội hình đội tuyển quốc gia New Zealand tham dự Cúp Liên đoàn các châu lục 1999 được tổ chức tại Mexico.[17] |
| Émile Mbouh | Tiong Bahru United | 1997 | Mbouh đã xuất hiện tại cả hai kỳ 1990 và 1994. |
| Ernie Tapai | Home United | 1999–2000 | Tapai là thành viên của đội hình đội tuyển quốc gia Úc giành ngôi á quân tại Cúp Liên đoàn các châu lục 1997. |
| Lutz Pfannenstiel | Geylang United | 1999–2000 | Pfannenstiel giữ kỷ lục là cầu thủ bóng đá đầu tiên và duy nhất chơi chuyên nghiệp ở cả sáu liên đoàn châu lục được công nhận. |
| Grant Holt | Sengkang Marine | 2001 | Holt sau đó đã chơi cho Norwich City, nơi anh giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Norwich City trong ba mùa giải liên tiếp, giúp Norwich thăng hạng hai lần liên tiếp và trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều thứ sáu trong lịch sử câu lạc bộ. |
| O. J. Obatola | Gombak United | 2006–2009 | Obatola trở thành cầu thủ ghi bàn hàng đầu trong lịch sử Gombak United, sau đó ký hợp đồng với câu lạc bộ MLS Portland Timbers vào năm 2010. |
| Guiné-Bissau Frédéric Mendy | Home United | 2011–2013 | Mendy tiếp tục chơi ở giải đấu hạng cao nhất Bồ Đào Nha với Estoril và cũng giành chức vô địch giải hạng hai Bồ Đào Nha với Moreirense. Anh cũng đã chơi tại các giải đấu 2017 và Cúp bóng đá châu Phi 2019 cùng Guinea-Bissau. |
| Ken Ilsø | Home United | 2015–2016 | Cựu cầu thủ của FC Midtjylland, Fortuna Düsseldorf và VfL Bochum |
| Jermaine Pennant | Tampines Rovers | 2016 | Cựu cầu thủ của Arsenal và Liverpool, nơi anh đã chơi trọn vẹn trận đấu cho Liverpool trong Chung kết UEFA Champions League 2007. |
| Volodymyr Pryyomov | DPMM | 2018 | Vô địch Cúp UEFA 2009 cùng Shakhtar Donetsk |
| André Moritz | Hougang United | 2022 | Moritz đã giúp Crystal Palace trở lại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh sau tám năm vắng bóng bằng cách đánh bại Watford 1–0 trong trận chung kết play-off Championship 2013.
Anh cũng ghi dấu ấn với một bàn thắng ngay từ tiếng còi khai cuộc, bằng một cú sút xa tuyệt đẹp từ vạch giữa sân mang về chiến thắng 3–2 cho Hougang trước Geylang International |
| Diego Lopes | Lion City Sailors | 2021–2023 | Lopes là bản hợp đồng đắt giá nhất và là cầu thủ trị giá hàng triệu đô la đầu tiên trong lịch sử giải đấu với mức phí chuyển nhượng kỷ lục Singapore là 2,9 triệu đô la Singapore |
| Kim Shin-wook | Lion City Sailors | 2022 | Shin-wook là thành viên của đội hình đội tuyển quốc gia Hàn Quốc tham dự 2014 và 2018. Anh cũng có tên trong các giải đấu 2011 và Cúp bóng đá châu Á 2015. |
| Tadanari Lee | Albirex Niigata (S) | 2022–2023 | Tadanari đã ghi bàn thắng quyết định trong trận Chung kết Cúp bóng đá châu Á 2011 giúp Nhật Bản giành danh hiệu thứ tư. Tadanari cũng đã thi đấu tại Southampton và vô địch AFC Champions League 2017 cùng Urawa Red Diamonds. |
| Bailey Wright | Lion City Sailors | 2023–nay | Wright là thành viên của đội tuyển quốc gia Úc tại 2014 và 2022. Anh cũng chơi trong các trận đấu vòng bảng cuối cùng gặp Đan Mạch ở phiên bản 2022. Wright cũng có tên trong Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 nơi anh góp mặt trong tất cả các trận đấu. |
Xem thêm
Cúp bóng đá Singapore Cúp Liên đoàn bóng đá Singapore Siêu cúp bóng đá Singapore Singapore Premier League 2 Giải bóng đá Quốc gia Singapore Thể thao tại Singapore Bóng đá tại Singapore Danh sách các câu lạc bộ bóng đá ở Singapore Giải bóng đá Ngoại hạng nữ (Singapore) Những người chiến thắng giải thưởng Singapore Premier League Prime League Đội tuyển chọn Singapore
Ghi chú
- ^ Trước đây được gọi là Câu lạc bộ bóng đá Lực lượng Vũ trang Singapore (SAFFC).
- ^ Trước đây được gọi là Câu lạc bộ bóng đá Home United (HUFC).
- ^ Phiên bản năm 2003 của S.League đã giới thiệu loạt sút luân lưu nếu trận đấu kết thúc với tỷ số hòa. Đội thắng trong loạt sút luân lưu được thưởng thêm một điểm ngoài điểm số của trận hòa.
Tham khảo
- ^ Joe Dorai (ngày 17 tháng 1 năm 1995). "Malaysian states want 15 per cent levy to play at Kallang". The Straits Times. tr. 31.
- ^ "Geylang wins S-League's Championship match". The Straits Times. ngày 10 tháng 11 năm 1996.
- ^ "Singapore's LionsXII booted out of Malaysia football". TodayOnline. ngày 25 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2016.
- ^ a b c d Osman, Shamir (ngày 4 tháng 11 năm 2014). "Only 10 teams in S.League next year". The New Paper. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
- ^ Low, Lin Fhoong (ngày 6 tháng 11 năm 2014). "Changes will make S-League 'stronger, more competitive'". Today. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
- ^ a b c Low, Lin Fhoong (ngày 5 tháng 11 năm 2014). "Uncertainty over S-League's changes for 2015". Today. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014.
- ^ Phua, Emmanuel (ngày 24 tháng 11 năm 2014). "Players ambivalent about S-League U-turn". Today. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2014.
- ^ Football: Goodbye S-League, welcome Singapore Premier League Lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2019 tại Wayback Machine The Straits Times, 21 March 2018
- ^ "Key developments implemented for Singapore Premier League 2020 season". FAS. ngày 28 tháng 11 năm 2019.
- ^ "Quadruple round-robin format for 2022 Singapore Premier League season". FAS. ngày 25 tháng 1 năm 2022.
- ^ a b c "Interim pre-season tournament planned as SPL gears up for upcoming 2024-25 season". spl.sg. ngày 11 tháng 2 năm 2024.
- ^ Deepanraj Ganesan (ngày 12 tháng 4 năm 2024). "2024-25 Singapore Premier League season to kick off on May 10". The Straits Times.
- ^ "S.League overview". S.League. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2014.
- ^ "Albirex wrap up Singapore Premier League title with three months to go - Channel NewsAsia". ngày 23 tháng 7 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Albirex Niigata FC (S) are 2020 AIA Singapore Premier League champions - Football Association of Singapore" (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2021.
- ^ "FAS introduces enhancements to SPL, with increase in prize money and foreign player quota". The Straits Times (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 7 năm 2025. ISSN 0585-3923. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- ^ "1999 FIFA Confederations Cup squads", Wikipedia (bằng tiếng Anh), ngày 28 tháng 6 năm 2024, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024
Liên kết ngoài
| Tập tin phương tiện từ Commons | |
| Dữ liệu từ Wikidata | |
Website chính thức League tại FIFA (lưu trữ 14 tháng 6 năm 2007)