Sujata
Sujata | |
|---|---|
| Tập tin:085 Sujata offers Rice (9189374231).jpg | |
| Đời tư | |
| Lý do nổi tiếng | Dâng kheer (cháo sữa), qua đó chấm dứt thời gian nhịn ăn kéo dài của Đức Phật Gautama, mở đường cho sự giác ngộ của Ngài. |
| Đời tu | |
| Tôn giáo | Phật giáo |
Sujata, còn được gọi là Sujātā hoặc Nandabala, là vợ của một người nông dân. Bà được cho là đã dâng cho Đức Phật Gautama một bát kheer, món cháo sữa gạo, qua đó kết thúc sáu năm thực hành khổ hạnh của Ngài. Do thân thể Ngài gầy gò, tiều tụy vì khổ hạnh, bà đã lầm tưởng Ngài là một thần linh tự nhiên cư ngụ trong cây đã ban cho bà điều ước có con. Món quà này đã cung cấp cho Ngài đủ sức lực để thực hành Trung đạo, phát triển jhana (thiền định), và chứng đắc Bồ-đề, từ đó được biết đến với danh hiệu Phật.[1][2][3]
Trong một tiền kiếp, bà được cho là đã gặp Phật Padumuttara, vị đã tiên đoán rằng một ngày nào đó bà sẽ trở thành nữ cư sĩ tại gia đầu tiên của một vị Phật trong tương lai.[4]
Ngôi làng Bakraur gần Bodh Gaya được cho là quê hương của bà. Bảo tháp Sujata được xây dựng để tôn vinh bà tại đó vào thế kỷ thứ 2 TCN.[5] Ngoài ra còn có Đền Sujata, ngày nay là một địa điểm hành hương và du lịch nổi tiếng.[6]
Câu chuyện
- Các nguồn chính được các tác giả được đề cập dưới đây sử dụng là Kinh Lalitavistara, Chương 18[7][note 1], cùng với Aśvaghoṣa, người trong trường ca Buddhacharita, Khúc ca 12, đã nhắc tới Sujata dưới tên Nandabala.[8]
Sujata, đôi khi được gọi là Nandabala, là con gái của một địa chủ giàu có tên là Seniya[9][note 2], sinh sống tại làng Sanani (nay là Bakraur), gần khu rừng Uruvela (nay là Bodh Gaya[note 3]), nằm bên bờ sông Lilajan.
Khi còn độc thân, bà mong muốn tìm được một người chồng tốt và có con. Dân làng nói với bà rằng trong một cây đa có vị thần có thể ban điều ước ấy. Vì vậy, bà bắt đầu dâng lễ vật hằng ngày, cầu xin vị Thiên thần thực hiện hai nguyện vọng của mình. Cuối cùng, bà kết hôn và sinh được một người con trai.[6] [note 4][1][10]
Kể từ đó, hằng năm vào ngày trăng tròn tháng Vaisakha, bà đều đặt một bát payasa (hay kheer, chè gạo sữa) dưới gốc cây làm lễ vật để tạ ơn vị thần. Hơn hai mươi năm trôi qua, Sujata chưa từng quên dâng lễ vật tri ân thường niên này.[6]
Đồng thời, bà còn gửi một lời cầu nguyện khác tới tám trăm vị Bà-la-môn, rằng:[11]
Cầu mong Bồ Tát cuối cùng sẽ nhận sự cúng dường thức ăn từ con, chứng đắc giác ngộ và trở thành một vị Phật![12]
Một đêm nọ, Sujata mơ thấy một vị Thiên nhân nói với bà:
Bồ Tát đã từ bỏ các pháp khổ hạnh và mong muốn thọ dụng thức ăn bổ dưỡng. Nay lời cầu nguyện của bà sẽ được thành tựu.[12]
Vài ngày sau, vào ngày trăng tròn tháng Năm, bà lại mơ thấy vị Thiên nhân ấy. Khi đó bà hiểu rằng ngày mà mình chờ đợi bấy lâu cuối cùng đã đến.
Bà lập tức thức dậy và đến đàn gia súc của cha mình. Sau nhiều năm chuẩn bị lễ vật payasa, bà biết cách lấy được loại sữa hảo hạng nhất: trước tiên lấy sữa của 1.000 con bò để nuôi 500 con khác, rồi tiếp tục lặp lại quy trình với 250 con, rồi 125 con, v.v., cho đến khi chỉ còn đủ thức ăn cho 8 con bò cuối cùng.[note 5] Sữa của chúng được dùng để chế biến bánh sữa dâng cúng. Bà gọi quá trình này là “luyện sữa nhiều lần”.[12][6][13]
Bà sai người hầu gái tên Punna[note 6] đến dưới gốc cây để chuẩn bị nghi lễ. Khi cô gái nhìn thấy một người đàn ông gầy trơ xương đang ngồi thiền, cô tưởng đó là vị thần cây. Cô lập tức chạy về báo cho Sujata, và bà đến ngay sau đó.
Sujata vô cùng vui mừng khi nhìn thấy người mà bà nghĩ là vị thần hộ mệnh của cây. Bà cung kính cúi đầu, trao cho ông chiếc bát vàng chứa lễ vật và nói:
Mong điều ước của ngài được thành tựu như điều ước của tôi đã thành tựu!
Tất Đạt Đa nhận lấy lễ vật, đứng dậy và mang chiếc bát đến bờ sông.[12][6] Sau khi tắm, Ngài chia bánh gạo thành 49 phần rồi ăn hết. Khi dùng xong, Ngài cầm chiếc bát vàng và ném xuống sông, nói rằng:
Nếu hôm nay ta có thể thành Phật, xin cho chiếc bát này đi ngược dòng; nếu không, hãy để nó trôi xuôi dòng.
Chiếc bát vàng liền trôi ngược dòng, đứng giữa sông một lúc rồi chìm xuống đáy. Tất Đạt Đa hiểu điềm lành ấy và trở về ngồi dưới gốc cây cho đến khi chứng ngộ giác ngộ.[12][6][14][15]
Sujata giữ một vị trí đặc biệt trong lịch sử Phật giáo, bởi bà vừa là người cuối cùng trò chuyện với vị Phật tương lai trước khi Ngài giác ngộ, vừa là người đầu tiên nói chuyện với Ngài sau khi thành đạo.[6]
Một lần, khi Đức Phật Gautama giảng về những nữ cư sĩ tại gia tiêu biểu, Ngài nói với các vị tỳ-kheo:
Này các Tỳ-kheo, trong số những nữ cư sĩ là đệ tử của Ta, những người sớm nhất quy y Tam Bảo, Sujata, con gái của gia chủ Seniya, là bậc hàng đầu.[16]
Tiền kiếp của Sujata
Vào thời Phật Padumuttara, Sujata trong tương lai là con gái của một người giàu có ở thành Hamsavati. Khi lắng nghe vị Thánh nhân thuyết pháp, cô thấy nữ cư sĩ đầu tiên quy y Tam bảo. Cô tự nhủ rằng một ngày nào đó mình cũng sẽ làm được điều tương tự. Cô dâng phẩm vật cúng dường lên Đức Phật Padumuttara và bày tỏ nguyện vọng của mình với Ngài. Đức Phật tiên tri rằng trong tương lai cô cũng sẽ trở thành nữ đệ tử tại gia đầu tiên của một vị Phật sẽ xuất hiện. Hàng ngàn năm trôi qua, cô gái ấy tái sinh nhiều lần. Đến kiếp này, cô trở thành Sujata, và nguyện ước của cô được thành tựu dưới thời Đức Phật Gautama.[4][6]
Bảo tháp và Đền Sujata tại Bakraur
Một bảo tháp và một ngôi đền dành riêng để tưởng niệm Sujata đã được xây dựng tại Bakraur, một ngôi làng nằm bên kia sông, cách Bodh Gaya khoảng 2 km.
Bảo tháp Sujata được xây dựng vào thế kỷ thứ 2 TCN, điều này được xác nhận qua việc phát hiện đồ gốm đen đánh bóng và các tiền xu đúc dập ký hiệu tại tu viện đi kèm.[5] Bảo tháp được xây dựng trên địa điểm được cho là ngôi nhà của bà, nằm ở bờ đối diện với Đền Mahabodhi qua con sông.[6]
Ngôi đền có niên đại gần đây hơn (được xây dựng vào khoảng thế kỷ 19 hoặc 20).[note 7] Hiện nay nơi đây vừa là điểm hành hương tôn giáo vừa là một địa điểm du lịch nổi tiếng.[6][17]
- Bảo tháp và Đền Sujata tại Bakraur.
-
Bảo tháp Sujata.
Lễ vật dâng cúng tại di tích. -
Đền Sujata.
Một bàn thờ dâng nguyện. -
Đền Sujata.
Một bàn thờ dâng nguyện.
Thư viện ảnh
- Một số hình ảnh mô tả Sujata dâng cháo sữa cho Đức Phật.
-
Một ngôi đền chưa xác định tại Bhutan.
Xem thêm
Chú thích
- ^ Chỉ một số ít tác giả được trích dẫn trong bài viết này, vì rất khó để liệt kê đầy đủ tất cả.
- ^ Theo Alexander Cunningham, cha của Sujata tên là “Nandika”: tr.2, 1892. Bản mẫu:Access-date.
- ^ Bodh Gaya: Trong lịch sử, địa điểm này được gọi là Uruvela vào thời Đức Phật. Mãi đến thế kỷ 18 hoặc 19, nơi đây mới bắt đầu được biết đến với tên Bodh Gaya (nguồn tham khảo: Juergensmeyer, Mark; Roof, Wade Clark (2011). Encyclopedia of Global Religion. SAGE Publications. tr. 147–148. ISBN 9781452266565. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2024.
- ^ Con trai của Sujata tên là Yasa. Sau này ông trở thành đệ tử của Đức Phật và được Ngài cho xuất gia làm tỳ-kheo.
- ^ Sữa của 8 con bò: về mặt biểu tượng, con số này có lẽ ám chỉ Bát Chánh Đạo.
- ^ Theo một số ghi chép khác, tên bà là Punna, Urmita hoặc Uttara.
- ^ Đền Sujata: không có nguồn tham khảo nào được khảo cứu nêu rõ năm xây dựng chính xác.
Tham khảo
- ^ a b Prasoon, Shrikant (2007). Knowing Buddha : Life and teachings. Delhi: Pustak Mahal Hindoology Books. tr. 119. ISBN 9788122309638. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2024.
- ^ Planet, Lonely; Blasi, Abigail (2017). Lonely Planet India. Lonely Planet. ISBN 9781787011991. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2024.
- ^ Dwivedi, Sunita; Lama, Dalai (foreword) (2006). Buddhist heritage sites of India. New Delhi: Rupa & Co. ISBN 8129107384.. Bản mẫu:Access-date
- ^ a b Mingun Sayadaw. The Great Chronicles of Buddhas, tr. 1447–1448. Bản mẫu:Access-date
- ^ a b Geary, David; Sayers, Matthew R.; Amar, Abhishek Singh (2012). Cross-disciplinary Perspectives on a Contested Buddhist Site: Bodh Gaya Jataka (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 35–36. ISBN 9781136320675. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2024.
- ^ a b c d e f g h i j Candasiri; Alok Kumar Verma, The life of Sujātā: A woman from Sena village, praised by the Buddha (PDF), International Journal of Humanities, truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2024
- ^ Kinh Lalitavistara. Chương 18: Sông Nairañjanā. Bản mẫu:Access-date. Chương 18 của Kinh Lalitavistara là nguồn chính được các tác giả được trích dẫn bên dưới sử dụng. Những câu kệ trong Chương 18 có nhắc đến tên Sujata là các kệ 28–29, 33–39, 44 và 48–49.
- ^ Aśvaghoṣa. Buddhacharita, Khúc ca 12, câu kệ 109, tr.185. Bản mẫu:Access-date
- ^ Đại đức Mingun Sayadaw. The Great Chronicles of Buddhas, tr.144[https://archive.org/details/the-great-chronicles-of-buddhas-Singapore-edition/page/1447/mode/1up Đại đức Mingun7. Bản mẫu:Access-date
- ^ K.M. Srivastava (1978–1979), "Where Sujata offered payasa to the Buddha", Journal of the Sri Lanka Branch of the RAS, 24, Royal Asiatic Society of Sri Lanka: volume n° 24, p. 15-19, JSTOR 23728501, truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2024
- ^ Đại đức Mingun Sayadaw. The Great Chronicles of Buddhas, tr.300, 1991. Bản mẫu:Access-date
- ^ a b c d e Coomaraswamy, A.K. (1916). Buddha and the Gospel of Buddhism. Harper And Row Publishers.
- ^ Mingun Sayadaw. The Great Chronicles of Buddhas, tr.300-301. Bản mẫu:Access-date
- ^ Life of Buddha. The Golden Bowl Bản mẫu:Access-date
- ^ Mingun Sayadaw. The Great Chronicles of Buddhas, tr.302. Bản mẫu:Access-date
- ^ Mingun Sayadaw. The Great Chronicles of Buddhas, tr.1448. Bản mẫu:Access-date
- ^ Sujata Temple & Stupa, Bodhgaya. Bản mẫu:Access-date
Thư mục tài liệu
- Alice Collet (2014). Women in Early Indian Buddhism: Comparative Textual Studies. Oxford University Press. tr. 274. ISBN 9780199326044..
- Mingun Sayadaw (1991–1998). Women in Early Indian Buddhism: Comparative Textual Studies. Oxford University Press. tr. 3583. ISBN 9780199326044.. Đây là bản dịch từ tiếng Miến Điện sang tiếng Anh do U Ko Lay và U Tin Lwin thực hiện. Mỗi tập trong số 6 tập được chia thành 2 phần, tổng cộng 12 quyển sách. Nguyên tác tiếng Miến Điện là công trình của Đại đức Mingun Sayadaw, được biên soạn từ năm 1956 đến năm 1969. Bản mẫu:Access-date. Một phiên bản kỹ thuật số mới hơn (2008) hiện có sẵn trực tuyến (xem chi tiết trong mục “Liên kết ngoài”).
Liên kết ngoài
- Đại đức Mingun Sayadaw, The Great Chronicles of Buddhas, 1744 trang, Singapore Edition, 2008. Đây là bản tổng hợp từ 6 tập được xuất bản trong giai đoạn 1991–1998 (bản in giấy được đề cập ở trên). Bản mẫu:Access-date
- Đền Sujata tại Bakraur (thời lượng 2 phút 52 giây). Bản mẫu:Access-date
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).