Bước tới nội dung

Họa Tam Vũ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Họa Tam Vũ (tiếng Trung: 三武之禍, bính âm: sān wǔ zhī huò) hay Tam Vũ Diệt Phật (tiếng Trung: 三武滅佛) là ba cuộc đàn áp chống lại Phật giáo trong lịch sử Trung quốc. Nó đã được đặt tên như vậy bởi vì các thụy hiệu hay miếu hiệu của tất cả ba hoàng đế thực hiện vụ đàn áp đều có chữ (武). Sau pháp nạn trên, Phật giáo Trung Quốc còn chịu thêm một vài lần khác.

Pháp nạn Đầu Tiên

Pháp nạn đầu tiên bắt đầu năm 446, khi Bắc Ngụy Thái Vũ Đế, một người sùng Đạo giáo, đã chiến đấu chống Hung Nô trong nổi loạn Cái Ngô (蓋吳). Trong các chiến dịch, vũ khí của cuộc nổi loạn đã được đặt trong các ngôi chùa Phật giáo, và vì thế, hoàng đế tin rằng Phật giáo đã chống lại mình. Với sự khuyến khích từ Tể tướng Thôi Hạo, ông ra lệnh bãi bỏ Phật giáo, xử tử những Phật tử trong vùng Quan Trung, khu vực trung tâm của cuộc nổi loạn.[1] Lệnh cấm đối với Phật giáo đã được nới lỏng trong những năm sau, và chính thức kết thúc sau khi cháu trai của ông là Bắc Ngụy Văn Thành Đế, một tín đồ đạo Phật, lên ngôi năm 452.

Pháp nạn Thứ Hai

Pháp nạn thứ hai  đã được thực hiện trong hai lần riêng rẽ, một vào năm 574 và một trong năm 577, khi Bắc Chu Vũ Đế cấm cả Phật giáo và Đạo giáo, bởi vì ông tin rằng họ đã trở nên quá giàu có và quyền lực. Ông ta ra lệnh cho các thầy tu của cả hai tôn giáo trở về cuộc sống bình thường giúp cung cấp thêm nhân lực cho quân đội và nền kinh tế.[2] So với thảm họa đầu tiên, lần thứ hai là tương đối không đổ máu. Rất khó để biết thời gian Pháp nạn kết thúc nhưng có lẽ vào lúc con trai ông, Bắc Chu Tuyên Đế lên ngôi năm 578.

Pháp nạn Thứ Ba

Pháp nạn thứ ba bắt đầu năm 845, khi Đường Vũ Tông một người sùng đạo Đạo giáo ra lệnh phá hủy các ngôi chùa và bức tượng Phật và tịch thu tài sản của họ vào ngân khố. Lệnh cấm không phải là một lệnh cấm hoàn toàn, hai ngôi chùa được phép trong cả thủ đô chính Trường An và thành Lạc Dương, các thành phố lớn và vùng phụ cận được phép để duy trì một ngôi chùa không nhiều hơn 20 nhà sư. Hơn 4.600 ngôi đền đã bị phá hủy trên toàn Trung Quốc, hơn 260.000 nhà sư và nữ tu, đã bị buộc phải trở lại với cuộc sống bình thường.[3] Thảm họa không chỉ ảnh hưởng có đạo Phật, mà cả Cảnh giáo và Hỏa giáo. Do niên hiệu Đường Vũ Tông trị vì là "Hội Xương" nên sự kiện diệt Phật của ông ta được các nhà viết sử Phật giáo Trung Quốc xưng là "Pháp nạn Hội Xương". Sau cái chết của ông, Đường Tuyên Tông, chú của ông lên ngôi năm 846 thì pháp nạn kết thúc.

Pháp nạn Thứ Tư

Vào năm 955, Hoàng đế Hậu Chu Thế Tông (trị vì 954–959) của triều đại Hậu Chu (951–960), do nhu cầu về kim loại đồng, đã ra lệnh phá hủy các tượng Phật để lấy đồng đúc tiền. Sắc lệnh của ông được ban hành với hình phạt tử hình (nếu ai bất hợp pháp tiếp tục sở hữu hơn năm cân (斤) (khoảng 2,5 kg) đồng; các mức trọng lượng thấp hơn sẽ chịu các hình phạt nhẹ hơn), nhưng không rõ có bao nhiêu tăng ni hay cư sĩ Phật tử đã bị xử tử theo yêu cầu của sắc lệnh này. Các ghi chép lịch sử truyền thống có sự mâu thuẫn về việc có hay không việc đàn áp giáo lý hoặc thực hành Phật giáo, mặc dù tất cả đều đồng thuận rằng không có bằng chứng về các vụ thảm sát. Tư trị thông giámTân ngũ đại sử cho rằng không có sự đàn áp giáo lý và thực hành, mặc dù Tân ngũ đại sử chỉ ra rằng những người có người phụ thuộc không được phép trở thành tăng ni.[4][5] Cựu Ngũ Đại sử thì ghi nhận có việc phá hủy chùa chiền và buộc các tăng ni phải trở về đời thường nếu lời thề của họ không được cha mẹ chấp thuận.[6]

Theo Từ điển Phật học của Soka Gakkai, Hoàng đế Hậu Chu Thế Tông đã phá hủy 3.336 trong tổng số 6.030 ngôi chùa Phật giáo ở Trung Quốc.[7]

Sự phục hồi

Tập tin:Wood Bodhisattva.jpg
Một bức tượng Bồ Tát bằng gỗ thời nhà Tống (960–1279 AD).

Một báo cáo từ cuối những năm 920, về những tín đồ Phật giáo dị giáo, bình luận rằng "đôi khi giới tăng lữ và cư sĩ Phật giáo lại thiếu hiểu biết và thiếu suy nghĩ. Đàn ông và đàn bà sống bất chính với nhau, tập hợp thành nhóm, tụ tập vào ban đêm và giải tán lúc bình minh, tuyên bố một cách giả tạo và truyền bá 'xã hội luật Phật' [fa-huai], lén lút buông thả trong đạo đức." Một sắc lệnh năm 1035 đã đưa ra phần thưởng lớn, ba mươi xâu tiền, cho bất kỳ ai có thể bắt giữ những người theo giáo phái như vậy hoặc tố giác họ dẫn đến việc bị bắt giữ. (Lưu ý rằng ba mươi xâu tiền là chi phí ước tính để nhà nước nuôi một nhân viên bưu chính trong một năm.) Báo cáo này liên quan đến các lộ phía tây nhưng những người bị cáo buộc có các hành vi tương tự cũng có thể được tìm thấy ở phía đông.[8]

Các cuộc chiến tranh liên tục đã làm cạn kiệt tiền bạc của Trung Quốc. Điều này buộc triều đình phải tăng thuế và bán các “giấy chứng nhận thụ giới” Phật giáo (để chứng minh một tăng ni được miễn thuế, lao động và nghĩa vụ quân sự) nhằm tăng nguồn thu. Năm 1067, các giấy chứng nhận này trở thành chính sách chính thức. Kết quả là, những thành viên giàu có trong cộng đồng cư sĩ bắt đầu chiếm đoạt các chùa chiền Phật giáo nhằm xây dựng các “tu viện” giàu có được miễn thuế. (Tuy nhiên, năm 1109, một sắc lệnh hoàng gia đã ngăn cấm các cư sĩ giàu có tài trợ cho các chùa này và bốn năm sau, năm 1113, các chùa này mất quyền miễn thuế. Đến năm 1129, ước tính có khoảng 5.000 giấy chứng nhận được bán mỗi năm.) Một số cư sĩ thậm chí còn mua giấy thụ giới cho riêng mình để tránh thuế. Bằng cách này, họ không phải nộp tiền cho nhà nước, cũng không phải giữ giới luật Phật giáo vì họ không phải là tăng ni thật sự. Với sự mất cân bằng giữa tăng ni và dân thường, nhà nước đã mất một nguồn thuế và nhân lực quân sự quan trọng.[9]

Trong thời kỳ Tể tướng “Cải cách” Vương An Thạch (1021–1086) nắm quyền, nhà nước bắt đầu đảm nhận các chức năng phúc lợi xã hội trước đây do các tu viện Phật giáo cung cấp, thiết lập các trại trẻ mồ côi công cộng, bệnh viện, phòng khám, nhà dưỡng lão, nghĩa trang và kho dự trữ lương thực.[10]

Tham khảo

  1. ^ Ngụy thư (Wei Shu 《魏书·释老志》): "世祖初继位,亦遵太祖、太宗之业,每引高德沙门,与共谈论。...... 及得寇谦之道,帝以清净无为,有仙化之证,遂信行其术。时司徒崔浩,博学多闻,帝每访以大事。浩奉谦之道,尤不信佛,与帝言,数加非毁,常谓虚诞,为世费害,帝以其辩博,颇信之。"
  2. ^ 《续高僧传》(卷二十三):"数百年来官私佛寺,扫地并尽!融刮圣容,焚烧经典。禹贡八州见成寺庙,出四十千,并赐王公,充为第宅;三方释子,减三百万,皆复为民,还为编户。三宝福财,其赀无数,簿录入官,登即赏费,分散荡尽。"
  3. ^ Cựu đường thư 《旧唐书·武宗纪》(卷一八上):"还俗僧尼二十六万五百人,收充两税户""收奴婢为两税户十五万人"。
  4. ^ s:zh:資治通鑑:第292卷.
  5. ^ New History of the Five Dynasties, vol. 12 [1]. Lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007 tại Wayback Machine
  6. ^ Old History of the Five Dynasties, vol. 5 [2]. Lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2006 tại Wayback Machine
  7. ^ four imperial persecutions of Buddhism in China[liên kết hỏng]
  8. ^ McKnight, Brian E. Law and Order in Sung China. Cambridge University Press, 1993 (ISBN 0-521-41121-1)
  9. ^ "Song Dynasty Renaissance 960–1279". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2006.
  10. ^ "Song Dynasty Renaissance 960–1279". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2006.