Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam
Bản mẫu:Đội tuyển bóng đá quốc gia 2
Đội tuyển bóng đá nam quốc gia Việt Nam đại diện Việt Nam tại các giải đấu bóng đá quốc tế và do Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) quản lý. Trong khi Việt Nam bị chia thành hai vùng tập kết quân sự ở miền Bắc và miền Nam từ năm 1954, hai đội tuyển quốc gia đã tồn tại song song và được điều hành bởi các cơ quan quản lý riêng biệt, với Hội Bóng đá Việt Nam ở miền Bắc và Hội Túc cầu giáo ở miền Nam. Sau khi hai miền thống nhất vào năm 1976, Liên đoàn bóng đá Việt Nam được thành lập dựa trên tiền thân của Hội bóng đá Việt Nam.[1][2] Đội tuyển bóng đá nam thuộc biên chế của liên đoàn cũng dần tham gia các trận đấu và giải đấu quốc tế trong những năm sau đó.
Lịch sử
Sau khi hai miền Nam - Bắc Việt Nam tái thống nhất về mặt nhà nước thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau cuộc Tổng tuyển cử năm 1976, thực hiện nguyên tắc kế thừa chính phủ, AFC và FIFA công nhận đội tuyển quốc gia Việt Nam từ năm 1976 thực hiện kế thừa các quyền, nghĩa vụ và thành tích của Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đội tuyển Việt Nam Cộng hòa truớc đây.[3] Đội chính thức tái hòa nhập bóng đá quốc tế từ kỳ SEA Games năm 1991.[4]
Vào ngày 13 tháng 9 năm 1983, Việt Nam thi đấu trận bóng quốc tế đầu tiên kể từ khi thống nhất, đối đầu với đội tuyển Campuchia tại sân Hàng Đẫy, Hà Nội. Trận đấu có sự hiện diện của Chủ tịch FIFA João Havelange, khi đó đang thăm Việt Nam nhằm thúc đẩy sự phát triển của bóng đá trong nước. Sau trận này, đội không tham dự thêm bất kỳ trận đấu quốc tế chính thức nào trong suốt tám năm tiếp theo.[5] Năm 1989, khi Việt Nam bắt đầu công cuộc cải cách Đổi Mới mang tính cách mạng, một liên đoàn bóng đá mới được thành lập. Sau ba tháng chuẩn bị, tháng 8 năm 1989, Đại hội lần thứ nhất của liên đoàn bóng đá mới đã diễn ra tại Hà Nội, tuyên bố thành lập Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF). Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Ngọc Chữ được bầu làm chủ tịch VFF.[6]
Thời đổi mới và tái phát triển (1991–2009)
Việt Nam tham gia trở lại các giải đấu quốc tế kể từ SEA Games 1991 tại Manila, Philippines.[7] Việt Nam tham dự vòng loại FIFA World Cup lần đầu tiên với tư cách là một quốc gia thống nhất vào chiến dịch World Cup 1994. Đội vào thời điểm đó thất bại ở hai giải đấu năm 1994 và 1998 với chỉ một chiến thắng.
Ở khu vực Đông Nam Á, sau hai lần bị loại từ vòng bảng, vào năm 1995, chiến thắng trước Myanmar tại bán kết SEA Games được coi là đã tạo ra bước ngoặt lịch sử, thay đổi vị thế bóng đá Việt Nam tại khu vực và được báo chí coi là "dấu mốc", "lịch sử bóng đá Việt Nam sang trang".[8][9] Từ năm 1996, Việt Nam là thành viên chính thức của AFF. Đội tham gia kỳ Tiger Cup đầu tiên và kết thúc ở vị trí thứ ba, sau đó đăng cai Tiger Cup lần thứ hai vào năm 1998, giải đấu mà họ thua 0-1 trước Singapore trong trận chung kết. Từ năm 2000 đến 2007, Việt Nam đều thất bại trong việc giành ngôi vô địch Đông Nam Á khi để thua ở bán kết hoặc bị loại ở vòng bảng. Cũng vào năm 1996, Việt Nam được báo chí quốc tế chú ý khi đã mời Juventus FC của Ý - đội mới giành được chức vô địch UEFA Champions League 1995–96 - sang thi đấu trong một trận giao hữu tại Hà Nội.[10]
Năm 1999, Việt Nam là chủ nhà của Dunhill Cup, một giải đấu giao hữu không chính thức. Vì chỉ là một giải đấu giao hữu không nằm trong lịch FIFA, một số đội tuyển quốc gia đã quyết định cử đội dự bị tham dự. Trong giải đấu này, Việt Nam đã có chiến thắng 1-0 trước Nga và thủ hòa Iran 2-2, bên cạnh chiến thắng 1-0 trước Singapore; để đi tiếp với ngôi nhất bảng. Đội tuyển sau đó bị loại ở bán kết sau thất bại 1–4 trước Trung Quốc.
Tại Vòng loại AFC Asian Cup 2004, Việt Nam thắng 1-0 trước đội giành hạng tư FIFA World Cup 2002 Hàn Quốc tại Muscat.[11]
Việt Nam đăng cai AFC Asian Cup 2007 cùng với Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Vòng bảng, Việt Nam đánh bại Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất 2-0, hòa 1-1 với một đội bóng vùng Vịnh khác là Qatar, trước khi để thua các nhà Đương kim vô địch Nhật Bản 1-4. Với 4 điểm giành được, Việt Nam trở thành đội đồng chủ nhà và là đội Đông Nam Á duy nhất lọt vào tứ kết, nơi đội để thua nhà vô địch năm đó là Iraq với tỷ số 0-2.
Việt Nam giành chức vô địch AFF Cup đầu tiên vào năm 2008 sau chiến thắng chung cuộc 3-2 trước Thái Lan, danh hiệu quốc tế đầu tiên của đội kể từ khi tái hội nhập bóng đá toàn cầu,[12] dưới sự dẫn dắt của Henrique Calisto. Cuối năm 2011, Việt Nam tăng 35 bậc, xếp thứ 99, trở lại top 100 FIFA sau bảy năm và dẫn đầu Đông Nam Á lần đầu tiên trên bảng xếp hạng FIFA.[13]
Thời suy thoái (2009–2014)
Giai đoạn từ năm 2009 đến 2014 chứng kiến sự đi xuống về thành tích của Việt Nam. Đội đã tham dự các chiến dịch vòng loại World Cup 2010, 2014, cùng với vòng loại Asian Cup các năm 2011 và 2015, và đều bị loại. Đội thua chung cuộc 0–6 trước UAE ở vòng loại đầu tiên của World Cup 2010. Tại vòng loại World Cup 2014, Việt Nam chỉ có thể đánh bại Macau ở vòng đầu tiên, trước khi dừng bước trước Qatar ở vòng thứ hai. Ở vòng loại Asian Cup 2011, đội xếp trên đội cuối bảng Liban, và xếp sau Syria và Trung Quốc. Còn ở vòng loại Asian Cup 2015, Việt Nam thua 5 trong tổng cộng 6 trận và xếp cuối trong bảng đấu gồm UAE, Uzbekistan và Hồng Kông.
Việt Nam cũng sa sút ở giải đấu khu vực. Đội đã thua Malaysia, đội sau đó trở thành nhà vô địch, trong trận bán kết AFF Cup 2010. Việt Nam bị loại ở vòng bảng tại kỳ AFF Cup tiếp theo vào năm 2012 khi có được trận hòa trước Myanmar, còn lại thua Thái Lan và Philippines.
Thời tái thiết (2014–2017)
Việt Nam chứng kiến những thay đổi dưới thời huấn luyện viên người Nhật Bản Toshiya Miura, người dẫn dắt đội tuyển từ năm 2014 đến năm 2016. Ở AFF Cup 2014, đội vượt qua vòng bảng với ngôi đầu, sau đó không thể tiến vào trận chung kết khi thua Malaysia sau hai lượt trận bán kết với tổng tỷ số 4–5, trong đó có trận thua 2–4 tại sân nhà ở lượt về,[14] khi trước đó thắng 2–1 trên sân khách ở lượt đi.[15]
Tại vòng loại World Cup 2018, Việt Nam chung bảng với Thái Lan, Indonesia, Đài Bắc Trung Hoa và Iraq (Indonesia sau đó đã bị FIFA cấm tham dự). Đội tuyển dưới sự dẫn dắt của HLV Miura có trận hòa 1-1 trước Iraq trên sân nhà trong thế dẫn trước đến phút bù giờ cuối cùng.[16] Sau đó, các trận thua trước Thái Lan, bao gồm trận thua 0–1 trên sân khách[17] và 0–3 trên sân nhà[18] đã khiến đội bị chỉ trích. Miura bị VFF sa thải sau khi đội U-23 Việt Nam bị loại từ vòng bảng U-23 châu Á 2016 với ba trận toàn thua. Niềm hy vọng tái thiết lúc này được đặt vào huấn luyện viên nội Nguyễn Hữu Thắng.
Dưới sự dẫn dắt của Nguyễn Hữu Thắng, đội tuyển Việt Nam lần nữa lọt vào đến bán kết AFF Cup 2016 sau thành tích toàn thắng ở vòng bảng, sau đó chịu thất bại trước Indonesia với tổng tỷ số 3–4 sau hai lượt trận.[19][20] Tháng 8 năm 2017, việc đội U-22 bị loại ngay sau vòng bảng SEA Games 2017 khiến HLV Nguyễn Hữu Thắng từ chức.
Thất bại của lứa U-22 ở SEA Games năm đó khiến một bộ phận người hâm mộ mất hết niềm tin để cổ vũ cho các cấp đội tuyển.[21] Do một số cầu thủ U-22 khi ấy cũng là trụ cột của đội tuyển quốc gia, thất bại ở SEA Games đã ảnh hưởng đến tinh thần đội. Giữa lúc đó, huấn luyện viên tạm quyền Mai Đức Chung được bổ nhiệm dẫn dắt đội tuyển Việt Nam trong hai trận đấu ở Vòng loại thứ ba của Asian Cup 2019 với đội láng giềng Campuchia, và đã phần nào vực dậy tinh thần của đội khi vượt qua đối thủ này qua hai lượt trận (thắng 2–1 trên sân khách và 5–0 trên sân nhà).[22]
Thời huấn luyện viên Park Hang-seo (2017–2023)
Park Hang-seo, cựu trợ lý của Guus Hiddink tại FIFA World Cup 2002, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của Việt Nam vào ngày 11 tháng 10 năm 2017 sau nỗ lực đàm phán không thành với Sekizuka Takashi; trước đó VFF cũng đã cố gắng liên lạc với HLV người Mỹ Steve Sampson và không có kết quả.[23] Khi mới đến Việt Nam, Park Hang-seo bị một số người Việt Nam chào đón bằng sự hoài nghi, vì ông đang có sự nghiệp "khá lận đận" ở giải hạng Ba Hàn Quốc.[24]
Trận đấu đầu tiên của ông Park dưới chức danh huấn luyện viên đội tuyển Việt Nam là ở vòng loại Asian Cup 2019, khi Việt Nam cầm hòa Afghanistan không bàn thắng trên sân nhà vào ngày 14 tháng 11 năm 2017, qua đó giúp đội vượt qua Vòng loại AFC Asian Cup 2019 để có lần đầu tiên tham dự giải đấu kể từ năm 2007.[25] Park bị dư luận chỉ trích vì màn trình diễn kém thuyết phục của toàn đội, sau khi nắm đội được một tuần.[26] Thái độ của một số người hâm mộ thay đổi sau những thành tích của đội tuyển U-23 Việt Nam do Park dẫn dắt khi đội lần lượt giành ngôi Á quân giải U-23 châu Á và sau đó đạt vị trí hạng tư Asiad 2018.[27] Cùng với nòng cốt là các cầu thủ U-23 vừa thi đấu ở các giải trẻ châu lục, Park đưa đội tuyển Việt Nam đến với chức vô địch AFF Cup 2018 sau chiến thắng chung cuộc 3-2 trước Malaysia ở chung kết, giúp Việt Nam có lần thứ hai đăng quang giải đấu lớn nhất khu vực sau 10 năm. Đội thất bại trước Thái Lan trong hai kỳ AFF Cup sau đó, lần lượt ở bán kết và chung kết.
Việt Nam tham dự AFC Asian Cup 2019 với đội hình trẻ nhất giải; phần lớn gồm những cầu thủ thuộc lứa U-23 vừa vô địch AFF Cup trước đó. Được xếp vào bảng D cùng Iran, Iraq và Yemen, Việt Nam đã thua Iraq 2-3 và Iran 0-2, thắng Yemen 2-0 và đứng thứ ba bảng D, lọt vào Vòng 1/8 với tư cách là một trong 4 đội thứ 3 có thành tích tốt nhất. Sau đó, đội đánh bại đội nhất bảng A là Jordan trong loạt sút luân lưu sau khi hòa 1-1 trong thời gian thi đấu chính thức, qua đó có lần thứ hai lọt vào tứ kết Asian Cup.[28] Trong trận tứ kết, Việt Nam gặp Nhật Bản và thua với tỷ số 0-1. Những kết quả này giúp Việt Nam bứt phá trên bảng xếp hạng FIFA, khi đội lọt vào top 100 và duy trì được vị trí này xuyên suốt triều đại của Park.
Tại Vòng loại thứ hai World Cup 2022 khu vực châu Á, Việt Nam rơi vào bảng G cùng với ba đối thủ Đông Nam Á khác là Thái Lan, Malaysia và Indonesia bên cạnh UAE. Đội trải qua chiến dịch vòng loại World Cup, với số điểm đạt được cao nhất cho đến lúc đó, khi kết thúc vòng loại thứ hai với 17 điểm, đứng thứ 2 sau UAE (18 điểm) và lần đầu tiên giành vé vào Vòng loại thứ ba, và được đặc cách vượt qua vòng loại AFC Asian Cup 2023 tại Qatar với tư cách là một trong năm đội nhì bảng có thành tích tốt nhất.[29][30]
Tại Vòng loại thứ ba World Cup 2022 khu vực châu Á, Việt Nam nằm ở bảng B cùng với Nhật Bản, Úc, Ả Rập Xê Út, Trung Quốc và Oman. Trước những đối thủ này, đội kết thúc vòng ba với 1 trận thắng (trước Trung Quốc), 1 trận hòa (trước Nhật Bản) và thua 8 trận, giành được 4 điểm và đứng cuối bảng.
Sau khi cùng Việt Nam giành ngôi Á quân AFF Cup 2022, Park Hang-seo đã tuyên bố chia tay đội tuyển Việt Nam sau năm năm gắn bó.
Thời huấn luyện viên Philippe Troussier (2023–2024)
Ngày 27 tháng 2 năm 2023, Philippe Troussier - người từng dẫn dắt đội tuyển Nhật Bản vô địch Asian Cup 2000 - chính thức được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của đội tuyển Việt Nam với tham vọng giành vé dự World Cup 2026. Hợp đồng giữa nhà cầm quân người Pháp với VFF có thời hạn gần ba năm rưỡi, từ ngày 1 tháng 3 năm 2023 tới 1 tháng 7 năm 2026.[31] Lực lượng của đội tuyển dưới thời Troussier có sự chuyển giao với những cầu thủ thuộc lứa U-23 vừa cùng ông giành huy chương đồng SEA Games 2023. Đội khởi đầu quá trình chuẩn bị cho vòng loại World Cup 2026 và Asian Cup 2023 bằng sáu trận giao hữu với các đối thủ có trình độ tăng dần trong vòng bốn tháng và kết thúc với 3 thắng và 3 thua, trong đó có trận thua chủ nhà Hàn Quốc 0–6 ở trận giao hữu cuối cùng (cân bằng kỷ lục trận thua đậm nhất của đội tuyển).[32]
Ở vòng loại World Cup 2026, Việt Nam được xếp vào bảng F cùng với Iraq, Philippines và Indonesia. Đội khởi đầu chiến dịch vòng loại bằng chiến thắng 2–0 trước Philippines trên sân khách, sau đó để thua Iraq 0–1 trên sân nhà trong một thế trận không có cú sút nào, trước khi nhận bàn thua phút bù giờ cuối cùng.[33]
Việt Nam tham dự Asian Cup 2023 trong bối cảnh sứt mẻ lực lượng với chín trụ cột dính chấn thương trước thềm giải đấu. Rơi vào bảng đấu có Nhật Bản, Iraq và Indonesia, đội có trận mở màn thua Nhật Bản 2–4 khi có thời điểm dẫn trước 2–1, sau đó, thất bại 0–1 trước đối thủ cạnh tranh trực tiếp Indonesia và bị loại từ vòng bảng, đánh dấu lần đầu tiên để thua đội bóng xứ vạn đảo sau hơn 7 năm bất bại. Ở trận cuối cùng gặp Iraq, Việt Nam dẫn trước đối thủ 1–0 sau hiệp một, sau đó, rơi vào thế thiếu người do Khuất Văn Khang bị thẻ đỏ trước giờ nghỉ, và thua ngược 2–3, qua đó chia tay giải đấu với ba trận toàn thua. Sau giải đấu này, đội lần đầu tiên bị đánh bật khỏi top 100 bảng xếp hạng FIFA kể từ năm 2018.
Sau "thất bại" của Việt Nam ở Asian Cup cùng với lối chơi "thiếu thuyết phục" trước đó của đội ở vòng loại World Cup, làn sóng chỉ trích tăng lên với Troussier và có những nghi vấn được đặt ra về năng lực cầm quân của ông, và có một số luồng ý kiến cho rằng nên sa thải vị huấn luyện viên này. Troussier được VFF tín nhiệm để dẫn dắt đội tuyển trong giai đoạn tiếp theo của vòng loại thứ hai World Cup 2026, với hai trận đấu mà Việt Nam sẽ tái ngộ Indonesia.[34][35] Đội của Troussier thất bại toàn diện trong cả hai lượt trận trước Tim Garuda, với các trận thua 0–1 ở lượt đi và 0–3 ở lượt về ngay trên sân Mỹ Đình - đánh dấu lần đầu tiên đội để thua Indonesia trên sân nhà sau 20 năm. Hai trận thua liên tiếp này khiến Việt Nam gần như sớm dừng chân ở vòng loại World Cup, trong khi trên lý thuyết họ vẫn còn hai lượt trận nữa.[36]
Trước sức ép từ giới truyền thông và người hâm mộ (trong trận lượt về với Indonesia ở Mỹ Đình, một số cổ động viên giăng biểu ngữ để kêu gọi huấn luyện viên Troussier phải từ chức sớm),[37] VFF quyết định chấm dứt hợp đồng với Troussier hai giờ sau trận thua Indonesia 0–3.[38] Với bốn chiến thắng qua 14 trận, Troussier là huấn luyện viên có tỷ lệ thắng thấp nhất trong các huấn luyện viên ngoại từng dẫn dắt tuyển Việt Nam (28,57%). Những thất bại liên tiếp trong khoảng thời gian này khiến Việt Nam trở thành đội sa sút nhất trên bảng xếp hạng FIFA, khi tụt 20 bậc từ vị trí 95 xuống 115.[39][40]
Sự tái thiết của Kim Sang-sik (2024–)
Ngày 6 tháng 5 năm 2024, một tháng sau khi chia tay Philippe Troussier, huấn luyện viện người Hàn Quốc Kim Sang-sik được chọn làm tân thuyền trưởng của Việt Nam với bản hợp đồng hai năm đến tháng 3 năm 2026.[41][42] Trong trận ra mắt của mình, Kim giúp Việt Nam lội ngược dòng thắng Philippines 3–2 trên sân nhà để nhen nhóm hi vọng đi tiếp ở vòng loại World Cup, khi đội còn kém Indonesia 1 điểm. Với việc Indonesia đánh bại Philippines 2–0 trong trận đấu diễn ra sớm hơn, Việt Nam phải dừng bước ngay trước lượt trận cuối gặp chủ nhà Iraq, nơi họ để thua 1–3. Quãng thời gian sau đó, Việt Nam thua Nga 0–3 và Thái Lan 1–2 tại giải giao hữu LPBank Cup, sau đó là trận hòa 1–1 với Ấn Độ.
Đội của Kim bước vào Giải vô địch ASEAN 2024 với sự ngờ vực từ người hâm mộ sau khi trải qua một giai đoạn thi đấu không thành công. Giải đấu chứng kiến Việt Nam có sự góp mặt của tiền đạo gốc Brasil Nguyễn Xuân Son, cầu thủ nhập tịch đầu tiên thi đấu cho Việt Nam ở một giải đấu chính thức. Với sự tỏa sáng của Xuân Son và dàn cầu thủ từ thời Park Hang-seo, Việt Nam lần nữa lọt vào chung kết giải khu vực và có hai chiến thắng trước kình địch Thái Lan ở cả hai lượt trận để có lần thứ ba trong lịch sử lên ngôi vô địch giải đấu.[43][44][45][46][47]
Việt Nam rơi vào bảng F vòng loại thứ ba Asian Cup 2027 cùng với Nepal, Lào và Malaysia – đối thủ được dự đoán sẽ cùng Việt Nam cạnh tranh vị trí đầu bảng để giành quyền đi tiếp. Đội mở màn chiến dịch với trận thắng 5-0 trước Lào tại sân Gò Đậu. Trong bối cảnh sứt mẻ lực lượng khi vắng tiền đạo Nguyễn Xuân Son vì chấn thương cùng với làn sóng nhập tịch bên phía Malaysia, đội đã để thua Harimau Malaya lần đầu tiên sau 11 năm, với tỷ số 0–4 trên sân khách Bukit Jalil ở lượt trận thứ hai và đứng trước nguy cơ không thể vượt qua vòng loại. Việt Nam lật ngược tình thế vì Malaysia vướng phải bê bối nhập tịch với việc sử dụng bảy cầu thủ nhập tịch không hợp lệ, khiến họ bị AFC xử thua 0–3 trong hai trận gặp Nepal và Việt Nam, sau gần 6 tháng điều tra.[48]
Khi quá trình điều tra vụ bế bối nhập tịch của Malaysia vẫn chưa có kết quả, Việt Nam đã gượng dậy bằng hai trận thắng trước Nepal lần lượt với tỷ số 3–1 và 1–0. Trong chiến thắng 2–0 trước Lào ở trận đấu tiếp theo, Nguyễn Xuân Son vào sân sau 11 tháng vắng mặt do chấn thương và ghi bàn trên chấm phạt đến, giúp tuyển Việt Nam mở tỷ số. Kết quả này đã giúp tuyển Việt Nam kết thúc năm 2025 với sự thăng tiến trên Bảng xếp hạng FIFA, vươn từ vị trí thứ 110 lên 107 thế giới, đồng thời dự kiến sẽ tăng thêm nữa sau khi AFC xử thua Malaysia do bê bối nhập tịch vào ngày 17 tháng 3 năm 2026. Đồng thời, phán quyết này giúp cho đội tuyển gián tiếp lọt vào vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á 2027, đánh dấu lần thứ ba liên tiếp Việt Nam lọt vào vòng chung kết giải đấu này.[49] Kết quả này khép lại năm 2025, là năm đầu tiên mà Việt Nam toàn thắng tất cả các trận đấu trong một năm dương lịch (thắng 8/8 trận), kể từ khi hội nhập lại với bóng đá quốc tế. Hai tuần sau, Việt Nam đánh bại Malaysia 3–1 trong trận đấu cuối cùng trên sân nhà và toàn thắng cả sáu trận trong giai đoạn vòng loại.[50] Vào ngày 1 tháng 4 nắm 2026, Việt Nam tăng thêm 9 bậc, vươn lên hạng 99 trên bảng xếp hạng FIFA, và lần đầu quay trở lại trên hạng 100 kể từ năm 2023.[51]
Tại vòng bảng của Giải vô địch bóng đá ASEAN 2026, trận hòa 0–0 trước Singapore trên Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình đã chấm dứt chuỗi trận toàn thắng của đội tuyển tại con số 15.
Văn hóa
Trang phục thi đấu
Màu áo đấu truyền thống của Việt Nam là màu đỏ – tượng trưng cho màu quốc kỳ, còn màu áo phụ của đội là màu trắng (trừ các năm 1993, 1994, 1995 và 1998 là màu vàng).
Trong giai đoạn 2008–2010 dưới thời huấn luyện viên Henrique Calisto, đội tuyển Việt Nam cũng như đội tuyển U-23 thường sử dụng màu trắng như màu áo chính do niềm tin vào sự may mắn, như tại hai lượt trận chung kết AFF Cup 2008, sáu trận đấu tại vòng loại Asian Cup 2011 và ở kỳ SEA Games 2009.[52][53][54]
| Giai đoạn | Hãng cung cấp trang phục |
|---|---|
| 1995-2004 | Bản mẫu:Country data GER Adidas |
| 2006-2008 | |
| 2009-2014 | Bản mẫu:Country data USA Nike[55] |
| 2014-2023 | Bản mẫu:Country data THA Grand Sport[56] |
| 2024- |
| Trang phục sân nhà | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
Bản mẫu:Áo bóng đá |
|
Bản mẫu:Áo bóng đá | Bản mẫu:Áo bóng đá |
|
Bản mẫu:Áo bóng đá |
| Bản mẫu:Áo bóng đá | Bản mẫu:Áo bóng đá | Bản mẫu:Áo bóng đá | Bản mẫu:Áo bóng đá |
|
|
|
|
| Áo đấu sân khách | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
Bản mẫu:Áo bóng đá |
|
|
|
|
|
| |
| Bản mẫu:Áo bóng đá | Bản mẫu:Áo bóng đá |
|
|
|
|
|
||
| Áo đấu thủ môn | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:Áo bóng đá |
|
|
Bản mẫu:Áo bóng đá |
|
|
|
|
Bản mẫu:Áo bóng đá |
|
|
|||
Biểu tượng
Khác với hầu hết các đội tuyển nam quốc gia khác thường in biểu tượng của Liên đoàn/Hiệp hội bóng đá hoặc Quốc huy của quốc gia đó lên áo đấu, quốc kỳ cờ đỏ sao vàng thường được in trên ngực trái áo đấu của đội tuyển Việt Nam (dù trong những năm 1998-1999, họ đã sử dụng logo (cũ) của VFF trên áo đấu).[58] Trên thế giới ngoài Việt Nam ra có một vài đội bóng làm điều tương tự như Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên hay Thổ Nhĩ Kỳ.
Năm 2016, lấy ý tưởng từ một biệt danh không chính thức mà truyền thông đặt là "Rồng vàng",[lower-alpha 1] biểu tượng "Rồng nhả Ngọc" với hình viên ngọc cách điệu thành quả bóng đã được thiết kế và được VFF sử dụng để lấy ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện huy hiệu chính thức cho đội tuyển quốc gia. Thiết kế nhận phải những phản hồi tiêu cực từ giới truyền thông và người hâm mộ;[59][60] hình ảnh con rồng trong huy hiệu cũng bị cho là "giống rồng của Bảy viên ngọc rồng"[lower-alpha 2]. Trong khi VFF thông qua biểu tượng con rồng nói trên làm biểu tượng chính thức cho đội tuyển vào tháng 12 năm 2017,[61] nó không được sử dụng chính thức. Hình quốc kỳ vẫn được in trên áo đấu, còn logo của VFF được in trên đồ dùng khác của đội tuyển (cặp, túi, mũ, khẩu trang,...) và được sử dụng trên các phương tiện truyền thông cho đội tuyển (banner họp báo, biển quảng cáo, mạng xã hội, bảng điện tử ở sân vận động, băng đội trưởng trong các trận giao hữu...).[62]
Biệt danh
Biệt danh chính thức cho đội mà VFF sử dụng là Những Chiến Binh Sao Vàng (tiếng Anh: Golden Star Warriors), xây dựng dựa theo hình ảnh ngôi sao vàng trên Quốc kỳ.[63][64][65] Trước đó, đội bóng còn có biệt danh "Những chàng trai áo đỏ"[66]
Tài trợ
Tài trợ cho đội tuyển có Acecook,[67] Yanmar,[68] Honda,[69] Sony,[70] Bia Saigon,[71] Coca-Cola,[72] Vinamilk,[73] Kao,[74] Herbalife Nutrition,[75] TNI Corporation[76] và một số nhà tài trợ phụ khác.

Cổ động viên
Sau khi đội giành chiến thắng trong một số trận đấu, đường phố bị áp đảo bởi những đám đông người Việt Nam hát vang các bài hát mang tính dân tộc.[77][78]
Sân nhà
Sân nhà chính của đội trước năm 2003 là sân vận động Hàng Đẫy, sau đó chuyển sang Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình nằm ở phường Từ Liêm, phía tây thủ đô Hà Nội, được xây dựng để phục vụ cho SEA Games 22. Đội cũng thi đấu ở sân Thống Nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh trong một số trận giao hữu hay vòng loại. Đôi khi, đội tuyển Việt Nam cũng chọn sân ở những địa phương khác nhau để đá giao hữu, như sân Lạch Tray ở Hải Phòng, sân Thiên Trường ở Ninh Bình và sân Gò Đậu ở Thủ Dầu Một, ngoại ô Thành phố Hồ Chí Minh.
Ban huấn luyện

| Vị trí | Họ tên |
|---|---|
| Huấn luyện viên trưởng | |
| Trợ lý huấn luyện viên | |
| Bản mẫu:Country data VIE Lưu Danh Minh | |
| Bản mẫu:Country data VIE Đinh Hồng Vinh | |
| Huấn luyện viên thủ môn | |
| Huấn luyện viên thể lực | Bản mẫu:Country data FRA Cédric Roger |
| Bác sĩ | Bản mẫu:Country data VIE Trần Huy Thọ |
| Bản mẫu:Country data VIE Tuấn Nguyên Giáp | |
| Phiên dịch viên |
Bản mẫu:Country data VIE Đỗ Anh Văn |
| Chuyên gia phân tích trận đấu | Bản mẫu:Country data VIE Nguyễn Anh Tuấn |
| Săn sóc viên | Bản mẫu:Country data VIE Đinh Kim Tuấn |
| Giám đốc kĩ thuật | Bản mẫu:Country data JAP Koshida Takeshi |
| Trưởng đoàn | Bản mẫu:Country data VIE Nguyễn Anh Tuấn |
Cầu thủ
Danh sách 25 các cầu thủ sau đây được triệu tập cho Giải vô địch bóng đá ASEAN 2026.[79]
Số lần ra sân và số bàn thắng được cập nhật đến ngày 3 tháng 8 năm 2026, sau trận đấu với Bản mẫu:Fb tại Giải vô địch bóng đá ASEAN 2026.
Bản mẫu:Nat fs g start Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g break Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g break Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g break Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g player Bản mẫu:Nat fs g end
Triệu tập gần đây
Những cầu thủ sau đây đã được triệu tập vào đội tuyển trong vòng 12 tháng qua.
Bản mẫu:Nat fs r start Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player PRE Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs break Bản mẫu:Nat fs r player INJ Bản mẫu:Nat fs r player INJ Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs break Bản mẫu:Nat fs r player INJ Bản mẫu:Nat fs r player INJ Bản mẫu:Nat fs r player PRE Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs break Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player PRE Bản mẫu:Nat fs r player PRE Bản mẫu:Nat fs r player PRE Bản mẫu:Nat fs break
- Notes
INJ Cầu thủ rút khỏi đội vì chấn thương.
PRE Đội hình sơ bộ.
RET Cầu thủ chia tay bóng đá quốc tế.
OTH Cầu thủ rút khỏi đội vì những lý do khác.
Lịch đấu
2025
Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Football box collapsible
2026
Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Footballbox collapsible Bản mẫu:Footballbox collapsible Bản mẫu:Footballbox collapsible
2027
Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Football box collapsible Bản mẫu:Football box collapsible
Giải đấu
| Vòng chung kết | Vòng loại | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | St | T | *H | B | Bt | Bb | St | T | H | B | Bt | Bb | |
| Bản mẫu:Country data USA 1994 | Không vượt qua vòng loại | 8 | 1 | 0 | 7 | 4 | 18 | |||||||
| Bản mẫu:Country data FRA 1998 | 6 | 0 | 0 | 6 | 2 | 21 | ||||||||
| 6 | 3 | 1 | 2 | 9 | 9 | |||||||||
| Bản mẫu:Country data GER 2006 | 6 | 1 | 1 | 4 | 5 | 9 | ||||||||
| Bản mẫu:Country data RSA 2010 | 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 6 | ||||||||
| Bản mẫu:Country data BRA 2014 | 4 | 3 | 0 | 1 | 15 | 5 | ||||||||
| Bản mẫu:Country data RUS 2018 | 6 | 2 | 1 | 3 | 7 | 8 | ||||||||
| Bản mẫu:Country data QAT 2022 | 18 | 6 | 3 | 9 | 21 | 24 | ||||||||
| Bản mẫu:Country data CAN Bản mẫu:Country data MEX Bản mẫu:Country data USA 2026 | 6 | 2 | 0 | 4 | 6 | 10 | ||||||||
| Bản mẫu:Country data MAR Bản mẫu:Country data POR Bản mẫu:Country data ESP 2030 | Chưa xác định | Chưa xác định | ||||||||||||
| Bản mẫu:Country data KSA 2034 | ||||||||||||||
| Tổng | 62 | 17 | 6 | 37 | 65 | 105 | ||||||||
| Vòng chung kết | Vòng loại | ||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | St | T | *H | B | Bt | Bb | Đội hình | St | T | *H | B | Bt | Bb | |
| Bản mẫu:Country data UAE 1996 | Không vượt qua vòng loại | 3 | 2 | 0 | 1 | 13 | 5 | ||||||||
| Bản mẫu:Country data LIB 2000 | 3 | 2 | 0 | 1 | 14 | 2 | |||||||||
| 6 | 3 | 0 | 3 | 8 | 13 | ||||||||||
| Bản mẫu:Country data IDN Bản mẫu:Country data MAS Bản mẫu:Country data THA Bản mẫu:Country data VIE 2007 | Tứ kết | 4 | 1 | 1 | 2 | 4 | 7 | Đội hình | Được đặc cách vì là chủ nhà của giải đấu | ||||||
| Bản mẫu:Country data QAT 2011 | Không vượt qua vòng loại | 6 | 1 | 2 | 3 | 6 | 11 | ||||||||
| Bản mẫu:Country data AUS 2015 | 6 | 1 | 0 | 5 | 5 | 15 | |||||||||
| Bản mẫu:Country data UAE 2019 | Tứ kết | 5 | 1 | 1 | 3 | 5 | 7 | Đội hình | 6 | 2 | 4 | 0 | 9 | 3 | |
| Bản mẫu:Country data Qatar 2023 | Vòng bảng | 3 | 0 | 0 | 3 | 4 | 8 | Đội hình | 8 | 5 | 2 | 1 | 13 | 5 | |
| Bản mẫu:Country data Saudi Arabia 2027 | Vượt qua vòng loại | 6 | 6 | 0 | 0 | 17 | 2 | ||||||||
| Tổng | 12 | 2 | 2 | 8 | 13 | 22 | — | 44 | 22 | 8 | 14 | 85 | 56 | ||
| Bóng đá tại Đại hội Thể thao châu Á | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | ST | T | *H | B | BT | BB | |
| Bản mẫu:Country data THA 1998 | Vòng bảng | 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 6 | |
| Tổng | 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 6 | ||
Việt Nam tham dự Tiger Cup ngay trong lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1996. Đội khởi đầu bằng trận thắng 3–1 trước Campuchia tại vòng bảng, trước khi bị Lào cầm hòa 1–1 sau đó. Trận đấu gặp Lào đã gây thất vọng đến mức bị nghi vấn "bán độ" khi Nguyễn Hữu Thắng nhận thẻ đỏ trực tiếp; huấn luyện viên Karl-Heinz Weigang đòi đuổi một nhóm năm cầu thủ có "vấn đề" về nước.[80][81]
Năm 2012, học hỏi từ thành công của bóng đá Malaysia, VFF đã dùng huấn luyện viên nội Phan Thanh Hùng để chuẩn bị cho AFF Cup vào cuối năm. Trong bối cảnh một loạt các câu lạc bộ V-League đồng loạt giải thể, Việt Nam kết thúc giải với thành tích tệ nhất trong các lần tham dự giải đấu của mình: bị loại từ vòng bảng với một điểm kiếm được sau ba trận (hòa Bản mẫu:Nft 1–1, còn lại thua Philippines 0–1 và Bản mẫu:Nft 1–3). Đội chỉ hơn Bản mẫu:Nft về hiệu số bàn thắng bại nên tránh được vị trí chót bảng, qua đó không phải thi đấu vòng loại giải lần sau.[82]
Bước vào AFF Cup 2018, HLV Park Hang-seo tin dùng những cầu thủ U-23 đã đoạt huy chương bạc U-23 châu Á 2018 và hạng tư ASIAD 2018 như Nguyễn Công Phượng, Đoàn Văn Hậu, Nguyễn Quang Hải, Phan Văn Đức, và Hà Đức Chinh cùng các cựu binh như Nguyễn Văn Quyết, Nguyễn Anh Đức và Nguyễn Trọng Hoàng.[83] Tại AFF Cup 2020 tổ chức tập trung tại Singapore, với việc vừa trải qua sáu trận đấu ở vòng loại thứ ba World Cup 2022 trước những đội tuyển châu Á, đoàn quân của HLV Park Hang-seo được kỳ vọng sẽ bảo vệ ngôi vô địch của khu vực. Đội giành được 10 điểm giống Bản mẫu:Nft và xếp nhì bảng vì kém hiệu số bàn thắng bại. Sau đó tại vòng bán kết, Việt Nam đã bị Bản mẫu:Nft – đội sau đó đã giành ngôi vô địch – hạ gục với tổng tỷ số 0-2. Thất bại này đã đánh dấu lần thứ tám đội tuyển Việt Nam không thể vượt qua được vòng bán kết AFF Cup và trở thành đội bị loại ở bán kết nhiều nhất lịch sử giải đấu.[84]
Trước khi ASEAN Cup 2024 khởi tranh, Việt Nam thua 9 trên 11 trận trong năm 2024, kết quả khiến đội bị loại sớm ở Asian Cup 2023 và vòng loại World Cup 2026. Thầy trò HLV Kim Sang-sik khi đó chịu sức ép từ dư luận và giới truyền thông. Rơi vào bảng đấu có Lào, Indonesia, Philippines và Myanmar, Việt Nam thi đấu "khá chật vật" trong ba trận đầu tiên, trong đó có trận hòa 1-1 trước Philippines, và giữ được vị trí đầu bảng. Sự xuất hiện của tiền đạo nhập tịch Nguyễn Xuân Son ở các trận tiếp theo đã giúp Việt Nam thi đấu "thăng hoa". Đội thắng Myanmar 5-0 để đi tiếp với ngôi đầu bảng với 10 điểm, sau đó thắng Singapore trong cả hai lượt trận bán kết với tổng tỷ số 5-1 để một lần nữa lọt vào chung kết gặp Thái Lan. Đội đánh bại Thái Lan 2-1 trong trận lượt đi trên sân nhà Việt Trì nhờ cú đúp của Xuân Son để chấm dứt giai đoạn 27 năm không thắng Thái Lan trên sân nhà. Đến trận lượt về tại chảo lửa Rajamangala của đối thủ, Việt Nam tiếp tục dẫn trước ở phút thứ 8 nhờ pha ghi bàn của Phạm Tuấn Hải để nới rộng khoảng cách lên 3-1. Xuân Son dính chấn thương phải rời sân. Thái Lan xốc lại tinh thần và ghi liền hai bàn để dẫn ngược 2-1, qua đó cân bằng tỷ số 3-3.[85] Việt Nam được chơi hơn người khi cầu thủ Thái Lan Weerathep Pomphan bị truất quyền thi đấu khi nhận thẻ vàng thứ hai ở phút 73; và 10 phút sau, nỗ lực dứt điểm của Tuấn Hải đã khiến hậu vệ Thái Lan Pansa Hemviboon đá phản lưới nhà giúp Việt Nam dẫn 4-3. Thái Lan trong thế chân tường đã dồn toàn lực tấn công trong những phút còn lại, và các cầu thủ Việt Nam đã phòng ngự trước sức ép của đối phương, khi trận đấu được bù giờ đến 20 phút. Đến phút bù giờ cuối cùng của hiệp hai, tận dụng pha hãm thành thất bại của Thái Lan trong bối cảnh thủ môn đội bạn đã lao lên tham gia tấn công, tiền vệ mới vào sân thay người là Nguyễn Hai Long đã dứt điểm từ giữa sân đưa bóng lăn từ từ vào khung thành bỏ trống giúp Việt Nam thắng chung cuộc 5-3 trước Thái Lan để lần thứ ba lên ngôi vô địch Đông Nam Á.[86]
| Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | ST | T | *H | B | BT | BB | |
| Bản mẫu:Country data SIN 1996 | Hạng ba | 6 | 3 | 2 | 1 | 14 | 10 | |
| Bản mẫu:Country data VIE 1998 | Á quân | 5 | 3 | 1 | 1 | 8 | 2 | |
| Bản mẫu:Country data THA 2000 | Hạng tư | 6 | 3 | 1 | 2 | 14 | 6 | |
| Bản mẫu:Country data IDN Bản mẫu:Country data SIN 2002 | Hạng ba | 6 | 4 | 1 | 1 | 21 | 12 | |
| Bản mẫu:Country data MAS Bản mẫu:Country data VIE 2004 | Vòng bảng | 4 | 2 | 1 | 1 | 13 | 5 | |
| Bản mẫu:Country data SIN Bản mẫu:Country data THA 2007 | Bán kết | 5 | 1 | 3 | 1 | 10 | 3 | |
| Bản mẫu:Country data IDN Bản mẫu:Country data THA 2008 | Vô địch | 7 | 4 | 2 | 1 | 11 | 6 | |
| Bản mẫu:Country data IDN Bản mẫu:Country data VIE 2010 | Bán kết | 5 | 2 | 1 | 2 | 8 | 5 | |
| Bản mẫu:Country data MAS Bản mẫu:Country data THA 2012 | Vòng bảng | 3 | 0 | 1 | 2 | 2 | 5 | |
| Bản mẫu:Country data SIN Bản mẫu:Country data VIE 2014 | Bán kết | 5 | 3 | 1 | 1 | 12 | 8 | |
| Bản mẫu:Country data MYA Bản mẫu:Country data PHI 2016 | Bán kết | 5 | 3 | 1 | 1 | 8 | 6 | |
| Vô địch | 8 | 6 | 2 | 0 | 15 | 4 | ||
| Bản mẫu:Country data SIN 2020 | Bán kết | 6 | 3 | 2 | 1 | 9 | 2 | |
| Á quân | 8 | 4 | 3 | 1 | 16 | 3 | ||
| Vô địch | 8 | 7 | 1 | 0 | 21 | 6 | ||
| Chưa xác định | ||||||||
| Tổng | 87 | 48 | 23 | 16 | 182 | 83 | ||
SEA Games
Việt Nam tại SEA Games 1991 do Vũ Văn Tư và Nguyễn Kim Hằng dẫn dắt. Đội giành được một điểm, xếp cuối bảng và bị loại từ vòng bảng sau khi hòa Philippines, thua Bản mẫu:Nft và Malaysia. Lần tập trung dự SEA Games năm đó, do điều kiện ở Nhổn rất thiếu thốn nên sau một tuần, 11 cầu thủ phía Nam (thành viên Quảng Nam - Đà Nẵng, Hải Quan, Cảng Sài Gòn) đồng loạt "đào ngũ".[87]
| SEA Games | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | ST | T | *H | B | BT | BB | |
| Bản mẫu:Country data PHI 1991 | Vòng bảng | 3 | 0 | 1 | 2 | 3 | 5 | |
| Bản mẫu:Country data SIN 1993 | 3 | 1 | 0 | 2 | 1 | 3 | ||
| Bản mẫu:Country data THA 1995 | Bản mẫu:Silver medal | 6 | 4 | 0 | 2 | 10 | 8 | |
| Bản mẫu:Country data INA 1997 | Bản mẫu:Bronze medal | 6 | 3 | 1 | 2 | 9 | 6 | |
| Bản mẫu:Country data BRU 1999 | Bản mẫu:Silver medal | 6 | 4 | 1 | 1 | 14 | 2 | |
| Tổng | 24 | 12 | 3 | 9 | 37 | 24 | ||
| Cúp bóng đá Nhà vua Thái Lan (King's Cup) | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | VT | ST | T | *H | B | BT | BB |
| 1991 đến 2005 | Không lời mời | |||||||
| Bản mẫu:Country data THA 2006 | Á quân | 2/4 | 3 | 2 | 0 | 1 | 6 | 5 |
| 2007 đến 2018 | Không lời mời | |||||||
| Bản mẫu:Country data THA 2019 | Á quân | 2/4 | 2 | 1 | 1 | 0 | 2 | 1 |
| 2022 đến nay | Không lời mời | |||||||
| Tổng | 2 lần Á quân | 2/4 | 5 | 3 | 1 | 1 | 8 | 6 |
- Ghi chú
- *: Biểu thị các trận hòa chỉ ra các trận đấu vòng đấu loại trực tiếp được quyết định trên loạt sút luân lưu.
Thống kê đối đầu
- Cập nhật lần cuối ngày 3 tháng 8 năm 2026.[88]
Bản mẫu:Legend2 Bản mẫu:Legend2 Bản mẫu:Legend2
| Đội tuyển quốc gia | St | T | H | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:Fb | 3 | 1 | 2 | 0 | 3 | 1 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 5 |
| Bản mẫu:Fb | 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 5 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 1 | 0 | 0 | 5 | 3 |
| Bản mẫu:Fb | 3 | 2 | 1 | 0 | 7 | 0 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 4 |
| Bản mẫu:Fb | 11 | 11 | 0 | 0 | 48 | 7 |
| Bản mẫu:Fb | 10 | 1 | 0 | 9 | 9 | 30 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 0 | 1 | 0 | 1 | 1 |
| Bản mẫu:Fb | 4 | 3 | 1 | 0 | 11 | 4 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 |
| Bản mẫu:Fb | 2 | 2 | 0 | 0 | 20 | 0 |
| Bản mẫu:Fb | 7 | 4 | 2 | 1 | 12 | 7 |
| Bản mẫu:Fb | 4 | 2 | 1 | 1 | 7 | 5 |
| Bản mẫu:Fb | 32 | 10 | 11 | 11 | 38 | 36 |
| Bản mẫu:Fb | 2 | 0 | 1 | 1 | 2 | 4 |
| Bản mẫu:Fb | 7 | 0 | 1 | 6 | 6 | 14 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 1 | 0 | 0 | 3 | 0 |
| Bản mẫu:Fb | 6 | 0 | 1 | 5 | 4 | 12 |
| Bản mẫu:Fb | 4 | 0 | 4 | 0 | 3 | 3 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 1 | 0 | 0 | 2 | 1 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 0 | 0 | 1 | 1 | 2 |
| Bản mẫu:Fb | 8 | 1 | 4 | 3 | 7 | 10 |
| Bản mẫu:Fb | 7 | 1 | 0 | 6 | 2 | 23 |
| Bản mẫu:Fb | 2 | 1 | 0 | 1 | 2 | 3 |
| Bản mẫu:Fb | 16 | 15 | 1 | 0 | 66 | 4 |
| Bản mẫu:Fb | 4 | 1 | 2 | 1 | 4 | 4 |
| Bản mẫu:Fb | 2 | 2 | 0 | 0 | 13 | 1 |
| Bản mẫu:Fb | 25 | 17 | 3 | 5 | 40 | 21 |
| Bản mẫu:Fb | 2 | 1 | 0 | 1 | 4 | 3 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 |
| Bản mẫu:Fb | 3 | 3 | 0 | 0 | 8 | 1 |
| Bản mẫu:Fb | 13 | 10 | 2 | 1 | 44 | 9 |
| Bản mẫu:Fb | 4 | 4 | 0 | 0 | 11 | 1 |
| Bản mẫu:Fb | 4 | 0 | 0 | 4 | 1 | 12 |
| Bản mẫu:Fb | 2 | 1 | 0 | 1 | 3 | 3 |
| Bản mẫu:Fb | 16 | 12 | 2 | 2 | 33 | 14 |
| Bản mẫu:Fb | 6 | 2 | 1 | 3 | 5 | 14 |
| Bản mẫu:Fb | 2 | 1 | 0 | 1 | 1 | 3 |
| Bản mẫu:Fb | 4 | 0 | 0 | 4 | 1 | 13 |
| Bản mẫu:Fb | 24 | 10 | 10 | 4 | 28 | 16 |
| Bản mẫu:Fb | 3 | 1 | 2 | 0 | 5 | 4 |
| Bản mẫu:Fb | 4 | 2 | 1 | 1 | 3 | 1 |
| Bản mẫu:Fb | 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 8 |
| Bản mẫu:Fb | 31 | 5 | 9 | 17 | 27 | 53 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 1 | 0 | 0 | 7 | 0 |
| Bản mẫu:Fb | 6 | 1 | 0 | 5 | 4 | 12 |
| Bản mẫu:Fb | 7 | 2 | 0 | 5 | 6 | 16 |
| Bản mẫu:Fb | 3 | 0 | 0 | 3 | 1 | 8 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 1 | 0 | 0 | 2 | 0 |
| Bản mẫu:Fb | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 6 |
| 51 quốc gia | 309 | 136 | 63 | 110 | 509 | 407 |
Thống kê cầu thủ
Thi đấu nhiều nhất


- Những cầu thủ được in đậm vẫn đang thi đấu cho đội tuyển quốc gia.
| Thứ hạng | Cầu thủ | Số trận | Bàn thắng | Thời gian thi đấu |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Lê Công Vinh | 83 | 51 | 2004–2016 |
| Nguyễn Quang Hải | 83 | 15 | 2017–nay | |
| 2 | Quế Ngọc Hải | 80 | 6 | 2014–2024 |
| 3 | Phạm Thành Lương | 78 | 7 | 2008–2016 |
| 4 | Nguyễn Trọng Hoàng | 74 | 12 | 2009–2022 |
| 5 | Nguyễn Minh Phương | 73 | 11 | 2002–2010 |
| Đỗ Duy Mạnh | 73 | 2 | 2015–nay | |
| 7 | Nguyễn Văn Toàn | 68 | 8 | 2016–nay |
| 8 | Lê Huỳnh Đức | 67 | 27 | 1993–2004 |
| 9 | Nguyễn Tiến Linh | 66 | 26 | 2018–nay |
Ghi bàn nhiều nhất
| Thứ hạng | Cầu thủ | Bàn thắng | Số trận | Hiệu suất | Thời gian thi đấu |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Lê Công Vinh | 51 | 83 | 0.61 | 2004–2016 |
| 2 | Lê Huỳnh Đức | 27 | 53 | 0.51 | 1993–2004 |
| 3 | Nguyễn Tiến Linh | 26 | 66 | 0.39 | 2018–nay |
| 4 | Nguyễn Hồng Sơn | 18 | 41 | 0.44 | 1993–2001 |
| 5 | Nguyễn Văn Quyết | 16 | 58 | 0.27 | 2011–2024 |
| 6 | Nguyễn Quang Hải | 15 | 83 | 0.18 | 2017–nay |
| 7 | Phan Thanh Bình | 13 | 31 | 0.42 | 2003–2009 |
| Nguyễn Xuân Son | 13 | 12 | 1.08 | 2024–nay | |
| 8 | Nguyễn Anh Đức | 12 | 36 | 0.33 | 2006–2019 |
| Nguyễn Công Phượng | 12 | 56 | 0.21 | 2015–nay | |
| Nguyễn Trọng Hoàng | 12 | 74 | 0.16 | 2009–2022 |
Các đội trưởng vô địch Giải vô địch Đông Nam Á
| Năm | Cầu thủ |
|---|---|
| 2008 | Phan Văn Tài Em |
| 2018 | Nguyễn Văn Quyết |
| 2024 | Đỗ Duy Mạnh |
Các đội trưởng
| Đội trưởng | Thời gian |
|---|---|
| Nguyễn Quang Hải | 2026– |
| Đỗ Duy Mạnh | 2024–2026 |
| Đỗ Hùng Dũng | 2022–2024 |
| Quế Ngọc Hải | 2018–2021 |
| Nguyễn Văn Quyết | 2017–2018 |
| Đinh Thanh Trung (tạm quyền) |
2017 |
| Lê Công Vinh | 2014–2016 |
| Lê Tấn Tài | 2013–2014 |
| Nguyễn Minh Đức | 2012–2013 |
| Phan Văn Tài Em | 2008, 2011 |
| Nguyễn Minh Phương | 2004–2007 2009–2010 |
| Lê Huỳnh Đức | 2000–2004 |
| Trần Công Minh | 1996–2000 |
| Nguyễn Mạnh Cường | 1995–1996 |
Thống kê huấn luyện viên


Tham khảo
- ^ "VFF - About Us". VFF. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2024.
- ^ Scott Sommerville (ngày 16 tháng 11 năm 2017). "The Reunification Game that brought North and South Vietnam together". These Football Times. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2019.
- ^ baochinhphu.vn (ngày 30 tháng 4 năm 2011). "Trận cầu của ngày đoàn tụ". Báo điện tử Chính phủ. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2022.
- ^ "VFF - Kỷ niệm 20 năm thành lập Liên đoàn Bóng đá Việt Nam: Từ Đại hội đến Đại hội". VFF. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2022.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên1983game - ^ "Chủ tịch LĐBĐVN qua các nhiệm kỳ" [Chairman of VFF organisation through tenure]. Vietnam Football Federation. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2018.
- ^ "BĐVN sau đỉnh AFF Cup: Lối mòn hay lộ trình?". Vietnamnet. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009.
- ^ Tam Nguyên (ngày 30 tháng 4 năm 2022). "Từ SEA Games đến SEA Games: Thái Lan 1995 - màu bạc của bóng đá nam". Báo Lao Động. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2025.
- ^ TH.V (ngày 11 tháng 2 năm 2007). "Trận đấu 12 năm". Báo Sài Gòn Giải Phóng. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Amichevole 1995/96: Vietnam-Juventus 1-2 02/06/1996". Myjuve.it. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2021.
- ^ "South Korea 0–1 Vietnam". football database.eu. ngày 19 tháng 10 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2019.
- ^ "Bàn thắng phút chót giúp VN lần đầu vô địch Đông Nam Á" [Last minute goal helped Vietnam for the first time to emerged as the Southeast Asian champion]. VnExpress. ngày 28 tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Đại nhảy vọt, Việt Nam vào top 100 BXH FIFA". thethaovanhoa.vn. 21 tháng mười hai 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2021. Truy cập 5 tháng sáu 2021.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=và|date=(trợ giúp) - ^ "Fans unsatisfied as Vietnam midfielder rejects suspected AFF Cup rigging". Tuổi Trẻ. ngày 13 tháng 12 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ Eric Samuel; K. Rajan (ngày 7 tháng 12 năm 2014). "Malaysia crumble to Vietnam in AFF Suzuki Cup semis". The Star. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ "'Hụt' chiến thắng đầy tiếc nuối, Việt Nam chia điểm trước Iraq" ['Recession' victory is regretful, Vietnam divided the points with Iraq]. Thể Thao 247. ngày 8 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Thailand beat Vietnam 1–0 in World Cup qualifier". Việt Nam News. Vietnam Net. ngày 25 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ Terry Fredrickson (ngày 14 tháng 10 năm 2015). "Thailand thrash Vietnam 3–0 in World Cup Qualifier". Bangkok Post. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ Nghiem Trung (ngày 7 tháng 12 năm 2016). "Vietnam say good-bye to AFF Suzuki Cup 2016". Nhân Dân. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ AFF Cup 2016: Indonesia vs Việt nam 2–1 [AFF Cup 2016: Indonesia vs Vietnam 2–1]. Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ Băng Tâm (ngày 25 tháng 8 năm 2017). "Nguyễn Hữu Thắng trắng tay rời ghế HLV trưởng đội tuyển Việt Nam" [Nguyễn Hữu Thắng left the chair of the Vietnam team empty handed]. An ninh Thủ đô. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ Paul Murphy (ngày 11 tháng 10 năm 2017). "Vietnam close to 2019 AFC Asian Cup qualification after Cambodia win". ESPN Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Vietnam name Park Hang-seo as new coach". Fox Sports Asia. ngày 29 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ Kim Điền (ngày 16 tháng 11 năm 2017). "Sự nghi ngờ về năng lực của HLV Park Hang Seo" [Doubt on the ability of Coach Park Hang Seo]. Dân Trí. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ Faridullah Mohammadi (ngày 14 tháng 11 năm 2017). "Afghanistan Fails To Qualify For AFC Asian Cup". TOLOnews. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ Duy Nguyễn. "Tuyển Việt Nam: Khi may hơn... khôn" [Vietnam recruitment: When sewing more... smart]. Vietnam Net. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Vietnam 1–2 Uzbekistan: Vietnam comes second at Asian U23 Championship". VnExpress. Vietnam Investment Review. ngày 27 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ Alaric Gomes (ngày 20 tháng 1 năm 2019). "Asian Cup: Vietnam continue to chase their dream with quarters berth". Gulf News. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Vietnam claim 4-0 victory over Indonesia at World Cup qualifiers". E.vnexpress. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2021.
- ^ "Malaysia 1-2 Vietnam: World Cup dream over for Harimau Malaya | Goal.com". Goal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2021.
- ^ "HLV Troussier: "Tôi đến Việt Nam vì mục tiêu dự World Cup 2026". VnExpress. ngày 27 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2023.
- ^ "Việt Nam thua Hàn Quốc 0-6". VnExpress. ngày 17 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Cầu thủ Việt Nam bật khóc khi thua Iraq". VnExpress. ngày 21 tháng 11 năm 2023.
- ^ "VFF giải thích lý do chưa sa thải HLV Troussier". Tiền Phong.vn. ngày 24 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2024.
- ^ "VFF tiếp tục tin tưởng HLV Troussier". VnExpress. ngày 26 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2024.
- ^ "Cơ hội của Việt Nam ở vòng loại World Cup 2026 mỏng manh thế nào". VnExpress. ngày 26 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
- ^ "CĐV Việt Nam tức giận với HLV Troussier". ZingNews. ngày 26 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2024.
- ^ "VFF chấm dứt hợp đồng với HLV Troussier". VnExpress. ngày 26 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Việt Nam sa sút nhất trên bảng FIFA". VnExpress. ngày 4 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Việt Nam tụt bậc FIFA sâu nhất sau tám năm". VnExpress. ngày 27 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2024.
- ^ Bản mẫu:Citeweb
- ^ "HLV Kim Sang-sik: 'Trung thành và quyết tâm là nền móng để chiến thắng'". VnExpress. ngày 6 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2024.
- ^ H. Long (ngày 6 tháng 1 năm 2025). "Đội tuyển Việt Nam lập hàng loạt kỷ lục sau khi vô địch AFF Cup 2024". Báo Dân Trí. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2025.
- ^ Hồng Nam (ngày 6 tháng 1 năm 2025). "Đội tuyển Việt Nam: Vô địch trên đất Thái như thế mới sướng chứ!". Báo Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2025.
- ^ Hồng Nam (ngày 6 tháng 1 năm 2025). "Đội tuyển Việt Nam trở lại ngôi vua Đông Nam Á cực kỳ xứng đáng". Báo Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2025.
- ^ Hữu Bình (ngày 6 tháng 1 năm 2025). "Đội tuyển Việt Nam và bóng đá đẹp lên ngôi ở Đông Nam Á". Báo Dân Trí. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2025.
- ^ Huy Khánh (ngày 5 tháng 1 năm 2025). "Nhấn chìm Thái Lan, Đội tuyển Việt Nam vô địch AFF Cup 2024". Vietnam+. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2025.
- ^ Hiếu (ngày 26 tháng 9 năm 2025). "FIFA phạt nặng Malaysia vì làm giả hồ sơ cầu thủ ở trận thắng Việt Nam 4-0". VNExpress. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2025.
- ^ Hiếu Lương (ngày 17 tháng 3 năm 2026). "Malaysia bị xử thua Việt Nam 0-3". VNExpress. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2026.
- ^ Vy Anh (ngày 31 tháng 3 năm 2026). "Xuân Son giúp Việt Nam hạ Malaysia". VNExpress. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2026.
- ^ Thể, Văn (ngày 6 tháng 4 năm 2026). "Tuyển Việt Nam trở lại top 100 FIFA: Kỷ lục vô tiền khoáng hậu của HLV Kim Sang Sik". Hà Tĩnh TV. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2026.
- ^ "AFF Cup 2008: Lấy may, ĐTVN sẽ mặc quần áo thi đấu mầu trắng". giading.net.vn. ngày 27 tháng 12 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Áo trắng và cuộc chia ly màu đỏ". Người Lao Động. ngày 2 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Tuyển Việt Nam mặc trang phục trắng ở trận đấu với Lào". VnExpress. ngày 7 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Từ tháng 1/2009, ĐTVN sẽ mặc áo đấu Nike". Thể thao & Văn hóa Online. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009.
- ^ "Đội tuyển Việt Nam có trang phục thi đấu mới". Thanh Niên Online. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2014.
- ^ Phương Anh. "Jogarbola chính thức ra mắt BST Đội tuyển Quốc gia Việt Nam". Jogarbola Việt Nam. Động Lực Group. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2023.
- ^ "Nhìn lại Tiger Cup 1998: Giải đấu tiếc nuối nhất của bóng đá Việt Nam". vtv.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2022.
- ^ "VFF không tự ý chốt huy hiệu hình rồng cho các đội tuyển bóng đá Việt Nam". Tuổi Trẻ. ngày 30 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2019.
- ^ "Huy hiệu hình rồng cho các đội tuyển bóng đá Việt Nam bị 'ném đá'". Tuổi Trẻ. ngày 29 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2019.
- ^ Fox Sports (ngày 2 tháng 12 năm 2017). "VFF thông qua Huy hiệu mới cho các Đội tuyển quốc gia Việt Nam". foxsports.com.vn. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2019.[liên kết hỏng]
- ^ "Huy hiệu không thay quốc kỳ trên áo đấu tuyển Việt Nam". Thể thao Văn hoá. ngày 2 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2019.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênfacebook.com - ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có têntuoi-tre-o - ^ "Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc chúc các chiến binh sao vàng giành vé vào vòng loại thứ ba World Cup 2022". VFF. ngày 25 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2021.
- ^ https://tuoitre.vn/nld/the-thao/ha-noi-rop-co-mung-chien-thang-cua-cac-chang-trai-ao-do-20181202211450675.htm
- ^ "Liên đoàn Bóng đá Việt Nam - VFF". Facebook VFF. ngày 23 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Yanmar Announces Official Sponsorship of the Vietnamese National Football Team". Yanmar. ngày 4 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Honda Vietnam becomes main sponsor for National Team". VFF. ngày 4 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2013.[liên kết hỏng]
- ^ "Sony Việt Nam là Nhà tài trợ chính thức của các Đội tuyển Bóng đá Quốc gia Việt Nam" [Sony Vietnam is the official sponsor of Vietnamese national football team]. Sony Corporation. ngày 8 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2018.
- ^ VietnamPlus (ngày 21 tháng 6 năm 2021). "SABECO to sponsor national football teams for one year | Culture - Sports | Vietnam+ (VietnamPlus)". VietnamPlus (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ "LĐBĐVN ký kết hợp tác với Coca-Cola: Cùng đội tuyển bóng đá chinh phục giấc mơ vàng". Vietnam Football Federation. ngày 13 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2018.
- ^ "Vinamilk tài trợ chính cho các Đội tuyển bóng đá Quốc gia: Vì một Việt Nam vươn cao". Vietnam Football Federation. ngày 3 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Kao Việt Nam chính thức trở thành Nhà tài trợ các ĐTQG Việt Nam". Vietnam Football Federation. ngày 25 tháng 9 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2019.
- ^ "Herbalife Vietnam sponsor Vietnam national teams". Aseanfootball.org (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ "VFF - TNI trở thành Nhà tài trợ chính ĐTQG Việt Nam trong 3 năm liên tiếp". Vff.org. ngày 25 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2021.
- ^ Ralph Jennings (ngày 19 tháng 12 năm 2018). "Wild Post-Game Street Partying in Vietnam Reveals Surge in Patriotism". Voice of America. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Football fans storm city streets to celebrate historic Asian Cup victory". Voice of Vietnam. ngày 21 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Đội tuyển Việt Nam quy tụ lực lượng mạnh, chuẩn bị cho ASEAN Cup 2026". vff.org.vn. Vietnam Football Federation. ngày 15 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2026.
- ^ "Lịch sử bán độ khủng khiếp của bóng đá Việt Nam". VTC News. ngày 26 tháng 12 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2022.
- ^ "Tiger Cup 1996 và cơn lôi đình của ông Weigang". SGGP Thể thao. ngày 19 tháng 12 năm 2005.
- ^ "Ký ức AFF Cup 2012: Giải đấu "thảm hoạ" với tuyển Việt Nam". laodong.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2022.
- ^ VnExpress. "HLV Park Hang-seo gọi 8 cầu thủ Hà Nội lên tuyển Việt Nam". Báo điện tử VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2021. Truy cập 5 tháng sáu 2021.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - ^ "Thống kê đáng buồn của tuyển Việt Nam sau khi bị loại ở AFF Cup 2020". VietnamPlus. VietnamPlus. ngày 27 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2022.
- ^ "Cầu thủ Việt Nam chỉ trích bàn thắng tranh cãi của Thái Lan". VnExpress. ngày 6 tháng 1 năm 2024.
- ^ "Việt Nam lập nhiều kỷ lục khi vô địch ASEAN Cup". VnExpress. ngày 5 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Xung quanh sự cố "mất hộ chiếu" của Hồng Sơn: Lời thì thầm của con gấu". Thể thao & Văn hóa Online. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010.
- ^ "Thành tích đối đấu của Việt Nam với các đội tuyển". Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2018.
- ^ "Vietnam". National Football Teams. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2022.
- ^ "Coach Park has made us believe in ourselves, says Vietnam's Quang Hai". Asian Football Confederation. ngày 22 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2019.
- ^ "VFF công bố chọn ông Kim Sang Sik làm HLV trưởng đội tuyển Việt Nam". Tuổi Trẻ. ngày 3 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2024.
- ^ "HLV Troussier: "Tôi đến Việt Nam vì mục tiêu dự World Cup 2026". VnExpress. ngày 27 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2023.
- ^ "VFF chấm dứt hợp đồng với HLV Troussier". VTCNews. ngày 26 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Park Hang-seo ra mắt trên cương vị HLV trưởng tuyển Việt Nam". thethao.vnexpress.net. VNE. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2017.
- ^ "HLV Hữu Thắng: "Mourinho cũng bị sa thải, huống hồ tôi"". Báo Tuổi trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016.
- ^ Quỳnh Cao. "HLV Hoàng Văn Phúc chính thức rời ghế thuyền trưởng ĐTVN". zing.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014.
- ^ "HLV Mai Đức Chung lần thứ 3 "đóng thế"". SGGP. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2017.
- ^ a ă Phúc Long (ngày 6 tháng 9 năm 2018). "10 HLV trước ông Park: Một người được gia hạn, 9 người bị sa thải". zing.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2023.
- ^ a ă "Vietnam coach quits". The Island. ngày 4 tháng 12 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2015.
"VFF also decided to appoint Vietnamese coach Tran Van Khanh for the job." (After Tavares resigned)
- ^ a ă "Vietnam sacked". AFP. ngày 31 tháng 10 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2013.
Ghi chú
- ^ "Rồng vàng" (tiếng Anh: Golden Dragon) là hình ảnh biểu trưng của đội tuyển Việt Nam Cộng hòa, với cờ vàng ba sọc đỏ cùng hình con rồng tại Quốc huy Việt Nam Cộng hòa. Màu áo chính của đội tuyển Việt Nam Cộng hòa cũng là màu vàng. Do FIFA và AFC thường tính tất cả thành tích và danh hiệu của đội tuyển Việt Nam Cộng hòa cho Đội tuyển Việt Nam sau này, một số phương tiện truyền thông nước ngoài cũng dùng từ "Golden Dragon" của đội tuyển Việt Nam Cộng hòa để nói về đội tuyển Việt Nam như là một sự "kế thừa" đội tuyển Việt Nam Cộng hòa. Các phương tiện truyền thông trong nước khi lấy nguồn tin từ nước ngoài thường chỉ dịch lại mà không tìm hiểu kỹ hơn nguồn gốc của biệt danh.
- ^ Tạo hình "Dragon Ball" được sáng tác dựa theo Tây Du Ký, nên con rồng thần trong truyện cũng được tạo hình dựa theo Rồng Trung Hoa. Ở bản gốc bằng tiếng Nhật, nó cũng được gọi tên là "Shen Long", dựa theo âm tiếng Quan thoại.
Xem thêm
Liên kết ngoài
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam trên trang chủ của FIFA
- VFF - Đội tuyển Quốc gia Nam
Bản mẫu:Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Bản mẫu:Navboxes colour Bản mẫu:Navboxes
- Trang có lỗi chú thích
- Lỗi CS1: ngày tháng
- Bài có liên kết hỏng
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Bài viết có văn bản tiếng Anh
- Trang có tham số bản mẫu khóa trang không đúng
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Trang sử dụng bản mẫu nhiều hình với các hình được chia tỷ lệ tự động
- Website chính thức không có trên Wikidata
- Đội tuyển bóng đá quốc gia châu Á
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam
- Đội tuyển thể thao quốc gia Việt Nam