Barry Bonds
| Barry Bonds | |||
|---|---|---|---|
| Tập tin:BarryBonds1993.jpg Bonds trong màu áo San Francisco Giants năm 1993 | |||
| Ngoài trái | |||
| Sinh ngày: 24 tháng 7, 1964 Riverside, California, Hoa Kỳ | |||
| |||
| Ra mắt tại MLB | |||
| 30 tháng 5, 1986, cho Pittsburgh Pirates | |||
| Lần xuất hiện MLB cuối cùng | |||
| 26 tháng 9, 2007, cho San Francisco Giants | |||
| Thống kê MLB | |||
| Tỷ lệ đánh bóng | .298 | ||
| Số hit | 2,935 | ||
| Số home run | 762 | ||
| Số điểm đánh về (RBI) | 1,996 | ||
| Số lần cướp chốt | 514 | ||
| Số lần walk | 2,558 | ||
| Các đội tuyển | |||
| |||
| Sự nghiệp nổi bật và các giải thưởng | |||
Kỷ lục MLB
| |||
Barry Lamar Bonds (sinh ngày 24 tháng 7 năm 1964) [1] là một cựu cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp người Mỹ chơi ở vị trí ngoài trái, với 22 mùa giải đã thi đấu tại Giải bóng chày Nhà nghề Bắc Mỹ (MLB). Bonds đã thi đấu cho các câu lạc bộ Pittsburgh Pirates từ năm 1986 đến năm 1992, và San Francisco Giants từ năm 1993 đến năm 2007.[2] Ông được coi là một trong những cầu thủ bóng chày vĩ đại nhất mọi thời đại.[3][4][5][6][7]
Là một cầu thủ được xem là toàn năng, Bonds là người giữ kỷ lục bảy lần giành giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất tại National League (NL) và 12 giải Silver Slugger, cùng với 14 lần được bầu chọn tham dự trận All-Star trong sự nghiệp. Anh nắm giữ nhiều kỷ lục đánh bóng của MLB, bao gồm số home run ghi được nhiều nhất trong sự nghiệp (762), số home run ghi được nhiều nhất trong một mùa giải (73 lần, được thiết lập vào năm 2001), và các kỷ lục về số lần đi bộ lên chốt và đi bộ có chủ đích nhiều nhất trong sự nghiệp, mùa giải và trong các trận đấu liên tiếp.[8] Bonds dẫn đầu MLB về chỉ số on-base plus slugging sáu lần và nằm trong top 5 người đánh bóng trong 12 trong số 17 mùa giải đủ điều kiện của anh ấy.[9][10] Với lối chơi phòng ngự ở vị trí ngoài sân, anh đã giành được tám giải thưởng Găng tay vàng.[11] Anh cũng có 514 lần cướp chốt thành công, trở thành cầu thủ MLB đầu tiên và duy nhất cho đến nay có ít nhất 500 home run và 500 lần cướp chốt.[12][13] Bonds được Baseball Reference xếp hạng số một về Wins Above Replacement trong sự nghiệp của tất cả các cầu thủ không giao bóng trong Giải bóng chày nhà nghề và được FanGraphs xếp hạng thứ hai, chỉ sau Babe Ruth.[14][15]
Bất chấp những thành tích vô tiền khoáng hậu của mình, sự nghiệp Bonds đã thường xuyên gây tranh cãi, đặc biệt vì vai trò trung tâm trong vụ bê bối doping tại MLB. Ông bị truy tố vào năm 2007 với tội danh khai man và cản trở quá trình tố tụng do cáo buộc nói dối trước bồi thẩm đoàn trong cuộc điều tra liên bang đối với nhà sản xuất dòng steroid không thể bị phát hiện kiểm tra BALCO. Sau khi các cáo buộc khai man bị bác bỏ, Bonds bị kết tội cản trở tố tụng vào năm 2011,[16] nhưng đã được tuyên trắng án tại phiên phúc thẩm vào năm 2015.[17] Trong 10 năm đủ điều kiện, ông không nhận được 75% số phiếu cần thiết để được ghi danh vào Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Quốc gia.[18][19][20] Một số thành viên của Hiệp hội Nhà báo Bóng chày Hoa Kỳ (BBWAA) tham gia bầu chọn tuyên bố không bỏ phiếu cho Bonds vì họ tin rằng ông đã có hành vi sử dụng doping.[21][22]
Xuất thân
Barry Lamar Bonds sinh ngày 24 tháng 7 năm 1964, tại Riverside, California, có mẹ là Patricia (nhũ danh Howard) và cha là Bobby Bonds, người sau này đã trở thành hậu vệ phải tại Giải bóng chày nhà nghề Mỹ (MLB).[23] Bonds lớn lên tại San Carlos, California trong khu vực bán đảo San Francisco, nơi anh theo học trường tiểu học Arundel. Cha anh đã trải qua bảy mùa giải đầu tiên trong sự nghiệp ở Giải bóng chày nhà nghề Mỹ với đội San Francisco Giants, nơi ông chơi cùng với những thành viên Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Quốc gia như Willie Mays, Gaylord Perry, Willie McCovey và Juan Marichal. Cha anh, Bobby, chơi ở vị trí hậu vệ phải và Mays chơi ở vị trí trung vệ, tạo nên một cặp song sát phòng ngự phối hợp nhịp nhàng để bao phủ một diện tích lớn trên sân, và Mays cũng đã trở thành cha đỡ đầu của Barry. Khi còn nhỏ, Bonds thường dành thời gian ở phòng thay đồ và khu vực ghế dự bị của đội Giants tại sân vận động Candlestick Park và phải cầm tay cao cây chày mà anh hay mang theo vì nó quá nặng đối với anh vào thời điểm đó, một thói quen mà anh sau đó đã tiếp tục duy trì. Trước khi đến Arundel, anh theo học trường Carey, trường này nhìn ra trường trung học Junípero Serra ở San Mateo, California, nơi anh theo học sau này. Anh chơi xuất sắc bóng chày, bóng rổ và bóng bầu dục. Anh chơi cho đội dự bị trong năm đầu tiên và cho đội chính thức của trường trong suốt thời gian thi đấu trung học còn lại. Thất vọng với học lực của Bonds ở môn sinh học năm lớp 11, giáo viên của anh đã nói anh rằng bóng chày sẽ không bao giờ đưa anh đến đâu cả.[24][25]
Bonds đạt tỷ lệ đánh bóng trung bình .467 trong năm cuối cấp và được vinh danh là All-American cấp trung học.[26] Đội Giants đã chọn Bonds ở vòng thứ hai (lượt chọn chung thứ 39) của kỳ tuyển quân MLB năm 1982 khi anh còn là học sinh trung học năm cuối,[27] nhưng hai bên đã không thể thống nhất các điều khoản hợp đồng khi mức đề nghị tối đa của Tom Haller là 70.000 đô la (230,000 đô la ngày nay) và mức tối thiểu để Bonds chấp nhận ký hợp đồng lên chuyên nghiệp là 75.000 đô la, và Mays đã khuyên Bonds nên theo học đại học.[28] Bonds cùng với cố cầu thủ MLB Danny Frisella sau đó đã được vinh danh vào Đại sảnh Danh vọng Thể thao Serra vào năm 1992.[29]
Sự nghiệp đại học
Bonds theo học Đại học Tiểu bang Arizona (ASU), nơi người anh họ xa của ông và cũng là thành viên Đại sảnh Danh vọng Quốc gia là Reggie Jackson, cũng theo học và thi đấu.[30] Bonds đạt tỷ lệ đánh bóng .347 với 45 home run và 175 điểm đánh về (RBI).[26] Năm 1984, anh ấy đạt tỷ lệ đánh bóng .360 và có 30 lần cướp chốt thành công. Năm 1985, anh ấy đạt 23 home run, 66 RBI và tỷ lệ đánh bóng .368, đồng thời được Sporting News chọn vào đội All-American năm đó. Anh ấy đã san bằng kỷ lục NCAA với bảy cú hit liên tiếp tại vòng chung kết College World Series khi còn là sinh viên năm hai và được chọn vào Đội hình tiêu biểu mọi thời đại của College World Series năm 1996.[26]
Bất chấp thành tích trên sân, Bonds không được lòng các đồng đội Sun Devil yêu thích, một phần theo lời huấn luyện viên Jim Brock, anh "thô lỗ, thiếu suy nghĩ và ích kỷ". Khi anh ta bị đình chỉ vì vi phạm giờ giới nghiêm, các cầu thủ khác ban đầu đã bỏ phiếu chống việc anh trở lại đội mặc dù là cầu thủ giỏi nhất trong đội.[31] Anh tốt nghiệp ASU năm 1986 với bằng tội phạm học. Anh được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất của ASU On Deck Circle, với những người chiến thắng khác bao gồm Dustin Pedroia, Willie Bloomquist, Paul Lo Duca và Ike Davis.[32] Trong thời gian học đại học, anh đã chơi một phần mùa hè trong Giải bóng chày nghiệp dư Alaska với đội Alaska Goldpanners.[33] Bonds được ghi danh vào Đại sảnh Danh vọng Sun Devil năm 1999.[34][35]
Sự nghiệp chuyên nghiệp
Tuyển chọn và tại hạng dưới
Đội Pittsburgh Pirates đã chọn Bonds ở lượt chọn thứ sáu trong kỳ tuyển quân Major League Baseball năm 1985.[36] Anh gia nhập đội Prince William Pirates của giải Carolina League và được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất tháng 7 năm 1985.[37] Năm 1986, anh đạt tỷ lệ đánh bóng .311 với 7 cú home run và 37 RBI trong 44 trận ra sân cho đội Hawaii Islanders của giải Pacific Coast League.[38]
Pittsburgh Pirates (1986–1992)
Mùa giải 1986
Trước khi Bonds được đôn lên đội một ở Pittsburgh, đội Pirates gần như không thể thu hút khán giả đến sân, với lượng dự khán trung bình năm 1984 và 1985 dưới 10.000 người mỗi trận.[39] Lượng khán giả thấp là kết quả của bối cảnh khủng hoảng kinh tế ở phía Tây Pennsylvania vào đầu những năm 1980 cũng như đại án ma túy Pittsburgh, vã đã khiến đội Pirates đi từ nhà vô địch World Series 1979 tới đã suýt phải chuyển đến Denver, Colorado chỉ trong vòng sáu năm. Vào ngày 30 tháng 5 năm 1986, tại Sân vận động Three Rivers, Bonds đã có trận đấu ra mắt MLB, xuất phát ở vị trí trung vệ và mặc áo số 7. Anh kết thúc trận đấu với 0 hit ghi được trong 5 lượt đánh, cùng một lần walk trong trận thua 6–4 trước Los Angeles Dodgers.[40]
Vào ngày 4 tháng 6, tại Sân vận động Atlanta - quận Fulton, trong trận thắng 12–3 trước Atlanta Braves, Bonds đã ghi cú home run đầu tiên trong sự nghiệp MLB của mình trước Craig McMurtry, solo về phía cánh trái ở hai strike để nâng tỷ số lên 11–2. Bonds đã ghi cú home run trên ở chính xác về cùng phần sân với cú home run thứ 715 của Hank Aaron để phá kỷ lục home run trong sự nghiệp do Babe Ruth nắm giữ.[41][42][43] Tổng cộng, Bonds đã có bốn cú hit trong năm lượt đánh, đẩy về 4 điểm với một cú hit đôi cùng cú home run nói trên. Trích lời bình luận viên lúc đó, "Barry Bonds, hãy nhớ cái tên này, bạn sẽ còn nghe thấy nó nhiều đó". Nhìn lại pha bóng đó hai mươi năm sau, McMurtry nói "Đó là một cú bóng nhanh nhắm thấp và xa tầm, mà anh ta vẫn đánh nó ra ngoài hướng trái tay. Tôi không biết làm thế nào mà anh ấy lại đánh trúng được."[44][45][46] Năm 1986, Bonds dẫn đầu các tân binh National League (NL) với 16 home run, 48 RBI, 36 lần cướp chốt và 65 lần walk, nhưng lại chỉ đứng thứ sáu trong cuộc bỏ phiếu cho giải thưởng Tân binh của năm của NL.[11][47] Bước sang năm 1987, Bond đã chuyển sang vị trí hậu vệ trái khi trung vệ ngôi sao Andy Van Slyke chuyển đến.
Mùa giải 1987
Với sự xuất hiện của Bonds, đội Pirates đã nhận được tình cảm nhiệt liệt của người hâm mộ trở lại và lập kỷ lục về lượng dự khán trận đấu mở màn mùa giải 1987 ở sân nhà với 52.119 người.[48] Trong những năm đầu sự nghiệp, Bonds thường được xếp đánh bóng đầu tiên (leadoff hitter).[49] Vào ngày 30 tháng 5 tại SVĐ Three Rivers, trong trận đấu với Cincinnati Reds, Bonds đã lần đầu tiên dời vị trí trung vệ để chuyển sang vị trí hậu vệ trái. Anh đã cùng Van Slyke trở thành bộ đôi phòng thủ sân ngoài đáng gờm của Pirate khi phối hợp để bao quát một diện tích lớn trên sân; tuy nhiên họ lại không thân thiết với nhau ngoài sân.[49] Năm đó, Bonds đạt tỷ lệ đánh bóng .261 với 25 home run, cùng với 32 lần cướp chốt và 59 RBI trong 150 trận đấu.[11]
Mùa giải 1988
Đội Pirates tiếp tục phá kỷ lục mùa trước với 54.089 người tới xem trận đấu mở màn mùa giải 1988 trên sân nhà.[48] Bonds tiếp tục tiến bộ, đạt tỷ lệ đánh bóng .283 với 24 home run và 58 RBI trong 144 trận đấu.[11]
Mùa giải 1989
Bonds giờ đây là trụ cột trong một đội hình đáng gờm gồm Bobby Bonilla, Van Slyke và Jay Bell.[50] Anh kết thúc mùa giải với 19 home run, 58 RBI và 14 pha kiến tạo sân ngoài vào năm 1989, đứng thứ hai trong NL.[11][51] Sau mùa giải, đã có tin đồn rằng anh sẽ được chuyển tới Dodgers để đổi lấy Jeff Hamilton và John Wetteland, nhưng đội đã phủ nhận tin đồn và không có thương vụ nào như vậy xảy ra.[52][53]
Mùa giải năm 1990
Vào ngày 12 tháng 7 năm 1990, tại sân Three Rivers, Bonds đã đánh cú home run thứ 100 trong sự nghiệp tại MLB trước Andy Benes, trong trận thắng 4–3 trước San Diego Padres.[54][55][56] Kết thức mùa giải 1990, Bonds đã có lần đầu tiên giành được giải Cầu thủ xuất sắc nhất MLB (tại NL),[57] đạt tỷ lệ đánh bóng .301 với 33 home run và 114 RBI trong 151 trận đấu.[11] Anh ngoài ra cũng đã cướp thành công 52 chốt, đứng thứ ba tại NL, và lần đầu tiên đạt thành tích 30–30 và 20–50,[58] cũng như giành được giải Găng tay Vàng và Silver Slugger đầu tiên của mình.[26] Năm đó, Pirates đã giành được danh hiệu vô địch miền Đông National League để có suất tham dự vòng play-off đầu tiên kể từ khi giành chức vô địch World Series năm 1979.[59] Tuy nhiên, Cincinnati Reds, đội cũng vào vòng playoff lần đầu tiên sau năm 1979, đã đánh bại Pirates tại chung kết chi giải (NLCS) trên hành trình giành chức vô địch World Series năm 1990.[26]
Mùa giải 1991
Năm 1991, Bonds lại một lần nữa thi đấu ấn tượng, đạt tỷ lệ đánh bóng .292 với 25 homerun và 116 RBI trong 153 trận ra sân, giúp anh giành được thêm một giải Găng tay vàng và Silver Slugger.[11] Anh đứng thứ hai sau Terry Pendleton của Atlanta Braves (quán quân đánh bóng của NL) trong cuộc bầu chọn MVP của NL.[26][60]
Mùa giải 1992
Vào tháng 3 năm 1992, tổng giám đốc của Pirates, Ted Simmons, đã đồng ý một thỏa thuận với giám đốc của Atlanta Braves là John Schuerholz, để trao đổi Bonds để đổi lấy Alejandro Peña, Keith Mitchell và một cầu thủ sẽ được công bố sau. Huấn luyện viên trưởng Jim Leyland của Pirates đã kịch liệt phản đối thương vụ này, và đề xuất đã bị hủy bỏ.[61] Bonds ở lại Pittsburgh và giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất (MVP) National League lần thứ hai trong ba mùa giải, và trở thành cầu thủ duy nhất của Pittsburgh Pirates có nhiều lần giành giải MVP mùa giải chính thức.[26][62] Cùng việc đạt tỷ lệ đánh bóng .311 với 34 homerun và 103 RBI, anh đã giúp Pirates giành được danh hiệu vô địch miền Đông NL lần thứ ba liên tiếp. Tuy nhiên, Pittsburgh đã bị Braves đánh bại tại Chung kết National League (NLCS) trong bảy ván, trong đó Bonds đã tham gia vào pha bóng cuối cùng của ván 7 của NLCS khi bắt được cú bóng Francisco Cabrera đánh ra và cố ném về để loại Sid Bream ở gôn nhà. Cú ném tới bắt bóng của Pirates Mike LaValliere bị chậm và Bream về ghi điểm số vàng giành chiến thắng chung cuộc.[63]
Trong mùa giải thứ ba liên tiếp, đội Pirates, nhà vô địch miền Đông NL, đã không thể vào tới World Series. Sau thất bại, Bonds và đồng đội ngôi sao Doug Drabek bị cho là đòi hỏi mức lương quá cao khiến Pittsburgh không gia hạn với họ nữa.[64][65] Sau khi Bonds rời đi, Pittsburgh Pirates đã văng mặt tại vòng play-off trong 21 năm liên tiếp từ năm 1993 đến năm 2013, khi họ giành suất Wild Card để trở lại.[66][67][68] Trong 7 mùa giải tại Pittsburgh Pirates, Bonds đã đạt mức đánh bóng trung bình .275, 984 cú hit, 176 home run và đánh về 556 điểm. Tuy đã hai lần giành giải MVP NL, Bonds lại chưa bao giờ được lòng các phóng viên hay người hâm mộ khi ở Pittsburgh, thậm chí bị một tờ báo trao "danh hiệu" "MDP" (Cầu thủ Pirates bị ghét nhất).[31]
San Francisco Giants (1993–2007)
Bonds trở thành cầu thủ tự do vào ngày 26 tháng 10 năm 1992. Trong thời gian này, anh đã được nhiều đội tiếp cận, bao gồm Atlanta Braves, New York Yankees và San Francisco Giants.[69][70][71] Vào ngày 6 tháng 12 năm 1992, Bonds được đưa tin sẽ rời Pirates để ký hợp đồng chuyển nhượng tự do trong sáu năm với đội Giants, nơi cha anh đã đã thi đấu bảy năm đầu sự nghiệp và cha đỡ đầu Willie Mays đã chơi 21 trong số 22 mùa giải MLB của mình. Trị giá thỏa thuận này đạt mức kỷ lục bóng chày lúc bấy giờ, xét về cả tổng giá trị và mức lương trung bình hàng năm, ở mức 43,75 triệu đô la (tương đương 95.2 triệu đô la vào năm 2022).[72][73]
Bonds đã có ý định tiếp tục mặc áo số 24 đã gắn bó với anh trong phần lớn thời gian thi đấu cho Pirates, nhưng đây là số áo của Willie Mays đã được Giants treo. Tuy Giants sau đó đã có động thái cho phép Bonds dùng tiếp số áo này nhờ sự đồng ý của Mays, trước khi phải rút lại do áp lực dư luận,[74][75] Bonds đã đổi số áo 25 để tôn vinh cha mình, người đã mặc số này trong thời gian ở San Francisco.[76] Thỏa thuận được hoàn tất vào ngày 8 tháng 12 năm 1992, và trong cuộc họp báo công bố hợp đồng, Bonds mô tả việc gia nhập Giants là sự trở về "nhà" và nói việc nối bước cha và cha đỡ đầu của mình là "...giấc mơ thời thơ ấu trở thành hiện thực."[77][78][79] Cha anh đã gia nhập ban huấn luyện đội trong cùng năm đó.[80]
Mùa giải 1993
Vào ngày 18 tháng 4 năm 1993, tại sân Candlestick Park, trong trận thắng 13–12 trước Atlanta Braves, Bonds đã có bốn cú hit và một lần cướp chốt, với cú hit đôi thứ ba trong trận đấu ghi ở hiệp thứ chín là cú hit thứ 1000 trong sự nghiệp MLB của anh.[81][82][83] Vào ngày 12 tháng 5 năm 1993, tại SVĐ Mile High, trong trận thắng 8–2 trước Colorado Rockies, cả hai cha con nhà Bonds, cùng với hậu vệ Jerald Clark và huấn luyện viên Ron Hassey của Rockies đã bị đuổi khỏi sân vì hành động dẫn tới một cuộc ẩu đả trên sân.[84][85][86] Vào ngày 8 tháng 7 năm 1993, tại SVĐ Veterans, trong trận thắng 13–2 trước Philadelphia Phillies, Bonds có ba hit, gồm hai cú home run và đánh về sáu điểm. Trong đó, ở lượt đánh mở hiệp thứ bảy, Bonds vung ngay cú ném đầu tiên từ José DeLeón, một bóng biến hóa xuống thấp, ra sâu khán đài phía phải giữa sân để ghi cú home run thứ 200 trong sự nghiệp tại MLB để nâng tỷ số lên 12–2.[87][88][89]
Kết thúc mùa giải 1993, Bonds đạt tỷ lệ đánh bóng dẫn đầu NL là .336, với 46 cú home run và 123 RBI trong 159 trận đấu, qua đó bảo vệ thành công danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất (MVP) của NL.[90] Với lần thứ ba đoạt giải, Bonds và Bryce Harper là hai cầu thủ MLB duy nhất từng giành danh hiệu MVP mùa giải chính thức với hai đội khác nhau trước khi bước sang tuổi 30. "Năm 1993 có lẽ là đội bóng thống trị nhất mà tôi từng tham gia," Bonds nói. Giants đã thắng 103 trận, một kỷ lục kể từ khi chuyển đến San Francisco tồn tại cho đến năm 2021, khi kỷ lục thắng trận của câu lạc bộ được thiết lập với 107 trận.[91][92][93] Tuy nhiên, Atlanta Braves mới là đội giành chức vô địch miền Tây NL với 104 trận trong cái được gọi là "cuộc đua vô địch kinh điển cuối cùng" trước thể thức bổ sung suất wild card vào năm sau đó. "Một trong hai đội phải thua. Thật không may khi đó luôn là chúng ta, hoặc là tôi," Bonds nói.[94][95]
Mùa giải 1994
Trong mùa giải bị cuộc đình công rút ngắn năm 1994, Bonds đạt tỷ lệ đánh bóng .312 với 37 home run, 81 RBI và 74 lần walk dẫn đầu NL trong 112 trận.[11] Kết thúc mùa giải, anh đứng thứ tư trong cuộc bầu chọn Cầu thủ xuất sắc nhất (MVP) NL.[96]
Mùa giải 1995
Năm 1995, Bonds ra sân 144 trận, đạt tỷ lệ đánh bóng .294 với 33 homerun và 104 RBI, nhưng đã chỉ đứng thứ 12 trong cuộc bầu chọn MVP của NL.[11][97] Năm 1994, anh xuất hiện trong vai chính mình trong bộ phim truyền hình Jane's House, với sự tham gia của James Woods và Anne Archer.[98][99]
Mùa giải 1996
Năm 1996, Bonds trở thành cầu thủ National League (NL) đầu tiên và cầu thủ thứ hai tại MLB đạt cốt mốc 40 cú home run và 40 lần cướp chốt trong cùng một mùa giải.[100] Các thành viên khác của hàng ngũ 40–40 gồm José Canseco (1988), Alex Rodriguez (1998), Alfonso Soriano (2006), Ronald Acuña Jr. (2023) và Ōtani Shōhei (2024).[101] Cha anh, Bobby Bonds, từng chỉ cách nhóm này một home run vào năm 1973 và kết thúc mùa giải với 39 cú home run và 43 lần cướp chốt.[102] Ngày 27 tháng 4, Bonds đã đánh cú home run thứ 300 và 301 trong sự nghiệp MLB trước đồng đội cũ của Giants đang khoác áo Florida Marlins là John Burkett,[103] và trở thành cầu thủ thứ tư trong lịch sử gia nhập "câu lạc bộ 300–300" với 300 lần cướp chốt và 300 cú home run ghi được trong sự nghiệp, cùng với Willie Mays, Andre Dawson và cha anh. Bonds kết thúc mùa giải với 129 điểm đánh về, đánh bóng trung bình .308 và kỷ lục NL bấy giờ với 151 lần walk.[104] Anh đứng thứ năm trong cuộc bầu chọn MVP của NL.[105]
Mùa giải 1997
Năm 1997, Bonds đạt mức đánh bóng trung bình .291, mức thấp nhất của anh kể từ năm 1989, trong khi có năm thứ hai liên tiếp đạt mốc 40 cú home run, cùng 101 RBI và dẫn đầu giải đấu về số lần walk với 145 lần.[11] Anh cũng đã cướp 37 chốt và san bằng kỷ lục về số mùa giải 30–30 của cha mình (năm lần), nhưng lại đứng thứ năm trong cuộc bầu chọn MVP của NL.[106]
Mùa giải 1998
Vào ngày 28 tháng 5 năm 1998, tại sân 3Com Park, đã hai lượt out ở hiệp thứ chín, huấn luyện viên Buck Showalter của Arizona Diamondbacks đã quyết định cố ý cho Bonds walk khi các chốt đều có người, khiến Bonds trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Nap Lajoie (1901), Del Bissonette (1928) và Bill Nicholson (1944) được đối xử như vậy, với trường hợp đầu tiên xảy ra với Abner Dalrymple vào năm 1881.[107] Diamondbacks bấy giờ đang dẫn trước Giants 8–5, khi tay ném kết liễu Gregg Olson loại lượt đánh đầu tiên của trung vệ Darryl Hamilton, trước khi Giants đáp trả bằng cách lên đầy các chốt với hai walk và một cú hit trước khi hậu vệ phải Stan Javier có một cú ground out đẩy một điểm rút ngắn tỷ số xuống 8–6. Đội Giants tiếp tục lên đầy chốt sau khi tay đánh dự bị JT Snow được walk trước khi Showalter lệnh cho Olson cố ý cho Bonds walk, chấp nhận dồn về một điểm để tranh Bonds đối đầu cầu thủ bắt bóng Brent Mayne vào từ ghế dự bị. Mayne đã câu lượt đánh đến thế full count trước khi đánh bóng ra cánh phải ra out kết thúc trận đấu. Olson đã thực hiện một trong những pha cứu thắng kỳ lạ nhất có thể tưởng tượng được khi vượt qua sáu lần walk trong 1+1⁄3 hiệp ném với 49 quả tung ra (không tính số ném cố ý cho walk ở lượt của Bonds), và chỉ có 22 quả ra strike.[108][109][110][111]
Vào ngày 23 tháng 8, Bonds đã đánh cú home run thứ 400 trong sự nghiệp MLB của mình, qua đó trở thành cầu thủ đầu tiên và tới nay vẫn là duy nhất của "câu lạc bộ 400–400" với việc cán mốc 400 cú home run và 400 lần cướp chốt trong sự nghiệp.[112] Cú home run này được thực hiện trước Kirt Ojala, người đang khoác áo Marlins.[103] Kết thúc mùa giải, anh đạt tỷ lệ đánh bóng .303 với 37 cú home run và đánh về 122 điểm, cũng như lần thứ tám giành giải Găng tay vàng.[11] Anh đứng thứ tám trong cuộc bầu chọn MVP của NL.[113]
Năm 1999 đánh dấu thời điểm ít được ra sân nhất tính đến thời điểm đó trong sự nghiệp của Bonds. Bonds bắt đầu mùa giải 1999 với phong độ tốt với tỷ lệ đánh bóng .366, bốn cú home run và 12 RBI trong 12 lượt trận đầu tiên của Giants. Nhưng vào ngày 18 tháng 4, anh bị liệt vào danh sách chấn thương (15 ngày) lần thứ hai trong sự nghiệp, do bị rách gân ở cơ nhị đầu cũng như gai xương ở khuỷu tay. Cả hai chấn thương đều cần phẫu thuật và đã khiến anh phải nghỉ thi đấu tới hết tháng Năm.[114][115]
Sau khi trở lại thi đấu vào ngày 9 tháng 6, Bonds đã chật vật với phong độ đánh bóng thường thấy trong phần còn lại của mùa giải 1999. Một loạt các chấn thương dai dẳng ở khuỷu tay, đầu gối và háng đã cản trở lối chơi toàn diện của anh. Vào ngày 11 tháng 9 năm 1999, tại 3Com Park, trong trận thắng 3–2 trước Atlanta Braves, ở đầu hiệp thứ tư, Bonds đã ghi cú hit thứ 2000 trong sự nghiệp tại MLB, một cú hit đôi ra sâu cánh trái trước Tom Glavine, người sau này được ghi danh tại Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Quốc gia.[116][117] Dù chỉ đạt tỷ lệ đánh bóng .248 sau khi trở lại sau chấn thương, anh vẫn ghi được 34 cú home run, 83 RBI cùng tỷ lệ slugging .617 trong tổng 102 trận ra sân, và đứng thứ 24 trong cuộc bầu chọn MVP của NL.[11]
Nhà báo bóng chày Bill James đã xếp Bonds là cầu thủ xuất sắc nhất thập niên 1990, với thành tích bỏ xa người xếp thứ hai là Craig Biggio.[118] Năm 1999, khi xét thống kê tính đến năm 1997, Bonds xếp thứ 34, thứ hạng cao nhất cầu thủ còn đang thi đấu, trong danh sách 100 cầu thủ bóng chày vĩ đại nhất của The Sporting News.[119] Khi danh sách này được làm lại vào năm 2005, Bonds xếp thứ 6 sau Babe Ruth, Willie Mays, Ty Cobb, Walter Johnson và Hank Aaron. Tuy nhiên, Bonds lại không được bầu chọn vào Đội hình thế kỷ của Major League Baseball vào năm 1999, trong khi Ken Griffey Jr. được bầu chọn.[120] James đã viết về Bonds, "Đây chắc chắn là siêu sao bị đánh giá thấp tôi từng thấy. ... Griffey luôn được yêu thích hơn đấy, nhưng Bonds là cầu thủ xuất sắc hơn rất nhiều." Năm 1999, ông xếp Bonds là cầu thủ xuất sắc thứ 16 mọi thời đại, và dự đoán, "Khi mọi người bắt đầu nhìn lại tất cả những thành tựu của anh ta, Bonds rất có thể sẽ được xếp trong top năm cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử môn thể thao này."[4]
Mùa giải 2000
Năm 2000, Bonds đạt tỷ lệ đánh bóng .306, trong khi tỷ lệ slugging (.688) và số home run (49) đạt mức tốt nhất trong sự nghiệp ở thời điểm đó, chỉ trong 143 trận ra sân. Anh cũng dẫn đầu giải đấu với 117 lần walk,[11] và đứng thứ hai trong cuộc bầu chọn MVP của NL sau đồng đội ở vị trí chốt hai Jeff Kent, người sau này được ghi danh vào Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Quốc gia.[121][122][123]
Mùa giải 2001: Kỷ lục home run ghi trong một mùa giải
Năm 2001, thành tích tấn công của Bonds đạt đến một tầm cao mới, khi không chỉ phá vỡ kỷ lục cá nhân mà còn xô đổ một số kỷ lục tại Major League Baseball (MLB). Chỉ trong 50 trận đầu tiên của Giants vào năm 2001, anh đã đánh được 28 cú home run, bao gồm 17 cú trong tháng 5 - mức ghi trong một tháng cao nhất trong sự nghiệp.[124] Giai đoạn này cũng đáng dấu Bonds trở thành cầu thủ thứ 17 trong lịch sử cán cột mốc 500 home run tại MLB ghi vào ngày 17 tháng 4 trước Terry Adams của Los Angeles Dodgers. Sau cú home run thứ 500, cha anh là Bobby, đã đề nghị anh nên lưu giữ mọi cây chày anh đã sử dụng và đánh được home run, và anh đã làm theo.[125][126] Anh cũng lập kỷ lục MLB với 39 cú home run ghi được trước kỳ nghỉ All-Star, cũng như 177 lần walk trong một mùa giải, và có tỷ lệ lên chốt là .515, một kỳ tích chưa từng thấy kể từ Mickey Mantle và Ted Williams cách đó gần nửa thế kỷ. Tỷ lệ slugging của Bonds (.863) là cao thứ năm trong lịch sử MLB và cao nhất kể từ .868 của Josh Gibson vào năm 1943.[127]
(Bonds vung trúng, bóng ra xa cánh phải, xa lắm rồi. Là nó đó sao?! Kỷ lục mới đây rồi! Kỷ lục [home run] trong một mùa giải giờ là 71, và thuộc về Barry Bonds)
— lời bình luận của Gary Thorne, đài ESPN, trước cú home run thứ 71 của Bonds vào năm 2001[128]
Vào ngày 4 tháng 10, với cú home run trước Wilfredo Rodríguez trong lượt trận thứ 159 của mùa giải, Bonds đã san bằng kỷ lục 70 cú trong một mùa giải do Mark McGwire thiết lập vào năm 1998.[129][130] Sau đó, anh đã phá kỷ lục với cú home run thứ 71 và 72 vào trận đấy hôm sau trước Park Chan-ho.[131] Chung cuộc, kỷ lục của Bonds đã dừng ở con số 73, với cú ghi trước Dennis Springer vào ngày 7 tháng 10.[129][132] Quả bóng sau đó được bán cho nhà sản xuất đồ chơi Todd McFarlane với giá 450.000 đô la,[133] sau khi ông này cũng đã mua quả home run thứ 70 năm 1998 của Mark McGwire.[134] Bonds đã nhận được Giải thưởng Home Run Babe Ruth cho thành tích home run dẫn đầu MLB mùa giải đó.[135] Anh cũng đã giành được danh hiệu MVP NL với số phiếu áp đảo 30/32, trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử MLB có bốn lần giành danh hiệu MVP mùa giải.[136][137][138]
Mùa giải 2002
Ngày 15 tháng 1 năm 2002, Bonds đã gia hạn hợp đồng với Giants thêm 5 năm với trị giá 90 triệu đô la.[139] Anh đã đánh 5 cú home run trong 4 lượt trận đầu tiên của Giants, qua đó san bằng kỷ lục home run ghi được sau 4 trận đầu tiên của mùa giải của Lou Brock. Kết thúc mùa giải, anh đã giành quán quân đánh bóng của NL với mức trung bình cao nhất trong sự nghiệp là .370, và ghi được 46 cú home run, 110 RBI và chỉ 47 lần bị strikeout trong 403 lượt đánh.[11]
Mặc dù chơi ít hơn chín trận so với mùa giải trước, Bonds lập kỷ lục mới tại MLB khi đã nhận đến 198 lần walk; 68 trong số đó là cố ý để walk,[11] phá kỷ lục MLB 45 lần của Willie McCovey thiết lập vào năm 1969. Tỷ lệ slugging .799 của Bonds khi đó là cao thứ tư mọi thời đại và anh đã phá kỷ lục tỷ lệ lên chốt tại MLB của Ted Williams với .582. Bonds đạt OPS+ 268, và lạ thay lại cao hơn cả mùa giải phá kỷ lục home run năm 2001 của chính anh ở mức 259.[140] Bonds cũng đã cán mốc 600 home run trong sự nghiệp tại MLB vào ngày 9 tháng 8 trong trận tiếp đón đội bóng cũ Pittsburgh Pirates, trước tay ném Kip Wells,[141] chưa đầy một năm rưỡi sau khi ghi được cú home run thứ 500.[142][143][144]
Bonds đạt tỷ lệ đánh bóng .322 với tám cú home run, 16 RBI và 27 lần walk tại vòng playoff trên hành trình vào đến World Series. Tại World Series, Bonds đạt tỷ lệ đánh bóng .471 với tám cú đánh, hai cú double, bốn cú home run, sáu RBI và ghi tám điểm, cũng như 13 lần lần nhận walk (bảy lần cố ý). Tuy nhiên, anh và Giants đã thua chung cuộc trước Anaheim Angels trong bảy ván.[145]
Mùa giải 2003
Năm 2003, Bonds chỉ ra sân trong 130 trận. Anh ghi được 45 cú home run chỉ trong 390 lượt đánh, cùng tỷ lệ đánh bóng trung bình .341, tỷ lệ slugging .749, được 148 lần walk và có tỷ lệ lên chốt trên .500 (.529) trong năm thứ ba liên tiếp.[11] Cùng năm, anh cũng trở thành thành viên duy nhất của "câu lạc bộ 500 home run/500 lần cướp chốt" trong sự nghiệp với lần cướp chốt hai vào ngày 23 tháng 6 từ tay ném Éric Gagné trước đội mà Bonds đã ghi được cú home run thứ 500 là Los Angeles Dodgers ở hiệp thứ 11. Bonds đã ghi điểm số vàng chiến thắng trận đấu trong cùng hiệp đấu sau đó.[146]
Mùa giải 2004
Ngày 13 tháng 4 tại SBC Park, trong trận thắng 4–2 trước Milwaukee Brewers, Bonds đã đánh cú home run thứ 661 trong sự nghiệp MLB của mình ra mặt nước ngoài cánh phải, trước cú bóng biến hóa treo vào giữa của tay ném Ben Ford. Bonds qua đó đã vượt qua Mays để có nhiều home run thứ ba mọi thời đại sau Aaron và Ruth.[147][148][149] Ngày 4 tháng 7 tại SBC Park, trớ trêu thay trong trận đấu với Oakland Athletics, anh đã san bằng và vượt qua kỷ lục MLB của Rickey Henderson về số lần walk nhiều nhất trong sự nghiệp với lần thứ 2.190 và 2.191, lần lượt trước các tay ném Mark Mulder và Chad Bradford.[150][151][152] Ngày 17 tháng 9 tại SBC Park, trong trận thắng 4–1 trước San Diego Padres, Bonds đã trở thành cầu thủ thứ ba đạt cột mốc 700 home run trong sự nghiệp tại MLB với cú thứ 700 ghi được trước nhà vô địch World Series tương lai của Giants là Jake Peavy ra cánh trái đối diện, nâng tỷ số lên 4–0.[153][154][155][156][157]
Năm 2004 có lẽ là mùa giải tốt nhất trong sự nghiệp của Bonds. Bonds là cầu thủ đầu tiên và duy nhất trong lịch sử MLB đạt được số lần lên chốt nhiều hơn số lần đánh bóng trong một mùa giải, với 376 lần lên chốt trong 373 lần đánh. Anh đạt tỷ lệ đánh bóng .362 trên đường giành danh hiệu quán quân đánh bóng của National League (NL) lần thứ hai, và phá kỷ lục của chính mình với 232 lần walk (bao gồm kỷ lục MLB 120 lần được cố ý cho walk).[158] Anh đạt tỷ lệ slugging .812 cao thứ mười mọi thời đại, và phá kỷ lục tỷ lệ lên chốt của mình với mức .609. Bonds ghi được 45 cú home run và chỉ có 41 lần bị strike out, đưa anh vào nhóm những cầu thủ rất ưu tú có nhiều cú home run hơn số lần strike out trong một mùa giải. Đây cũng là lần cuối cùng mà một cầu thủ Giants đạt mốc 30 cú home run trong một mùa giải, trước khi đội đã lập kỷ lục MLB với 20 mùa giải liên tiếp không có ai đạt cột mốc trên từ năm 2005 đến năm 2024, trước khi chặn ngắn mới gia nhập Willy Adames chấm dứt tình trạng này vào ngày cuối cùng của mùa giải 2025.[159][160][161] Kết thúc mùa giải, Bonds giành được giải thưởng MVP thứ bảy trong sự nghiệp. Đây cũng là danh hiệu MVP mùa giải thứ tư liên tiếp của Bonds,[11][162] thành tích ngoài ra chỉ có duy nhất Ōtani Shōhei thiết lập kể từ khi giải thưởng MVP được trao lần đầu tiên vào năm 1931.[163][164][165] Bonds, ở tuổi 40, cũng đã phá kỷ lục của Willie Stargell để trở thành cầu thủ lớn tuổi nhất giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất tại các giải thuộc MLB.[162]
Trong bối cảnh Bonds ngày càng tiến gần đến kỷ lục của Aaron, Aaron được hỏi ý kiến về Bonds. Ông đã làm rõ rằng mình là một người ngưỡng mộ Bonds và né tránh lên tiếng về việc liệu kỷ lục có nên bị đề dấu hỏi vì cáo buộc doping của Bonds hay không. Ông cho rằng sự công nhận và tôn trọng đối với các danh hiệu này là do người hâm mộ quyết định.[166] Khi vụ bê bối steroid được thổi bùng trên truyền thông trong thời gian trước thềm mùa giải 2005, Aaron bày tỏ dè dặt về những tuyên bố của Bonds về vấn đề này. Aaron bày tỏ rằng ông thấy việc hành vi sử dụng doping steroid để tăng cường hiệu suất là không phù hợp, đồng thời tỏ ra thất vọng vì giới truyền thông không thể tập trung vào những gì xảy ra trên sân và mong muốn các cáo buộc về doping hay cá độ như các cáo buộc liên quan đến Pete Rose có thể ít bị thổi phồng hơn.[167] Năm 2007, Aaron cảm thấy toàn bộ hành vi sử dụng steroid là không thể chấp nhận được và tuyên bố rằng sẽ không có mặt bất kỳ trận đấu nào có thể phá kỷ lục.[168] Aaron sau đó đã chúc mừng Bonds thông qua các phương tiện truyền thông, bao gồm một video được chiếu trên bảng điểm khi Bonds cuối cùng đã phá kỷ lục của ông vào tháng 8 năm 2007.[169]
Mùa giải 2005
Bonds bước vào mùa giải 2005 với mức lương 22 triệu đô la, cao thứ hai tại Major League Baseball sau Alex Rodriguez của Yankees (25,2 triệu đô la).[170] Tuy nhiên, anh đã dính chấn thương đầu gối, trải qua nhiều cuộc phẫu thuật và quá trình phục hồi chức năng, và chỉ ra mắt mùa giải vào ngày 12 tháng 9 ở vị trí hậu vệ trái. Trong lần trở lại của anh ấy trong trận đấu với San Diego Padres, anh đã suýt đánh được một cú home run trong lần đánh bóng đầu tiên, để rồi kết thúc đêm đó với thành tích 1 hit trong 4 lượt đánh.[171] Tuy nhiên, Bonds quay lại phong độ đỉnh cao của mình trên mặt trận đánh bóng, ghi home run trong bốn trận liên tiếp từ ngày 18 đến 21 tháng 9,[172] và kết thúc mùa giải với tỷ lệ đánh bóng .286, năm cú home run và 10 RBI chỉ trong 14 trận ra sân.[11]
Mùa giải 2006
Năm 2006, Bonds có mức lương cao thứ tư tại MLB ở mức 20 triệu đô la (không bao gồm tiền thưởng),[170] nhưng lại có tỷ lệ đánh bóng trung bình dưới .200 trong 10 trận đầu tiên của mùa giải và không đánh được cú home run nào cho đến ngày 22 tháng 4, trở thành giai đoạn tịt ngòi home run dài nhất của anh kể từ mùa giải 1998.[173]
Ngày 20 tháng 5, Bonds san bằng thành tích home run nhiều thứ hai mọi thời đại của Babe Ruth với cú home run thứ 714 trong sự nghiệp trước Brad Halsey ở hiệp thứ hai trận đấu liên giải với đội Oakland Athletics.[174] Sau trận đấu, Bonds được ghi nhận nói rằng anh cảm thấy "vui vì nó [cuộc rượt đuổi kỷ lục của Ruth] đã kết thúc"[175] và rằng dư luận nay có thể chú ý nhiều hơn tới Albert Pujols, người đang có phong độ ghi home run rất cao vào đầu năm 2006.
Vào ngày 28 tháng 5, Bonds đã vượt qua Ruth, với cú home run thứ 715 trong sự nghiệp, trước tay ném Kim Byung-hyun của đội Colorado Rockies.[176][177] Quả bóng đánh ra bay ra xa ước tính 445 foot (140 m) ra trung lộ, bật qua tay của một số người hâm mộ nhưng sau đó rơi xuống một bục cao ở khán đài trung lộ, trước khi lăn xuống chỗ Andrew Morbitzer, 38 tuổi, người San Francisco, khi đang xếp hàng tại một quầy bán đồ ăn.[178]
Ngày 22 tháng 9, Bonds đã san bằng kỷ lục 733 cú home run trong sự nghiệp tại National League (NL) của Henry Aaron. Cú home run này diễn ra ở hiệp thứ sáu trận đấu làm khách của Milwaukee Brewers tại sân Miller Park. Cột mốc này đáng chú ý vì nó diễn ra tại chính thành phố nơi Aaron bắt đầu (với đội Milwaukee Braves) và kết thúc sự nghiệp của mình (với đội Brewers, khi đó thuộc American League). Khi Giants đang bị dẫn 10-8, chân chạy tại các chốt một-hai và một out, Bonds đã tung cú đánh mạnh ra khán đài trước Chris Spurling bên phía Brewers. Mặc dù lúc đó Giants còn rất ít cơ hội vào vòng play-off, cú home run của Bonds đã tạo thêm kịch tính cho trận đấu quan trọng trong cuộc đua vô địch khi giúp Giants dẫn trước 11-10 vào cuối trận. Cuối cùng, Brewers đã thắng trận với tỷ số 13–12, mặc dù Bonds đã có 3 cú hit trong 5 lượt, với hai cú hit đôi, cú home run lập kỷ lục và đánh về sáu điểm.[179]
Vào ngày 23 tháng 9, Bonds đã vượt qua Aaron để lập kỷ lục về số home run ghi trong sự nghiệp tại NL, một lần nữa với cú homer tại Milwaukee trước Chris Capuano của Brewers.[180] Đây là cú home run cuối cùng mà Bonds ghi được trong năm 2006, mùa giải anh ghi nhận tỷ lệ slugging (chỉ số anh đã luôn nằm trong số dẫn đầu giải đấu qua từng mùa giải) thấp nhất kể từ năm 1991 với Pittsburgh Pirates.[11] Vào tháng 1 năm 2007, tờ New York Daily News đưa tin rằng Bonds bị xét nghiệm dương tính với amphetamine.[181] Theo chính sách chất cấm tại MLB, có hiệu lực trong một mùa giải, những cầu thủ có kết quả xét nghiệm dương tính ma túy phải trải qua sáu lần xét nghiệm bổ sung và quá trình điều trị và tư vấn.[181] Chính sách này cũng gồm việc không được tiết lộ danh tính của cầu thủ xét nghiệm dương tính lần đầu, nhưng tờ New York Daily News đã làm rò rỉ kết quả xét nghiệm.[182] Khi Hiệp hội Cầu thủ (MLBPA) thông báo cho Bonds về kết quả xét nghiệm, ban đầu anh ta cho rằng đó là do một chất mà anh ta đã lấy từ tủ của đồng đội Mark Sweeney,[181][183] nhưng sau đó đã rút lại và công khai xin lỗi Sweeney.[184]
Mùa giải 2007: Kỷ lục home run
Vào ngày 29 tháng 1 năm 2007, đội Giants đã hoàn tất gia hạn hợp đồng với Bonds cho mùa giải 2007.[185] Sau khi văn phòng ủy viên từ chối thông qua hợp đồng một năm trị giá 15,8 triệu đô la của Bonds vì bao gồm điều khoản xuất hiện cá nhân, đội đã gửi bản sửa đổi cho người đại diện Jeff Borris, người đã tuyên bố rằng "Vào thời điểm này, Barry sẽ không ký bất kỳ văn bản nào mới."[186] Bonds đã ký hợp đồng sửa đổi một năm trị giá 15,8 triệu đô la vào ngày 15 tháng 2 và kịp có mặt tại trại tập huấn mùa xuân của Giants.[187]
Bonds tiếp tục hành trình hướng tới kỷ lục home run mọi thời đại ngay từ đầu mùa giải 2007. Trong trận mở màn mùa giải vào ngày 3 tháng 4, anh chỉ có được là một hit đơn ở hiệp đầu tiên xiên qua chốt ba khi hàng phòng ngự được điều sang phải, ngay sau đó là một cú cướp chốt và bị loại ở gôn nhà do lỗi chạy, trước khi đánh một cú ra fly out sân trái vào cuối trận.[188] Bonds đã xốc lại vào ngày hôm sau với cú home run thứ 735 trước Chris Young của San Diego Padres,[189][190] và đưa Bonds tiến sát kỷ lục của Aaron hơn với mức của Ruth. Bonds không có thêm cú home run nào cho đến ngày 13 tháng 4, khi anh đã đánh hai cú (thứ 736 và 737) trong trận đấu trước Pittsburgh Pirates mà anh ghi hit trong cả ba lượt đánh.[191] Bonds ghi cú home run thứ 738 trước tay ném Ryan Franklin của St. Louis Cardinals xuống nước vịnh McCovey vào ngày 18 tháng 4,[192] và các cú thứ 739 và 740 trong hai trận đấu liên tiếp vào ngày 21 và 22 tháng 4 trước đội Arizona Diamondbacks. [193] [194]
Không khí phấn khởi xung quanh việc Bonds theo đuổi kỷ lục home run đã leo thang vào ngày 14 tháng 5. Vào ngày này, Sports Auction for Heritage, một nhà đấu giá có trụ sở tại Dallas, đã đề nghị 1 triệu đô la Mỹ cho người hâm mộ nào bắt được cú homer thứ 756 phá kỷ lục của Bonds,[195] nhưng sau đã bị hủy bỏ vào ngày 11 tháng 6 vì lo ngại về sự an toàn của khán giả.[196] Cú homerun thứ 748 diễn ra vào Ngày của Cha 17 tháng 6, trong trận đấu cuối cùng của loạt ba trận trên sân khách trước đội Boston Red Sox[197][198][199] tại Fenway Park, nơi Bonds chưa từng chơi trước đó,[200] và nay trở thành sân vận động MLB thứ 36 chứng kiến Bonds đánh được home run. Anh đã đánh cú ném knuckleball của đồng đội cũ tại Pirates Tim Wakefield ra khu ném khởi động của Giants ở cánh phải. Cú home run thứ 750 trong sự nghiệp, được thực hiện vào ngày 29 tháng 6, cũng ghi trước một đồng đội cũ là Liván Hernández ở hiệp thứ tám và đã san bằng tỷ số 3–3.[201]
Ngày 19 tháng 7, sau chuỗi 21 lượt đánh không có hit, Bonds đã đánh hai cú home run, thứ 752 và 753, trước Chicago Cubs, trong tổng cộng ba lượt đánh đều có hit, sáu RBI và một lần walk trong ngày hôm đó, nhưng Giants sau đó vẫn thua trận với tỷ số 9–8.[202] Ngày 27 tháng 7, Bonds đã đánh cú home run thứ 754 vào trước Rick Van den Hurk của Florida Marlins. Sau đó, Bonds đã được walk trong bốn lượt đánh tiếp theo trong trận đấu, nhưng một cú homer hai điểm đã giúp Giants giành chiến thắng với tỷ số 12–10.[203] Vào ngày 4 tháng 8, Bonds đã san bằng kỷ lục mọi thời đại của Hank Aaron, với cú home run thứ 755, bay xa 382 foot (116 m) trước cựu cầu thủ Giants đang khoác áo San Diego Padres Clay Hensley.[204] Bonds đã chào đón con trai mình, Nikolai, bằng một cái ôm thật chặt sau khi về tới gôn nhà, trước khi đón lần lượt các đồng đội của mình và sau đó là vợ, Liz Watson, và con gái Aisha Lynn phía sau lưới an toàn trên khán đài.[204] Trớ trêu thay, Hensley, người thứ 445 để lọt home run trước Bonds, sau đó đã bị cấm thi đấu vào năm 2005 vì doping steroid.[205]
(Ba ball hai strike rồi, Bacsik giao bóng. Và Bonds đánh trúng, lên cao ... RA RẤT XA! VƯỢT RÀO RỒI! QUẢ THỨ 756! Bonds bước lên, và độc chiếm kỷ lục home run mọi thời đại. Một khoảnh khắc đặc biệt cho Barry Bonds, cho cả người hâm mộ có mặt tại San Francisco nữa. Đây rồi.)
— lời tường thuật cú home run thứ 756, phá kỷ lục MLB của Bonds, của BLV Duane Kuiper, đài FSN Bay Area[206]
Vào ngày 7 tháng 8 lúc 20:51 giờ TBD, tại sân Oracle Park (lúc đó được gọi là AT&T Park) ở San Francisco,[207] Bonds ghi cú home run thứ 756 trong sự nghiệp, trước tay ném xuất phát Mike Bacsik của Washington Nationals ra xa 435 foot (133 m), qua đó phá kỷ lục home run ghi được trong sự nghiệp do Hank Aaron nắm giữ.[208] Trùng hợp thay, cha của Bacsik (bấy giờ khoác áo cho Texas Rangers) cũng đã đối đầu với Aaron sau khi ông đánh cú home run thứ 755. Vào ngày 23 tháng 8 năm 1976, Michael J. Bacsik đã chỉ để Aaron ghi một cú hit đơn và một cú fly out ra cánh phải. Bacsik con sau đó nhận xét, "Nếu cha tôi đủ hào phóng để cho Hank Aaron đánh một cú home run, cả hai chúng tôi có thể đã để thủng cú thứ 756."[209] Sau khi đánh cú home run, Bonds đã tặng Bacsik một cây chày có chữ ký.[210]
Cú home run lịch sử đã đưa Giants dẫn trước 5–4. Khán giả nhặt được quả bóng, Matt Murphy, 22 tuổi đến từ Queens, New York và là một người hâm mộ Mets, đã nhanh chóng được cảnh sát San Francisco hộ tống ra khỏi đám đông bát nháo.[211] Pháo hoa nổ, và Bonds được con trai Nikolai, người bấy giờ làm nhặt bóng của Giants, ôm lấy khi anh chạm tới gôn nhà và chỉ tay lên trời. Bonds kết thúc cuốc chạy home run, và được các đồng đội, ban huấn luyện và gia đình ôm lấy trước khi trận đấu có mười phút gián đoạn, bao gồm một đoạn video ngắn của Aaron chúc mừng Bonds đã phá kỷ lục mình nắm giữ trong 33 năm,[212] và bày tỏ hy vọng rằng "thành tựu lục này sẽ truyền cảm hứng cho những người khác theo đuổi ước mơ của riêng họ."[212]
Bonds đã có một diễn văn ngẫu hứng trên sân, cùng cha đỡ đầu Willie Mays ở bên cạnh và cảm ơn người hâm mộ, đồng đội, gia đình, đối thủ Washington Nationals và người cha quá cố của anh "vì tất cả mọi thứ." [212] Ở đầu hiệp thứ sáu và không có ai bị loại, Bonds ra chơi hậu vệ trái và được thay bằng Dave Roberts trong một pha đổi người kép của huấn luyện viên Bruce Bochy. Bonds kết thúc trận đấu với thành tích có hit trong cả ba lượt đánh và chỉ cách một cú cycle một cú hit ba, điều mà anh chưa từng làm được ở MLB. Giants thua trận đấu với tỷ số 8–6. Bonds đã tham gia họp báo với giới truyền thông sau trận đấu. Khi được hỏi liệu kỷ lục có bị vấy bẩn hay không, Bonds, phát biểu sau trận đấu trên bục và né tránh một câu hỏi về steroid, nói rằng "Kỷ lục này hoàn toàn không bị vấy bẩn, hoàn toàn không, thế thôi."[213]
Ủy viên bóng chày Bud Selig đã không có mặt trong trận đấu này nhưng được đại diện bởi Phó Chủ tịch điều hành hoạt động bóng chày Jimmie Lee Solomon. Lần lượt Selig và Tổng thống George W. Bush đã gọi cho Bonds tối hôm đó và ngày hôm sau để chúc mừng anh đã phá kỷ lục.[214][215][216] [217] Vào ngày 24 tháng 8, San Francisco đã vinh danh những thành tựu trong sự nghiệp của Bonds và việc phá kỷ lục home run bằng một cuộc mít tinh lớn tại Quảng trường Justin Herman. Cuộc mít tinh bao gồm các thông điệp trên video từ Lou Brock, Ernie Banks, Ozzie Smith, Joe Montana, Wayne Gretzky và Michael Jordan. Tiếp đó đã diễn ra nhưng bài diễn văn của Willie Mays, các đồng đội của Bonds tại Giants là Omar Vizquel và Rich Aurilia, và chủ sở hữu CLB Giants Peter Magowan. Thị trưởng Gavin Newsom cũng đã trao cho Bonds chìa khóa Thành phố và Quận San Francisco và phó chủ tịch của Giants, Larry Baer, đã tặng Bonds chiếc gôn nhà mà anh ấy đã bước qua vào sau khi đánh cú home run thứ 756.[218]
Quả bóng lập kỷ lục đã được gửi đến một nhà đấu giá vào ngày 21 tháng 8,[219] và phiên đấu giá bắt đầu vào ngày 28 tháng 8 và kết thúc với giá thầu thắng cuộc 752.467 đô la Mỹ vào ngày 15 tháng 9 sau một cuộc đấu giá trực tuyến ba vòng.[220] Người trả giá cao nhất, nhà thiết kế thời trang Marc Ecko, đã tạo ra một trang web để người hâm mộ quyết định số phận của nó.[221] Sau đó, [222] Ben Padnos, người đã đưa ra giá thắng thầu 186.750 đô la cho quả bóng đánh home run thứ 755 của Bonds, cũng đã lập một trang web để người hâm mộ quyết định số phận của nó. [223] Vào ngày 26 tháng 9 năm 2007, ngày mà Bonds chơi trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp Major League Baseball của mình, 10 triệu cử tri đã biểu quyết Ecko gắn dấu hoa thị lên quả bóng và gửi nó đến Bảo tàng và Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Quốc gia.[224][225] Về hành động của Ecko, Bonds nói "Anh ta đã chi 750.000 đô la cho quả bóng và đó là những gì anh ta đang làm với nó? Thật ngu ngốc."[226] Mặt khác, Padnos đã bán quảng cáo trong 5 năm trên trang web www.endthedebate.com, nơi mọi người bỏ phiếu với tỷ lệ hai trên một cho việc đập vỡ quả bóng.[227]
Vào ngày 15 tháng 9 năm 2007, tại sân Petco Park, Bonds đã đánh một hit đơn kẻ ra trung lộ trước tay ném đồng đội cũ Brett Tomko, cú hit thứ 2.935 và cũng là cú hit cuối cùng trong sự nghiệp của anh tại Giải bóng chày nhà nghề Mỹ. "Tomko đã ném vào ngay giữa và Bonds đã đánh ra bay cách đầu Tomko khoảng 1,5 mét," bình luận viên thể thao của Giants, Duane Kuiper, tường thuật.[228][229][230] Vào ngày 21 tháng 9 năm 2007, tại AT&T Park, Tổng Giám đốc Brian Sabean và Giám đốc điều hành, đối tác quản lý, chủ sở hữu và Chủ tịch CLB Peter Magowan, đã thông báo rằng Giants sẽ không gia hạn hợp đồng với Bonds cho mùa giải 2008.[231][232][233][234] Câu chuyện này được công bố đầu tiên trên trang web riêng của Bonds vào đầu ngày hôm đó.[235][236][237] Vào ngày 26 tháng 9 năm 2007, tại AT&T Park, sau khi bỏ lỡ 10 trận đấu trước đó, Bonds đã chơi trận đấu thứ 2.986 và cuối cùng trong sự nghiệp MLB của mình, trong đó Bonds không có hit nào trong ba lượt đánh bóng Jake Peavy, tay ném xuất phát của San Diego Padres và là người sau đó đoạt giải Tam vương giao bóng NL năm 2007 và giải thưởng Cy Young NL, sau khi để Bonds ghi cú home run thứ 700 trong sự nghiệp Major League ba năm trước đó.[238][239][240]
Bonds kết thúc mùa giải 2007 với tỷ lệ đánh bóng .276, 28 home run và 66 RBI trong 126 trận ra sân và 340 lượt đánh. Ở tuổi 43, ông dẫn đầu MLB ở ba hạng mục với 132 lần walk, tỷ lệ lên chốt .480 và 43 lần cố ý được cho walk. Ông là cầu thủ duy nhất trong mùa giải cuối cùng của mình dẫn đầu MLB ở từng hạng mục trên.[11] Trong sự nghiệp 15 mùa giải tại San Francisco Giants, Bonds đã đạt được tỷ lệ đánh bóng .312, 1.951 cú hit và các kỷ lục của kỷ nguyên thời kỳ tại San Francisco của CLB về số cú home run và số điểm đánh về với lần lượt 586 lần và 1.440 điểm.
Sự nghiệp tổng thể
Số liệu thống kê và thành tựu
| Chú giải | |
|---|---|
| In đậm | Dẫn đầu mọi thời đại |
| Thống kê | Năm | WAR | G | AB | R | H | 2B | 3B | HR | TB | XBH | RBI | SB | BB | AVG | OBP | SLG | OPS | IBB | FLG% | Ref. |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tổng cộng | 22 | 162,8 | 2.986 | 9.847 | 2.227 | 2.935 | 601 | 77 | 762 | 5.976 | 1.440 | 1.996 | 514 | 2.558 | .298 | .444 | .607 | 1,051 | 688 | .984 | [241] |
Những tranh cãi
Vụ bê bối BALCO
Kể từ năm 2003, Bonds là một nhân vật chủ chốt trong vụ bê bối Hợp tác xã Phòng thí nghiệm Vùng Vịnh (BALCO), đơn vị đã tiếp thị tetrahydrogestrinone ("the Clear"), một loại steroid đồng hóa tăng hiệu suất không thể phát hiện được bằng các xét nghiệm doping. Ông bị một bồi thẩm đoàn liên bang điều tra về lời khai của mình trong vụ BALCO và bị truy tố về tội khai man và cản trở thực thi pháp luật vào ngày 15 tháng 11 năm 2007.[242] Bản cáo trạng cáo buộc Bonds đã nói dối khi tuyên thệ về việc sử dụng steroid của mình.[243]
Năm 2003, Greg Anderson, một thành viên BALCO và là huấn luyện viên của Bonds từ năm 2000, đã bị bồi thẩm liên bang tại Tòa án quận Bắc California truy tố và buộc tội cung cấp steroid đồng hóa cho các vận động viên, bao gồm một số cầu thủ bóng chày. Điều này dẫn đến suy đoán rằng Bonds đã sử dụng doping trong thời điểm không có kiểm tra bắt buộc tại Major League Baseball. Bonds tuyên bố mình vô tội, cho rằng vóc dáng thay đổi và sức mạnh tăng lên của anh là do chế độ tập luyện thể hình, ăn kiêng nghiêm ngặt và các chất bổ sung hợp pháp.[244]
Trong lời khai trước bồi thẩm đoàn vào ngày 4 tháng 12 năm 2003,[245] Bonds nói rằng ông đã sử dụng một chất trong suốt và một loại kem thoa nhận được từ huấn luyện viên thể lực cá nhân Greg Anderson, người nói với ông rằng đó là dầu hạt lanh bổ sung dinh dưỡng và một loại dầu xoa bóp trị viêm khớp.[246] Các báo cáo sau này về lời khai bị rò rỉ của Bonds trước bồi thẩm đoàn cho rằng anh ta đã thừa nhận vô tình sử dụng "the cream" và "the Clear".[244]
Vào ngày 22 tháng 2 năm 2005, trong một cuộc họp báo về vụ bê bối, Bonds đã nói với các phóng viên có mặt. "Tất cả các người đều nói dối," Bonds nói. "Tất cả các người liên quan trong câu chuyện hay bất cứ điều gì đều đã nói dối. Các người có thêm dấu thị sau tên của mình không? Tất cả các người đều nói dối. Tất cả đều đã nói điều gì đó sai trái. Tất cả đều có những điều xấu xa. Tất cả các anh. Lo mình trong sạch trước rồi hãy đến chất vấn người khác. Nhưng hãy làm bản thân trong sạch trước đi, được chứ?"[247][248][249] Vào tháng 7 năm 2005, cả bốn bị cáo trong vụ án steroid BALCO, bao gồm Anderson, đã đạt được thỏa thuận với các công tố viên liên bang trong đó không yêu cầu họ tiết lộ tên các vận động viên có thể sử dụng chất doping.[250]
Rút giấy phép hình ảnh khỏi Hiệp hội cầu thủ
Năm 2003, Bonds rút khỏi thỏa thuận cấp phép hình ảnh tập thể của Hiệp hội Cầu thủ MLB (MLBPA) vì cảm thấy việc thỏa thuận tiếp thị độc lập sẽ sinh lời tốt hơn cho anh. Bonds là cầu thủ đầu tiên trong lịch sử 30 năm của chương trình cấp phép hình ảnh rút lui.[251] Với việc rút lui này, tên và hình ảnh của anh không thể được sử dụng trong bất kỳ sản phẩm nào được MLBPA cấp phép. Để sử dụng tên hoặc hình ảnh của anh, các công ty phải đàm phán trực tiếp với Bonds. Vì lý do này, anh không xuất hiện trong một số trò chơi điện tử bóng chày, buộc các nhà sản xuất trò chơi phải tạo ra các vận động viên chung chung để thay thế, thường có thiết kế là người da trắng và đôi khi có tay thuận khác nhằm tránh các vụ kiện tiềm tàng về hình ảnh từ Bonds.[252][253]
Di sản
Bonds được đề cập trong bài hát có tựa đề cùng tên "Barry Bonds" của rapper, nhạc sĩ và nhà sản xuất âm nhạc Kanye West, trong album phòng thu thứ ba của mình là Graduation, phát hành vào ngày 11 tháng 9 năm 2007. Bài hát này, bài thứ bảy trong album, có sự góp mặt của Lil Wayne.[254]
We outta here, baby!
We outta here, baby!
We outta here, baby!
— Kanye West (cùng Lil Wayne), Graduation (11 tháng 9, 2007)[255]
Xem thêm
- Ō Sadaharu - người nắm kỷ lục thế giới về số home run ghi được tại một giải đấu chuyên nghiệp
- Hank Aaron - nắm giữ kỷ lục home run tại Major League Baseball trước Barry Bonds
- Danh sách cầu thủ dẫn đầu số home run tại Major League Baseball
- Danh sách cầu thủ dẫn đầu số lần lên chốt do ball tại Major League Baseball
- Danh sách cầu thủ dẫn đầu số hit tại Major League Baseball
- Danh sách cầu thủ dẫn đầu số hit vượt chốt tại Major League Baseball
- Danh sách cầu thủ dẫn đầu số double tại Major League Baseball
- Danh sách cầu thủ dẫn đầu tỷ lệ lên chốt tại Major League Baseball
- Danh sách cầu thủ dẫn đầu số điểm đánh về tại Major League Baseball
- Danh sách cầu thủ dẫn đầu tỷ lệ lên chốt cộng slugging tại Major League Baseball
- Danh sách cầu thủ thế hệ thứ hai tại Major League Baseball
- Danh sách cầu thủ Major League Baseball bị nêu tên trong Báo cáo Mitchell
Tài liệu tham khảo
- ^ "Famous birthdays for July 24: Barry Bonds, Rose Byrne". United Press International. ngày 24 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2023.
- ^ "Barry Bonds's agent says slugger's career is over". ESPN. ngày 10 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
- ^ Johnston, Joey (tháng 9 năm 2004). "Barry Bonds: the best ever? Giants slugger will forever be compared to the greatest major league players and his numbers will rank him as the top performer of his era". Baseball Digest. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2008 – qua FindArticles.
- ^ a b James, Bill (2003). The New Bill James Historical Baseball Abstract. New York: Free Press. ISBN 0-7432-2722-0. as cited at Christensen, Chris (2006). "Five Books for a Deserted Island". Elysian Fields Quarterly. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ "Aaron: Bonds Is Greatest Of All Time". NBC Sports. MSNBC. ngày 31 tháng 8 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2013.
- ^ "ESPN's Hall of 100 – Ranking the all-time greatest MLB players". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2013.
- ^ "100 Greatest Baseball Players by The Sporting News: A Legendary List by Baseball Almanac". Baseball Almanac. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2013.
- ^ "Barry Bonds Stats, Height, Weight, Position, Rookie Status & More". Baseball Reference (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Year-by-Year Top-Tens Leaders & Records for On-Base Plus Slugging". Baseball Reference (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
- ^ "Barry Bonds » Statistics » Batting". FanGraphs. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t "Barry Bonds Statistics". Baseball Reference. ngày 28 tháng 10 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2007.
- ^ "Bonds charters 500-500 club". Deseret News (bằng tiếng Anh). Associated Press. ngày 25 tháng 6 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2019.
- ^ "My favorite Barry Bonds stat is still that he's the only member of the 400 homer/400 steal club and the only member of the 500 homer/500 steal club". Twitter (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2019 – qua @CespedesBBQ.
- ^ "Career Leaders & Records for WAR Position Players". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2023.
- ^ "Batting Leaders; Career". FanGraphs. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2014.
- ^ "Barry Bonds convicted of obstruction of justice in performance-enhancing-drugs case". Los Angeles Times. ngày 13 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011.
- ^ Egelko, Bob (ngày 22 tháng 4 năm 2014). "Appeals court overturns Barry Bonds's obstruction conviction". SFGate. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2015.
- ^ Blinn, Michael (ngày 26 tháng 1 năm 2021). "Baseball Hall of Fame vote: Schilling, Bonds, Clemens come up short". New York Post. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2021.
- ^ Berry, Adam (ngày 24 tháng 1 năm 2018). "Bonds climbs, still short of Hall of Fame". MLB.com. MLB Advanced Media. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2018.
- ^ "Complete 2022 Hall of Fame voting results". MLB.com. MLB Advanced Media. ngày 25 tháng 1 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2022.
- ^ Passan, Jeff (ngày 23 tháng 1 năm 2019). "Why Barry Bonds and Roger Clemens aren't getting into the Hall of Fame". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2020.
- ^ "Lawyer: Bonds didn't know he used steroids". The Washington Post. ngày 22 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Barry Bonds". Encyclopædia Britannica. 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2007.
- ^ DiGiovanna, Mike (ngày 7 tháng 10 năm 2001). "Easy Does It". Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ Almond, Elliott (ngày 3 tháng 6 năm 2007). "Childhood Bonds". Times-Herald. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ a b c d e f g "Player Profile: Barry Bonds 25". MLB.com. MLB Advanced Media. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2007.
- ^ "2nd Round of the 1982 MLB June Amateur Draft". Baseball Reference (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ^ Christensen, Arne (ngày 5 tháng 11 năm 2009). "The San Francisco Giants Drafting Barry Bonds In 1982". Bleacher Report. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010.
- ^ "Athletics Hall of Fame". Junipero Serra High School. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ Hicks, Kevin (ngày 17 tháng 6 năm 2025). "Greatest Arizona State Baseball Players Ever". Arizona State Sun Devils On SI. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ a b Stewart, James (2011). Tangled Webs: How False Statements are Undermining America: From Martha Stewart to Bernie Madoff. New York City: Penguin Group. ISBN 978-1-59420-269-8.
- ^ "#1 in College Sports". CSTV. ngày 27 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010.
- ^ "The Alaska Goldpanners of Fairbanks". Alaska Goldpanners of Fairbanks. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008.
- ^ "Sun Devil Hall of Fame". Arizona State University. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Sun Devil Hall of Fame (Baseball)". Arizona State University. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ "1st Round of the 1985 MLB June Amateur Draft". Baseball Reference (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ^ Finoli, David; Rainer, Bill (2003). The Pittsburgh Pirates Encyclopedia. United States: Sports Publishing. tr. 262. ISBN 978-1-58261-416-8. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ^ "Barry Bonds minor league statistics & history". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ^ Moran, Malcolm (ngày 24 tháng 7 năm 1988). "Baseball; Young Pirates Bring Out That Old Fan Spirit". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
- ^ "Los Angeles Dodgers vs Pittsburgh Pirates Box Score: May 30, 1986". Baseball Reference (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 5 năm 1986. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ^ Muder, Craig. "Henry Aaron hits home run No. 715 | Baseball Hall of Fame". baseballhall.org. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Hank Aaron breaks Babe Ruth's all-time home run record | April 8, 1974". HISTORY (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ "The night Aaron passed Ruth with HR No. 715". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Barry Bonds' first Major League home run | 06/04/1986". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ Curry, Jack (ngày 13 tháng 5 năm 2006). "Hundreds of Homers Later, a Pitcher Remembers No. 1". The New York Times. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2022.
- ^ Gardner, Dakota (ngày 4 tháng 6 năm 2015). "Watch Barry Bonds hit his very first big league home run". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ "1986 National League Rookie of the Year Award". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ a b "Baseball; Pirates Top Phillies; Set Crowd Record". The New York Times. Associated Press. ngày 12 tháng 4 năm 1988. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
- ^ a b Meyer, Paul (ngày 13 tháng 8 năm 2004). "Barry Bonds: How a prospect became baseball's premier player". Casper Star-Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
- ^ Kepner, Tyler (ngày 7 tháng 1 năm 2007). "An Appreciation; Worth Watching, From Start to Finish". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
- ^ "1989 National League Fielding Leaders". Baseball Reference (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Bucs Won't Send Bonds To Dodgers". Lawrence Journal-World. Associated Press. ngày 22 tháng 12 năm 1989. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010 – qua Google News Archive.
- ^ "Pirates Deny Bonds Trade for Wetteland, Hamilton". Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). Associated Press. ngày 22 tháng 12 năm 1989. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2025.
- ^ "San Diego Padres vs Pittsburgh Pirates Box Score: July 12, 1990". Baseball-Reference.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
- ^ "SD@PIT: Bonds takes Benes deep for his 100th homer". MLB.com (video). ngày 22 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ "Bonds hits his 100th career home run". ngày 2 tháng 12 năm 2013 – qua YouTube.
- ^ "1990 National League Most Valuable Player Award". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ Wittenmyer, Gordon (ngày 7 tháng 8 năm 2024). "Fast company: Look who's in the elite club Cincinnati Reds SS Elly De La Cruz just joined". The Cincinnati Enquirer. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2024 – qua AOL.
- ^ "1990 Pittsburgh Pirates Statistics". Baseball-Reference.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ "1991 National League Most Valuable Player Award". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ Chass, Murray (ngày 11 tháng 3 năm 2006). "Before Balco, Bonds Was Almost a Brave". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015.
- ^ "1992 National League Most Valuable Player Award". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ "Sid Bream's modern-day "mad dash" wins the pennant for Atlanta". MLB.com. MLB Advanced Media. ngày 14 tháng 10 năm 1992. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2007.
- ^ Vecsey, George (ngày 16 tháng 10 năm 1992). "Sports of The Times; The Pirates Lost a Series, Not Respect". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
- ^ Newhan, Ross (ngày 21 tháng 3 năm 1993). "No Complaints: Jim Leyland Has Lost the Heart of His Team, but the Pirates' Manager Is Taking It in Stride". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015.
- ^ Singer, Tom (ngày 28 tháng 9 năm 2013). "After long drought, playoffs return to Pittsburgh". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ Harrigan, Thomas (ngày 3 tháng 10 năm 2022). "Longest playoff droughts in Wild Card era". MLB.com. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ "How did these teams do after ending long playoff droughts?". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ Newhan, Ross (ngày 19 tháng 11 năm 1992). "Bonds Gets a Sweet Severance Check : Baseball: Free agent is owed $250,000 by the Pirates after his second most valuable player award in three years". Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ Curry, Jack (ngày 3 tháng 12 năm 1992). "Baseball; Yankees Withdraw Rich Offer To Bonds". The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ Shanks, Bill (ngày 7 tháng 4 năm 2020). "What if the Braves had gotten Bonds instead of Maddux?". Sports Illustrated. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ Chass, Murray (ngày 6 tháng 12 năm 1992). "Giants Make Investment: $43 Million in Bonds". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008.
- ^ Chesterton, Eric (ngày 6 tháng 12 năm 2017). "25 years ago, Barry Bonds signed with the Giants -- and got even better". MLB.com. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ Shea, John (ngày 23 tháng 9 năm 2007). "Did Giants' special treatment of Bonds contribute to messy end?: Pampered slugger delivered, but there was a big downside". SFGate. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
- ^ Pearlman, Jeff (ngày 18 tháng 4 năm 2006). Love Me, Hate Me: Barry Bonds and the Making of an Antihero. HarperCollins. tr. 143. ISBN 978-0-06-079752-2. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
bobby bonds number 25 barry.
- ^ "Barry Bonds". The Baseball Page. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
- ^ Newhan, Ross (ngày 9 tháng 12 năm 1992). "Baseball Winter Meetings : Giants Finally Get Their Bonds : Contract: He is guaranteed a record $43.75 million for six years, plus fringe benefits that include hotel suite on road". Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ Chass, Murray (ngày 9 tháng 12 năm 1992). "Baseball; Bonds and the Giants Come to an Agreement". The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ^ Stone, Larry (ngày 9 tháng 12 năm 1992). "Bonds now a part of the family". San Francisco Examiner. tr. B-4. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2022 – qua Newspapers.com.
- ^ Weinrib, Ben (ngày 22 tháng 2 năm 2018). "Bobby Bonds first ever with five 30-30 seasons". MLB.com (bằng tiếng Anh). MLB Advanced Media. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Atlanta Braves vs San Francisco Giants Box Score: April 18, 1993". Baseball-Reference.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2026.
- ^ "Braves vs Giants (4-18-1993)". ngày 28 tháng 1 năm 2023 – qua YouTube.
- ^ "GIANTS WIN BUT GET PELTED BY OWN FANS". Deseret News. Associated Press. ngày 19 tháng 4 năm 1993. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ Archives, L. A. Times (ngày 13 tháng 5 năm 1993). "NATIONAL LEAGUE ROUNDUP : Ejections for Bonds, Father in Giant Win". Los Angeles Times.
- ^ "Bonds, and Dad, Are Ejected". The New York Times. Associated Press. ngày 13 tháng 5 năm 1993. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Can Bud Black Fix The Rockies?". 5280. ngày 28 tháng 3 năm 2017.
- ^ "San Francisco Giants vs Philadelphia Phillies Box Score: July 8, 1993". Baseball-Reference.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.
- ^ "July 8th, 1993 -Giants vs Phillies". ngày 25 tháng 6 năm 2021 – qua YouTube.
- ^ "Barry Bonds hits his 200th career MLB HR | July 8, 1993 | Giants @ Phillies". ngày 8 tháng 7 năm 2025 – qua YouTube.
- ^ "1993 National League Most Valuable Player Award". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ "San Francisco Giants cap season to remember, secure National League West crown on final day". www.espn.com.
- ^ "'Pretty amazing' Giants claim NL West crown". MLB.com.
- ^ Brisbee, Grant (ngày 4 tháng 10 năm 2021). "How the 2021 San Francisco Giants were built" – qua NYTimes.com.
- ^ Smith, Claire (ngày 4 tháng 10 năm 1993), BASEBALL; The Braves Have 104 Reasons to Celebrate (bằng tiếng Anh), ISSN 0362-4331, truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2026
- ^ "The Last Real Race". www.espn.com.
- ^ "1994 National League Most Valuable Player Award". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ "1995 National League Most Valuable Player Award". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ Everett, Todd (ngày 28 tháng 12 năm 1993). "Review: 'Cbs Sunday Movie Jane's House'". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015.
- ^ Leonard, John (ngày 3 tháng 1 năm 1994). "The Sporting Goods Life". New York. 27 (1): 54 – qua Google Books.
- ^ "The 40–40 Club: (Recorded 40 HRs and 40 SBs in a single season)". MLB.com. MLB Advanced Media. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010.
- ^ Eagle, Ed (ngày 29 tháng 12 năm 2023). "40-40 club: 40 steals, 40 homers in a season". MLB.com. MLB Advanced Media. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2023.
- ^ Goff, Steven (ngày 17 tháng 9 năm 2006). "Soriano Reaches 40–40 Mark". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ a b "1996: Bonds bashes, runs into history". San Francisco Giants. MLB.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ Smith, Claire (ngày 17 tháng 5 năm 1996). "Baseball: Bonds loses rage, but not the swing". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ "1996 National League Most Valuable Player Award". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ "1997 National League Most Valuable Player Award". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ "Intentional bases on balls records". Baseball Almanac. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2008.
- ^ "#TBT: When Buck walked Barry ... with the bases loaded". ESPN.com (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ Monagan, Matt (ngày 28 tháng 5 năm 2015). "Let's watch manager Buck Showalter intentionally walk Barry Bonds with the bases loaded". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ Apstein, Stephanie (ngày 28 tháng 5 năm 2020). "An Oral History of Barry Bonds's Intentional Walk With the Bases Loaded". SI (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ Kleinschmidt, Jessica (ngày 27 tháng 10 năm 2020). "Showalter explains infamously walking Bonds with bases loaded". NBC Sports Bay Area & California (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Bonds Begins 400-400 Club". CBS News (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2021.
- ^ "1998 National League Most Valuable Player Award". Baseball Reference. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ Chass, Murray (ngày 21 tháng 4 năm 1999). "BASEBALL; Bonds Joins the Long List Of Stars Who Are Injured". The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018.
- ^ "Barry Bonds". Baseball Prospectus (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018.
- ^ "Atlanta Braves vs San Francisco Giants Box Score: September 11, 1999". Baseball-Reference.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ "Bonds Grabs 2000th Hit In Win - CBS News". www.cbsnews.com. ngày 11 tháng 9 năm 1999.
- ^ "James on Biggio, Me on James". MLBlogs. ngày 27 tháng 2 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ "Baseball's 100 Greatest Players". Baseball Almanac. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ "All Century Team". Baseball Almanac. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ "Kent Beats Bonds for NL MVP Award". ABC News.
- ^ "Giants Kent, Bonds go 1-2 in voting". www.espn.com.
- ^ Schulman, Henry (ngày 17 tháng 11 năm 2000). "Kent's MVP, Too / 2nd baseman beats out Bonds". SFGATE. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ "Bonds career HR log". CBS Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Los Angeles Dodgers vs San Francisco Giants Box Score: April 17, 2001". Baseball Reference (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 4 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Bonds hits 71st, 72nd homers as Giants get eliminated". Sports Illustrated. CNN. ngày 5 tháng 10 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Single-Season Leaders & Records for Slugging %". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2025.
- ^ Sandomir, Richard (ngày 9 tháng 10 năm 2001). "TV SPORTS; Home Run Calls Have a Hollow Ring". The New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ a b "2001 Home Run Tracker". MLB.com. MLB Advanced Media. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010.
- ^ Shuttlesworth, Chris (ngày 5 tháng 10 năm 2001). "A Giant Mark for Bonds: 70". MLB.com. MLB Advanced Media. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ^ Schlegel, John (ngày 6 tháng 10 năm 2001). "72: Barry breaks record, and then some". MLB.com. MLB Advanced Media. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2001. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ^ Shuttlesworth, Chris (ngày 7 tháng 10 năm 2001). "Bonds hits 73rd, Giants win season finale". San Francisco Giants. MLB.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2001. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Bonds' homer ball sells for $450,000". Tampa Bay Times (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
- ^ Bean, Matt (ngày 7 tháng 10 năm 2002). "Trial scheduled to begin over historic Bonds home run ball". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010.
- ^ Syken, Bill (ngày 9 tháng 5 năm 2006). "Conspicuous absence". Sports Illustrated. CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2012.
- ^ Fletcher, Jeff (ngày 17 tháng 11 năm 2004). "Barry Bonds wins 4th straight MVP - BBWAA".
- ^ Hermoso, Rafael (ngày 20 tháng 11 năm 2001). "BASEBALL; Bonds Is Voted M.V.P. A Record Fourth Time" – qua NYTimes.com.
- ^ "Bonds becomes first four-time MVP". www.espn.com.
- ^ "Bonds agrees to dlrs 90 million, five-year contract with Giants". HighBeam Research. Associated Press. ngày 15 tháng 1 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010.
- ^ Svoboda, Dylan (ngày 14 tháng 11 năm 2025). "Players who won unanimous MVP Awards". MLB.com. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ "Barry Bonds Stats, Age, Position, Height, Weight, Fantasy & News". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Pittsburgh Pirates at San Francisco Giants (box score)". ESPN. ngày 9 tháng 8 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Bonds's 600th blast not enough to beat Bucs". ESPN. Associated Press. ngày 9 tháng 8 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010.
- ^ Grann, David (ngày 1 tháng 9 năm 2002). "Baseball Without Metaphor". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ "2002 World Series - Anaheim Angels over San Francisco Giants (4-3)". Baseball Reference (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2023.
- ^ "Bonds's big night steals win for Giants". ESPN. Associated Press. ngày 23 tháng 6 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ "Bonds hits solo shot in seventh off Ford". ESPN. Associated Press. ngày 13 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Bonds Hits 661st Home Run (Published 2004)". The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ Shea, John. "661 / Bonds' HR one-ups Mays / Slugger stands alone at No. 3". SFGATE (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Bonds Ties Henderson's Major League Walks Record". The Washington Post (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 7 năm 2004. ISSN 0190-8286. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Bradford, Mulder both walk slugger". ESPN. Associated Press. ngày 4 tháng 7 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Bonds breaks MLB walk record". CBC Sports. ngày 5 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2026.
- ^ "San Diego Padres at San Francisco Giants (box score)". ESPN. ngày 17 tháng 9 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Giants hold half-game lead on Cubs". ESPN. Associated Press. ngày 17 tháng 9 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Bonds Hits Home Run No. 700 (Published 2004)". The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Under the Weight of 700, Bonds Returns Home to Lift His Growing Legend (Published 2004)". The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ "For Bonds, It's 700 Gone and 56 to Go (Published 2004)". The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Single-Season Leaders & Records for Intentional Bases on Balls". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2025.
- ^ Baggarly, Andrew (ngày 28 tháng 9 năm 2025). "Willy Adames becomes first Giant to hit 30 home runs since Barry Bonds in 2004". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ Guardado, Maria (ngày 29 tháng 9 năm 2025). "Willy Adames has Giants' first 30-homer season since Barry Bonds". MLB.com. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ Pavlovic, Alex; Insider • •, Giants (ngày 28 tháng 9 năm 2025). "Willy Adames becomes first Giants player since Barry Bonds to hit 30 home runs in full season". NBC Sports Bay Area & California (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ a b Draper, Rich (ngày 15 tháng 11 năm 2004). "Bonds wins fourth straight NL MVP". MLB.com. MLB Advanced Media. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Shohei Ohtani wins fourth MVP award, joining Barry Bonds as only player with more than three". Los Angeles Times. ngày 14 tháng 11 năm 2025.
- ^ Ardaya, Fabian (ngày 14 tháng 11 năm 2025). "Dodgers' Shohei Ohtani unanimously wins fourth MVP award". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ Gonzalez, Alden (ngày 14 tháng 11 năm 2025). "Dodgers' Ohtani becomes 4-time unanimous MVP". ESPN.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
- ^ Anderson, Dave (ngày 7 tháng 4 năm 2004). "Sports of The Times; Aaron Will Let the Fans Judge Bonds". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008.
- ^ "HOF and asterisks not up to Aaron". ESPN. ngày 6 tháng 12 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008.
- ^ "If Bonds breaks HR record, Aaron 'won't be there'". ESPN. Associated Press. ngày 22 tháng 5 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008.
- ^ Nightengale, Bob (ngày 7 tháng 8 năm 2007). "Bonds blasts No. 756 to take over top spot". USA Today. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008.
- ^ a b "Highest Career Total and Single-Season Salaries". Baseball Reference. ngày 27 tháng 9 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Giant comeback: Bonds 1-for-4 in winning return". ESPN. Associated Press. ngày 12 tháng 9 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ "Barry Bonds 2005 Batting Game Logs". Baseball Reference (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Bonds goes opposite field for career No. 709". ESPN. Associated Press. ngày 22 tháng 4 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ "Bonds reels in Babe, blasts home run No. 714". ESPN. ngày 20 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ Bloom, Barry M. (ngày 20 tháng 5 năm 2006). "Bonds ties Ruth with homer No. 714". Barry Bonds. MLB.com. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2007.
- ^ "Bonds's milestone homer not enough vs. Rockies". ESPN. ngày 28 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ Miller, Scott (ngày 28 tháng 5 năm 2006). "Bonds hits No. 715, passes Ruth as Giants fall to Rockies". CBS SportsLine. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2007.
- ^ Estrella, Cicero A.; Schevitz, Tanya (ngày 29 tháng 5 năm 2006). "THE BALL / He went for peanuts, and came back with a chance for a fortune". SFGate. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008.
- ^ "Bonds ties Aaron's NL HR mark, but Giants fall to Brewers". ESPN. Associated Press. ngày 22 tháng 9 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Bonds hits NL-record 734th HR, but Giants lose again". ESPN. Associated Press. ngày 23 tháng 9 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ a b c "Report: Bonds used 'speed'". New York Post. ngày 11 tháng 1 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Report: Bonds failed amphetamine test". ESPN. Associated Press. ngày 11 tháng 1 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2007.
- ^ Quinn, T.J. (ngày 11 tháng 1 năm 2007). "Caught in the act". Sports Illustrated. CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2007.
- ^ Schulman, Henry (ngày 20 tháng 2 năm 2007). "Sweeney: It's 'over and done': Giants don't expect another apology from Bonds". SFGate. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2007.
- ^ Bloom, Barry M. (ngày 29 tháng 1 năm 2007). "Bonds, Giants agree to deal". San Francisco Giants. MLB.com. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Agent: Bonds won't sign revised contract right now". Chicago Sun-Times. ngày 1 tháng 2 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2007 – qua FindArticles.
- ^ Bloom, Barry M. (ngày 21 tháng 2 năm 2007). "Bonds reports to Spring Training". San Francisco Giants. MLB.com. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ^ McCauley, Janie (ngày 3 tháng 4 năm 2007). "San Diego 7, San Francisco 0 (recap)". Yahoo Sports. Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2007.
- ^ McCauley, Janie (ngày 5 tháng 4 năm 2007). "San Diego 5, San Francisco 3 (recap)". Yahoo Sports. Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2007.
- ^ "San Diego 5, San Francisco 3 (box score)". Yahoo Sports. Associated Press. ngày 5 tháng 4 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2007.
- ^ "San Francisco 8, Pittsburgh 5 (recap)". Yahoo! Sports. Associated Press. ngày 13 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2007.
- ^ "Hounding "The Hammer"". CBS News. ngày 11 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2024.
- ^ "San Francisco 1, Arizona 0 (recap)". Yahoo Sports. Associated Press. ngày 21 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2007.
- ^ "San Francisco 2, Arizona 1 (recap)". Yahoo! Sports. Associated Press. ngày 22 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2007.
- ^ "Auction house willing to buy 756 ball for $1M". ESPN. ngày 14 tháng 5 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2007.
- ^ "Auction house withdraws $1M bounty on No. 756". ESPN. Associated Press. ngày 12 tháng 6 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2007.
- ^ Kepner, Tyler (ngày 29 tháng 10 năm 2007). "Boston Sweeps World Series Again" – qua NYTimes.com.
- ^ "Red Sox win World Series again, dominate MLB in all areas - The Boston Globe". BostonGlobe.com.
- ^ "2007 World Series recap". MLB.com.
- ^ "Bonds hits first Fenway homer in loss to Red Sox". ESPN. Associated Press. ngày 17 tháng 6 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2007.
- ^ "Bonds is 5 homers shy of Aaron's mark after loss in 10th". ESPN. Associated Press. ngày 29 tháng 6 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2007.
- ^ McCauley, Janie (ngày 19 tháng 7 năm 2007). "Chi Cubs 9, San Francisco 8 (recap)". Yahoo Sports. Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Bonds pulls within one of Aaron's all-time mark with 754th career homer". ESPN. Associated Press. ngày 27 tháng 7 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2007.
- ^ a b "Bonds ties Aaron with No. 755, but Pads win in 12". ESPN. Associated Press. ngày 4 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2007.
- ^ Crowe, Jerry (ngày 7 tháng 8 năm 2007). "Bonds' clay pigeon had his own shadowy history". Los Angeles Times (bằng tiếng Anh).
- ^ "Thanks, Hall: Bonds' 756 Ball Not Accepted". Bleacher Report.
- ^ "Bonds breaks Aaron's record". YouTube. MLB. ngày 24 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2016.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Bonds turns page to new era with home run No. 756". ESPN. Associated Press. ngày 7 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Unlike father, Bacsik can't prevent home run No. 756". The Union Democrat. Associated Press. ngày 8 tháng 8 năm 2007. tr. B5. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025 – qua Google News Archive.
- ^ Bloom, Barry M. (ngày 8 tháng 8 năm 2007). "Bonds New King of Swing After No. 756". The Salem News. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Queens man in San Francisco for one day catches famous ball". ESPN. Associated Press. ngày 9 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2007.
- ^ a b c Kriegel, Mark (ngày 8 tháng 8 năm 2007). "Bonds's historic journey too good to be true". Fox Sports. MSN. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Bonds Hits No. 756 to Break Aaron's Record (Published 2007)" (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- ^ Curry, Jack (ngày 8 tháng 8 năm 2007). "Bonds completes rocky journey to break record". International Herald Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
- ^ "Bonds moves into eternity, assumes MLB home run record". ESPN. Associated Press. ngày 7 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
- ^ Bloom, Barry B. (ngày 8 tháng 8 năm 2007). "Bonds receives presidential congrats". San Francisco Giants. MLB.com. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
- ^ "President Bush called Bonds on Tuesday to congratulate him on 756". ESPN. Associated Press. ngày 8 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007.
- ^ Wildermuth, John (ngày 25 tháng 8 năm 2007). "San Francisco honors Barry Bonds for Giant accomplishments". SFGate. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
- ^ Bulwa, Demian (ngày 21 tháng 8 năm 2007). "Bonds ball catcher will put souvenir up for auction". SFGate. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2010.
- ^ Wildermuth, John (ngày 16 tháng 9 năm 2007). "Going, going – gone! Record-breaking Bonds ball nets $752,467". SFGate. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
- ^ "Buyer of 756th Home Run Ball Will Let You Decide Fate". Sports Collectors Daily. ngày 17 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
- ^ Moredich, John (ngày 17 tháng 9 năm 2007). "Bounce: UA lines up pitching help for 2009". Tucson Citizen. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ^ Hoffarth, Tom (ngày 17 tháng 9 năm 2007). "You could blow the Bonds HRs balls up real good". Los Angeles Daily News. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010.
- ^ "Baseball: Barry Bonds' No. 756 to be branded with an asterisk (Published 2007)" (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- ^ Celizic, Mike (ngày 26 tháng 9 năm 2007). "Verdict in: Bonds ball headed for Cooperstown: But with an asterisk. Marc Ecko shares the results of 10 million-fan vote". MSNBC. TODAY. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ^ Schulman, Henry (ngày 19 tháng 9 năm 2007). "Bonds's Ecko: 'stupid'". SFGate. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Settle The Score On The Barry Bonds Controversy!". EndTheDebate. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ^ "SF@SD: Barry Bonds' final hit in the Major Leagues | 09/15/2007". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ^ MLB (ngày 1 tháng 8 năm 2018). Barry Bonds' final hit in the Major Leagues. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- ^ Murphy, Bryan (ngày 15 tháng 9 năm 2018). "Barry Bonds' final hit". McCovey Chronicles (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Bonds won't return with Giants for '08, team confirms". ESPN. Associated Press. ngày 21 tháng 9 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Kawakami: Giants make the right move – one year late". The Mercury News (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ^ Schulman, Henry (ngày 21 tháng 9 năm 2007). "Barry Bonds' career as a Giant - maybe a player - measured in days". SFGATE (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Bonds Goes From Out of the Park to Out of a Job (Published 2007)" (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Barry Bonds Says Goodbye To S.F. Giants - CBS News". www.cbsnews.com (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Baseball: Giants tell Barry Bonds he won't be back in 2008 (Published 2007)" (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ^ Covill, Tom (ngày 21 tháng 9 năm 2007). "Where does Barry Bonds go from here?". Yahoo Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2007.
- ^ Appel, Allan (ngày 26 tháng 9 năm 2007). "Bonds plays final game as Giant". East Bay Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Mixed emotions from home fans as Bonds says goodbye". SFGate. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- ^ Schulman, Henry. "Quiet end to an era". SFGATE (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Barry Bonds Stats, Height, Weight, Position, Rookie Status & More". Baseball-Reference.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- ^ Williams, Larry (ngày 15 tháng 11 năm 2007). "Barry Bonds indicted on 4 perjury counts, obstruction of justice". SFGate. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2007.
- ^ "Barry Bonds indictment" (PDF). SFGate. ngày 15 tháng 11 năm 2007. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2007.
- ^ a b "Bonds testified that substances didn't work". ESPN. ngày 3 tháng 12 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2008.
- ^ "BALCO leaker Ellerman gets 2½ years in prison". ESPN. Associated Press. ngày 12 tháng 7 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2008.
- ^ Williams, Lance; Mark Fainaru-Wada (ngày 3 tháng 12 năm 2004). "What Bonds told BALCO grand jury". San Francisco Chronicle. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2007.
- ^ "Complete transcript of Bonds news conference". ESPN.com (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ^ "BARRY TAKES HIS CUTS – RIPS MEDIA FOR STEROIDS CONTROVERSY" (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ^ Schulman, Henry (ngày 23 tháng 2 năm 2005). "'IT'S TIME TO MOVE ON' / Bonds brushes off steroid questions, praises baseball's new drug rules". SFGATE. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ^ Fainaru-Wada, Mark & Williams, Lance (ngày 16 tháng 7 năm 2005). "40 of 42 BALCO charges dropped – Steroid lab owner, Bonds's trainer guilty in plea deal". SFGate. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2008.
- ^ Rovell, Darren (ngày 17 tháng 11 năm 2003). "Bonds will be individually licensed". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2008.
- ^ Elman, Jake (ngày 10 tháng 4 năm 2020). "Steroid Connections Aren't Why Barry Bonds Wasn't in Baseball Video Games". Sportscasting (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2021.
- ^ Rovell, Darren (ngày 6 tháng 4 năm 2004). "Bonds flexes his muscles". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010.
- ^ Reid, Shaheem (ngày 14 tháng 8 năm 2007). "Kanye West And Lil Wayne Counting On 'Barry Bonds' For A Hit Single". MTV (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2023.
- ^ "Kanye West (Ft. Lil Wayne) – Barry Bonds". Genius. ngày 11 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
Liên kết ngoài
- Thống kê sự nghiệp và thông tin cầu thủ tại MLB, hoặc ESPN, hoặc Baseball-Reference, hoặc Fangraphs, hoặc Baseball-Reference (Minors)
- Barry Bonds trên Baseball Almanac
- Barry Bonds trên IMDb
| Giải thưởng và thành tích | ||
|---|---|---|
| Tiền nhiệm Ryne Sandberg Barry Larkin Howard Johnson Gary Sheffield Dante Bichette Mike Piazza Luis Gonzalez Sammy Sosa Larry Walker Albert Pujols Jim Thome Jim Edmonds |
Cầu thủ xuất sắc nhất tháng tại National League tháng 7, 1990 tháng 7, 1991 tháng 4, 1992 tháng 9, 1992 & tháng 4, 1993 tháng 4, 1996 tháng 7, 1997 tháng 5, 2001 tháng 9, 2001 tháng 8, 2002 tháng 7, 2003 tháng 4, 2004 tháng 8, 2004 |
Kế nhiệm David Justice Will Clark Félix José Jeff Bagwell Jeff Bagwell Mike Piazza Luis Gonzalez Vladimir Guerrero Brian Jordan Vladimir Guerrero Lance Berkman Adrián Beltré |
| Kỷ lục | ||
| Tiền nhiệm Mark McGwire |
Số home run ghi trong một mùa giải Major League Baseball 2001 – nay |
Giữ hiện tại |
| Tiền nhiệm Rickey Henderson |
Nắm kỷ lục số lần walk nhiều nhất tại Major League Baseball 2004 – nay | |
| Tiền nhiệm Hank Aaron |
Số home run ghi được tại Major League Baseball 2007 – nay | |
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ
- Trang có lỗi kịch bản
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Cầu thủ Pittsburgh Pirates
- National League All-Stars
- Cầu thủ bóng chày người Mỹ gốc Phi
- Nhân vật còn sống
- Sinh năm 1964
- Vụ doping trong bóng chày
- Cầu thủ xuất sắc nhất National League
- Người California
- Cầu thủ San Francisco Giants
- Vận động viên California
- Vận động viên bóng chày liên quan tới doping
- Quán quân đánh bóng National League
- Cầu thủ giành Găng tay vàng Major League Baseball
- Cầu thủ giành Giải thưởng Silver Slugger
- Thể loại:Mô tả ngắn khác với Wikidata
- Quán quân home run National League
- Quán quân RBI National League
- 30-30 club
- Vận động viên Hoa Kỳ thế kỷ 21
- Vận động viên Hoa Kỳ thế kỷ 20
- Hậu vệ trái Major League Baseball
- Thể loại:Bài có mô tả ngắn